Ý NGHĨA CỦA VIỆC ĐỌC SÁCH
Ỷ thiên đồ long ký

- 0 / 0
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: Nguyễn Thị Hoa
Ngày gửi: 15h:23' 30-04-2024
Dung lượng: 5.9 MB
Số lượt tải: 1
Nguồn:
Người gửi: Nguyễn Thị Hoa
Ngày gửi: 15h:23' 30-04-2024
Dung lượng: 5.9 MB
Số lượt tải: 1
Số lượt thích:
0 người
Ỷ THIÊN ĐỒ LONG KÝ
Thư viện ebook: Sách Mới.Net
01
02
03
04
05
06
07
08
09
10
11
12
13
14
15
16
17
18
19
20
21
22
23
24
25
26
27
28
29
30
31
32
33
34
35
36
37
38
39
40
Thiên nhai tư quân bất khả vong
Võ Đương sơn đính tùng bách trường
Bảo đao bách luyện sinh huyền quang
Tự tác tang loạn ý bàng hoàng
Hạo tí tự ngọc Mai Hoa Trang
Phù Tra Bắc Minh Hải Mang Mang
Thùy Tống Băng Khả Lai Tiên Hương
Cùng phát thập tải phiếm qui hàng
Thất hiệp tụ hội lạc vị ương
Bách tuế thọ yến tồi can trường
Hữu nữ trường thiệt lợi như thương
Châm kỳ cao hề dược kỳ hoang
Bất hối trọng tử du ngã tường
Đương đạo thời kiến trung sơn lang
Kỳ mưu bí kế mộng nhất trường
Bác cực nhi phục tham Cửu Dương
Thanh dực xuất một nhất tiếu dương
Ỷ Thiên trường kiếm phi hàn mang
Họa khởi tiêu tường phá kim thang
Dữ tử cộng huyệt tương phù tương
Bài nạn giải phân đương lục cường
Quần hùng qui tâm ước tam chương
Linh phù túy khách lục liễu trang
Thái cực sơ truyền nhu khắc cương
Cử hỏa liệu thiên hà hoàng hoàng
Tuấn mạo ngọc diện cam hủy thương
Bách xích cao tháp nhiệm hồi tường
Ân đoạn nghĩa tuyệt Tử Sam vương
Tứ nữ đồng chu hà sở vọng
Đông tây vĩnh cách như sâm thương
Đao kiếm tề thất nhân vân vong
Oan mông bất bạch sầu dục cuồng
Tiêu trường cầm đoản y lưu hoàng
Tiêu trường cầm đoản y lưu hoàng
Đồ sư hữu hội thục vi ương
Yêu kiều tam tùng uất thanh thương
Thiên hạ anh hùng mạc năng đương
Quân tử khả khi chi dĩ phương
Bí cập binh thư thử trung tàng
Bất thức Trương lang thị Trương lang
01
Thiên nhai tư quân bất khả vong
Chữ tình buộc lấy chữ sầu,
Chân trời góc biển tìm đâu bây giờ
Xuân du hạo đãng, thị niên niên hàn thực, lê hoa thời tiết.
Bạch cẩm vô văn hương lạn mạn, ngọc thụ quỳnh bao đôi tuyết.
Tĩnh dạ trầm trầm, phù quang ái ái, lãnh mạn dung dung nguyệt.
Nhân gian thiên thượng, lạn ngân hà chiếu thông triệt.
Hồn tự cô xạ chân nhân, thiên tư linh tú, ý khí thù cao khiết.
Vạn nhị sâm sai thùy tín đạo, bất dữ quần phương đồng liệt.
Hạo khí thanh anh, tiên tài trác lạc, hạ thổ nan phân biệt.
Dao đài qui khứ, động thiên phương khán thanh tuyệt.
Tiết trời lạnh hoa lê đang rộ,
Khách nhàn du lãng đãng chơi xuân.
Hương thơm bay tỏa không gian,
Cành cây trắng xóa lộc non nở đầy.
Ánh trăng lạnh canh khuya thanh tĩnh,
Chiếu trên cao thấp thoáng sông ngân.
Tâm tình một vẻ miên man,
Trời cho tính khí cao sang vẻ người.
Chen lẫn vẻ muôn hoa rực rỡ,
Vẻ thanh cao vẫn tự vươn cao.
Thanh anh trác lạc hơn người,
Dẫu trong ngọc đá có chiều nọ kia.
Dao đài ai kẻ đi về,
Hương trời đôi lứa đã kề bên nhau.
Bài từ "Vô Tục Niệm" này vốn là của một vị võ học danh gia, cũng là một đạo sĩ
ở vào cuối đời Nam Tống họ Khưu tên Xứ Cơ, đạo hiệu Trường Xuân Tử. Ông
là một trong Toàn Chân thất tử và là nhân vật xuất sắc của phái Toàn Chân.
Trong "Từ Phẩm" đã bình về bài từ này như sau:
"Trường Xuân, người đời vẫn coi là một vị tiên, nên lời từ mới hay và xuất sắc
đến thế"
Bài từ tuy nói về hoa lê, nhưng thật ra chính là để ca tụng một thiếu nữ xinh
đẹp mặc áo trắng, coi nàng "thực không phải người phàm, thiên tư linh tú, khí
độ cao khiết", lại nói nàng "hạo khí thanh anh, tiên tài trác lạc", "bất dĩ quần
phương đồng liệt" (không giống như những người khác). Người con gái đẹp
mô tả trong bài từ này, chính là truyền nhân của phái Cổ Mộ, Tiểu Long Nữ.
Nàng vốn ưa mặc đồ trắng, chẳng khác gì gió thổi qua cây ngọc, đóa quỳnh
nở trong tuyết, chỉ hiềm tính khí lạnh lùng, nên mới tả hình dung là "lãnh mạn
dung dung nguyệt". Khưu Xứ Cơ tặng nàng ba chữ "Vô Tục Niệm" thật mười
phần xác đáng.
Trường Xuân Tử Khưu Xứ Cơ ở ngay bên cạnh nàng tại Chung Nam Sơn, một
lần gặp mặt nên viết ra bài từ này. Lúc bấy giờ Khưu Xứ Cơ tạ thế đã lâu, Tiểu
Long Nữ cũng đã làm vợ Thần Điêu đại hiệp Dương Quá.
Trên sơn đạo núi Thiếu Thất, tỉnh Hà Nam, có một thiếu nữ, đang cúi đầu lẩm
nhẩm bài từ này. Cô gái ước chừng mười tám, mười chín tuổi, mặc áo màu
vàng nhạt, cưỡi một con lừa đen, đi chầm chậm lên núi, vừa đi vừa nghĩ thầm:
"Chỉ có người như Long tỉ tỉ mới xứng đáng lấy được chàng mà thôi".
Chữ "chàng" hiển nhiên là nói đến Thần Điêu đại hiệp Dương Quá. Cô gái lỏng
dây cương, cứ để cho con lừa tự ý, thẳng đường lên núi. Một lúc lâu sau, cô lại
lẩm bẩm:
"hoan lạc thú, ly biệt khổ,
tựu trung cánh hữu si nhi nữ.
Quân ứng hữu ngữ, diểu vạn lý tằng vân,
thiên sơn mộ tuyết, chích ảnh hướng thùy khứ?"
Gặp nhau lòng những vui vầy,
Xa nhau dạ những luống đầy khổ đau.
Cõi tình mê đắm ai đâu?
Chim kia thiếu bạn tiếng sầu lẻ loi.
Từng mây muôn dặm xa xôi,
Núi cao tuyết trắng nơi nơi cũng là.
Một mình cô tịch gần xa,
Trăm năm bến cũ biết là về đâu?
Cô gái lưng đeo đoản kiếm, sắc mặt có nhuốm đôi chút phong trần, hiển nhiên
đã viễn du lâu ngày. Gương mặt xinh tươi, đang ở vào tuổi vô tư lự, nhưng sao
dung nhan như có gì muộn phiền, đầu mày cuối mắt không thể che giấu được.
Nàng họ Quách, tên chỉ có một chữ Tương, chính là con thứ của đại hiệp
Quách Tĩnh và nữ hiệp Hoàng Dung, còn có ngoại hiệu là Tiểu Đông Tà. Nàng
một lừa, một kiếm, lang thang một mình, những tưởng phiền muộn trong lòng
vơi đi, ai ngờ sầu lại thêm sầu, nơi danh sơn lẻ bóng lại càng hiu quạnh.
Núi Thiếu Thất thuộc tỉnh Hà Nam cũng khá cao, đường lên núi là những bậc
thang bằng đá rộng rãi, qui mô lớn lao, công trình không phải nhỏ, là do vua
Đường Thái Tông đến thăm chùa Thiếu Lâm mà bỏ ra tạo dựng, dài cả thảy
tám dặm. Quách Tương cưỡi lừa uể oải trèo lên, thấy trước mặt từ ngọn trên
núi ào ào đổ xuống năm dòng thác tung tóe như ngọc, lại nhìn những ngọn
núi khác chỉ nhỏ như đàn kiến. Theo đường sơn đạo chuyển vào một khúc
quanh, thì thấy một tòa tự viện tường vàng ngói xanh.
Nàng đứng ngắm dãy chùa một hồi, nghĩ thầm: "Thiếu Lâm tự vốn là nguồn
gốc võ học của thiên hạ, nhưng sao hai kỳ luận kiếm Hoa Sơn, trong số ngũ
tuyệt không thấy cao tăng nào của chùa Thiếu Lâm cả? Không lẽ hòa thượng
trong chùa không tài cán gì, sợ mất uy danh, nên không dám phó hội? Hay là
tăng lữ tu hành tinh thâm, không còn tham luyến hư danh, võ công tuy cao,
nhưng không muốn tranh cường đổ thắng với người ngoài?".
Nàng xuống lừa, lững thững đến trước cửa chùa, chỉ thấy cây cối rậm rạp,
bóng râm che phủ một khu rừng bia. Bia đá quá nửa đã bị hủy phá, nét chữ
mơ hồ, không biết viết những gì. Nàng nghĩ thầm: "Chữ khắc sâu trên đá, theo
năm tháng cũng mòn, thế nhưng sao những gì khắc trong tim ta, thời gian
càng lâu càng sâu đậm?".
Chợt thấy một tấm bia lớn khắc việc Đường Thái Tông ban cho chùa Thiếu
Lâm ngự trát, khen tăng nhân về việc lập công trừ loạn. Trong bia nói là khi
Đường Thái Tông còn là Tần Vương, đem binh đánh Vương Thế Sung, hòa
thượng chùa Thiếu Lâm đầu quân, xuất sắc nhất có cả thảy mười ba người.
Trong số đó chỉ có Đàm Tông nhận phong làm Đại Tướng Quân, còn mười hai
người còn lại không muốn làm quan, Đường Thái Tông ban cho mỗi người một
áo cà sa bằng lụa tía. Nàng tưởng tượng ngay từ thời Tùy Đường mà võ công
chùa Thiếu Lâm đã danh vang thiên hạ, mấy trăm năm nay lại càng thêm tinh
xảo, không biết trong chùa có bao nhiêu ngọa hổ tàng long.
Quách Tương từ khi chia tay với vợ chồng Dương Quá, Tiểu Long Nữ ở trên
đỉnh Hoa Sơn tới giờ đã ba năm không nghe chút tin tức gì của hai người.
Trong lòng mong nhớ, nàng thưa với cha mẹ, nói là muốn đi ngao du sơn thủy,
nhưng thực ra là để nghe ngóng tin tức của Dương Quá. Nàng thực tâm cũng
chẳng cần phải gặp mặt cặp vợ chồng này, chỉ cần nghe tin họ hành hiệp ra
sao cũng đã thỏa mãn. Thế nhưng từ khi từ biệt, hai người không lộ diện
giang hồ, chẳng biết ẩn cư nơi nào. Thành thử Quách Tương đi từ bắc xuống
nam, lại từ đông sang tây, tưởng chừng đã đặt chân quá nửa đất trung
nguyên, thủy chung vẫn không nghe thấy ai nói đến Thần Điêu đại hiệp
Dương Quá cả.
Một hôm nàng đến đất Hà Nam, chợt nhớ ra chùa Thiếu Lâm có một nhà sư
tên Vô Sắc là bạn thân của Dương Quá, hồi mình sinh nhật mười sáu tuổi, nể
mặt họ Dương nên ông đã sai người đem tặng một món quà. Tuy chưa bao giờ
gặp mặt nhà sư này nhưng cũng nên lên hỏi thử một câu, biết đâu ông ta lại
rõ tung tích của hai người. Vì thế Quách Tương mới lên chùa Thiếu Lâm.
Đang lúc xuất thần, bỗng nghe thấy từ chòm cây bên cạnh rừng bia truyền ra
tiếng leng keng, loảng xoảng và tiếng người niệm kinh Phật:
Thị thời Dược Xoa cộng vương lập yếu, tức ư vô lượng bách thiên vạn ức đại
chúng chi trung, thuyết thắng diệu già tha viết: do ái cố sinh ưu, do ái cố sinh
bố; nhược li ư ái giả, vô ưu diệc vô bố ...
(Khi đó Thế Tôn đứng giữa thiên vạn ức người mà giảng rằng: Vì yêu mà sinh
ra buồn phiền, vì yêu mà sinh ra sợ hãi, nếu như dứt được yêu, chẳng buồn
cũng chẳng sợ ...)
Quách Tương nghe bốn chữ kệ đó, bỗng thấy ngơ ngẩn, trong lòng cũng
nhẩm theo: "do ái cố sinh ưu, do ái cố sinh bố; nhược li ư ái giả, vô ưu diệc vô
bố". Chỉ nghe thấy tiếng loảng xoảng cùng tiếng tụng kinh xa dần.
Quách Tương cúi đầu: "Để ta hỏi ông ta làm cách nào có thể thoát khỏi tình
yêu, làm cách nào để không buồn không sợ?".
Thuận tay nàng buộc lừa vào một gốc cây, vạch lùm cây đuổi theo. Chỉ thấy
đằng sau tàn cây là một đường mòn lên núi, có một tăng nhân gánh một đôi
thùng lớn, đang đi chầm chậm. Quách Tương rảo bước chạy theo, đến cách
nhà sư chừng bảy, tám trượng, bỗng giật mình. Chỉ thấy người đó gánh một
đôi thùng sắt lớn, so với thùng gánh nước thường phải hơn gấp đôi, vậy mà
trên cổ, cánh tay, cẳng chân còn quấn quít đầy xích lớn, mỗi khi đi đứng tiếng
kêu loảng xoảng. Hai chiếc thùng không cũng đã đến hơn hai trăm cân, trong
lại đầy nước, phải nặng đến kinh người. Quách Tương kêu lên: -Đại hòa
thượng, xin dừng chân, tiểu nữ có điều muốn thỉnh giáo.
Nhà sư đó quay đầu lại, hai người nhìn nhau, đều tỏ vẻ ngạc nhiên. Hóa ra vị
hòa thượng đó là Giác Viễn, ba năm trước, hai người đã gặp nhau tại đỉnh Hoa
Sơn. Quách Tương biết ông ta tuy tính hơi cổ hủ nhưng nội công tinh thâm,
không kém bất cứ cao thủ nào hiện thời, nên nói: -Tưởng ai hóa ra là Giác
Viễn đại sư. Tại sao ông lại ra nông nỗi này?
Giác Viễn khẽ gật đầu, mỉm cười, chắp tay hành lễ, nhưng không trả lời, quay
mình bước đi. Quách Tương vội gọi: -Giác Viễn đại sư, ông không nhận ra tôi
sao? Tôi là Quách Tương đây mà!
Giác Viễn quay lại mỉm cười, khẽ gật đầu nhưng không ngừng bước. Quách
Tương lại hỏi: -Ai lấy xích buộc ông vậy? Sao lại hành hạ ông như thế?
Giác Viễn đưa tay trái ra sau đầu xua xua mấy cái, như ám chỉ cô ta đừng hỏi
nhiều.
Quách Tương thấy chuyện kỳ quái, lẽ nào không tìm cho ra đầu đuôi? Lập tức
cất bước đuổi theo, tính sẽ chặn trước mặt nhà sư. Nào ngờ Giác Viễn tuy toàn
thân đầy xích, lại gánh đôi thùng sắt, vậy mà dẫu Quách Tương hết sức chạy,
thủy chung vẫn không vượt qua được ông ta. Tính trẻ con của cô gái nổi lên,
thi triển khinh công gia truyền, hai chân nhún một cái, người bay vọt lên, vươn
tay chụp vào thùng nước. Mắt trông tưởng ra tay ắt sẽ trúng, nào ngờ vẫn còn
cách đến hai tấc. Quách Tương kêu lên: -Đại hòa thượng giỏi thật, nhất định
tôi phải đuổi kịp ông mới thôi.
Chỉ thấy Giác Viễn rảo bước đi, tiếng xích sắt leng keng như tiếng nhạc, mỗi
lúc một xa về phía sau núi.
Quách Tương đuổi theo một lúc hơi thở đã dồn dập, thế nhưng vẫn cách ông
ta đến hơn một trượng, trong lòng không khỏi bội phục: "Cha mẹ ta lúc ở trên
núi Hoa Sơn, đã từng nói là vị hòa thượng này võ công cực cao, lúc đó ta
không tin, đến nay thử một chuyến, thấy lời hai ông bà quả thật không sai".
Chỉ thấy Giác Viễn quẹo vào đằng sau một ngôi nhà nhỏ, đổ hai thùng nước
vào trong một miệng giếng. Quách Tương hết sức kỳ quái, kêu lên: -Đại hòa
thượng, ông không điên đấy chứ? Đổ nước vào trong giếng để làm gì thế?
Giác Viễn thần sắc bình hòa, lắc đầu. Quách Tương chợt hiểu ra, cười: -À, hóa
ra ông đang luyện một môn nội công rất cao thâm.
Giác Viễn lại lắc đầu lần nữa. Quách Tương hơi bực mình, nói: -Rõ ràng tôi
nghe ông tụng kinh, tức không bị câm, sao bây giờ không trả lời tôi?
Giác Viễn chắp tay chào, vẻ mặt hơi sượng sùng, không đáp lời, quảy đôi
thùng đi xuống chân núi. Quách Tương thò đầu nhìn vào trong giếng, chỉ thấy
nước trong vắt, không thấy điểm gì đặc biệt, ngẩn ngơ nhìn theo lưng Giác
Viễn, lòng đầy nghi hoặc.
Cô ta đuổi theo một hồi thấy đã hơi mệt nên ngồi xuống thành giếng, quan sát
phong cảnh bốn bề. Nơi đó cao hơn những tòa nhà trong chùa Thiếu Lâm,
nhưng thấy núi Thiếu Thất vươn thẳng lên trời, trải ra như một bức bình
phong, bên dưới khói tỏa lung linh, tiếng chuông theo gió vang lại, khiến bao
nhiêu nỗi phiền tục bay đi cả. Quách Tương thầm nghĩ: "Người đệ tử của ông
hòa thượng này đi đâu, nếu ông ta không nói, ta đi hỏi thiếu niên này vậy".
Nghĩ vậy cất bước hạ sơn, định đi kiếm đệ tử của Giác Viễn là Trương Quân
Bảo hỏi cho ra lẽ. Đi được một quãng, lại nghe tiếng xích leng keng, Giác Viễn
lại gánh nước đi tới. Quách Tương lẻn ra sau một gốc cây, nghĩ thầm:" Để ta
rình xem ông ta định làm trò quỉ quái gì".
Tiếng xích sắt tới gần, chỉ thấy Giác Viễn gánh đôi thùng sắt, tay cầm một
quyển sách, chú tâm vào đọc. Quách Tương đợi ông ta đến gần bên, hết sức
nhảy vọt ra, kêu lên: -Đại hòa thượng, ông đọc sách gì thế?
Giác Viễn thất thanh kêu lên: -Ôi chà, làm tôi hết hồn, hóa ra là cô.
Quách Tương cười: -Tưởng ông giả câm, sao bây giờ lại nói được?
Giác Viễn hơi có vẻ sợ hãi, nhìn quanh một lượt, xua tay. Quách Tương hỏi: Ông sợ cái gì?
Giác Viễn chưa kịp trả lời, đột nhiên từ trong rừng cây có hai nhà sư mặc áo
màu xám tro bước ra, một cao một lùn. Nhà sư cao gầy quát: -Giác Viễn không
giữ giới pháp, dám tự tiện mở mồm nói chuyện với người ngoài chùa, nhất là
lại nói chuyện với một thiếu nữ trẻ tuổi? Mau đi gặp thủ tọa giới luật đường.
Giác Viễn lủi thủi, chỉ gật đầu, đi theo hai tăng nhân nọ.
Quách Tương vừa tức, vừa giận, lớn tiếng hỏi: -Trên đời này sao lại có lề luật
đâu cấm người ta nói chuyện bao giờ? Tôi quen biết vị đại sư này, tôi nói
chuyện với ông ta, việc gì đến các ông?
Nhà sư cao gầy trừng mắt nhìn, nói: -Từ một nghìn năm nay, chùa Thiếu Lâm
không cho phép nữ lưu bước chân vào. Mời cô nương xuống núi, đừng để
chúng tôi phải làm phiền.
Quách Tương nổi giận: -Nữ lưu thì đã sao? Đàn bà con gái không phải người
à? Các ngươi tại sao làm khó dễ vị Giác Viễn đại sư này? Đã lấy xiềng xích trói
người ta, lại còn không cho người ta nói chuyện?
Nhà sư đó cười nhạt: -Việc của bản tự, đến hoàng đế cũng chẳng can thiệp
được. Không dám để cô nương phải nhọc lòng hỏi đến.
Quách Tương càng giận hơn: -Vị đại sư này là người thực thà trung hậu, thấy
người ta hiền lành, các ngươi hiếp đáp. Hừ hừ, Thiên Minh thiền sư đâu? Vô
Sắc, Vô Tướng hòa thượng đâu? Các ngươi đi gọi họ ra đây để ta hỏi họ xem
thế là thế nào?
Hai nhà sư nọ nghe thấy thế đều giật mình. Thiên Minh thiền sư là phương
trượng của chùa, Vô Sắc thiền sư là thủ tọa La Hán đường, còn Vô Tướng
thiền sư là thủ tọa Đạt Ma đường. Ba người địa vị tôn quí nên tăng lữ trong
chùa trước nay chỉ gọi là lão phương trượng, thủ tọa La Hán đường và thủ tọa
Đạt Ma đường, chứ không dám gọi bằng pháp danh. Ngờ đâu một cô gái trẻ
tuổi lại dám lên núi hô hoán thẳng tên như thế.
Hai tăng nhân này đều là đệ tử của thủ tọa giới luật đường, được lệnh tọa sư
sai đi giám thị Giác Viễn. Nghe thấy Quách Tương ăn nói không kiêng nể gì ai,
nhà sư cao gầy quát: -Nữ thí chủ nếu còn làm rộn chốn Phật môn thanh tịnh
thì đừng trách tiểu tăng vô lễ.
Quách Tương nói: -Bộ tưởng ta sợ sư sãi các ngươi hay sao? Mau mau tháo
dây xích xiềng trói Giác Viễn đại sư ra thì ta để yên, nếu không ta sẽ lôi Thiên
Minh lão hòa thượng ra hỏi đấy.
Nhà sư lùn nghe thấy Quách Tương ăn nói lếu láo, bên hông lại đeo đoản
kiếm, nên gằn giọng: -Cô tháo binh khí để lại, chúng tôi không cãi lý với cô,
mau xuống núi đi.
Quách Tương tháo đoản kiếm ra, hai tây nâng lên cười nhạt: -Hay lắm, xin
tuân lệnh tôn đài.
Gã sư lùn từ nhỏ xuất gia, trước nay nghe sư bá, sư thúc, sư huynh đều nói là
Thiếu Lâm tự là nguồn gốc chung của võ học, lại nghe là dù thanh vọng lớn
đến thế nào chăng nữa, võ lâm cao thủ tài ba đến mấy chăng nữa, cũng
không ai dám đeo binh khí tiến vào trong chùa Thiếu Lâm. Cô gái trẻ tuổi này
tuy chưa bước chân vào cổng chùa, nhưng cũng đã thuộc phạm vi của Thiếu
Lâm, hẳn là cô ta cũng sợ nên líu ríu giao đoản kiếm. Nghĩ thế nên y đưa tay
nhận kiếm. Tay gã vừa chạm vào bao kiếm bỗng thấy cánh tay chấn động như
bị điện giật. Một luồng sức mạnh từ đoản kiếm truyền lên, hất về phía sau,
chân đứng không vững khiến gã ngã bổ chửng. Gã đang đứng tại triền núi
dốc, bị ngã liền lộc cộc lăn xuống mấy trượng, may cố gượng mới dừng lại
được.
Nhà sư cao gầy vừa tức vừa sợ, quát: -Ngươi ăn tim sư tử, uống mật báo hay
sao mà dám tới Thiếu Lâm tự gây rối hả?
Y xoay người lại, tiến lên một bước, tay phải tung ra một chưởng, tay trái cũng
đi theo đè lên tay phải, hai tay cùng đánh ra, chính là thế thứ hai mươi tám
trong "Sấn Thiếu Lâm" Phiên Thân Phách Kích.
Quách Tương tay cầm cán kiếm, dùng cả kiếm lẫn bao nhằm vai gã điểm tới.
Nhà sư hạ vai xuống phản kích, vươn tay chộp lấy bao kiếm. Giác Viễn đứng
bên thấy thế hoảng hốt kêu lên: -Xin đừng động thủ, đừng động thủ! Hãy từ
từ nói chuyện phải quấy.
Lúc đó tăng nhân đã nắm được bao, đang định vận kình đoạt kiếm, chỉ thấy
lòng bàn tay bị chấn động, hai cổ tay hơi tê đi, kêu lên một tiếng: "Hỏng rồi",
Quách Tương chân trái đã quét ngang, đá y văng xuống sườn núi.
Y bị đòn so với gã sư lùn nặng hơn nhiều, lăn xuống, trên đầu, trên mặt bị va
vào đá máu chảy lênh láng, mãi mới ngừng lại được. Quách Tương nghĩ thầm:
"Ta lên chùa Thiếu Lâm vốn chỉ muốn dò hỏi tin tức đại ca, vô cớ cùng bọn họ
động thủ, xem ra không ổn rồi".
Liếc mắt thấy Giác Viễn mặt mày buồn thiu đứng tại bên cạnh, nên rút đoản
kiếm ra, chặt những xích buộc ở tay ông ta. Tuy đoản kiếm đó không phải là
vật hi hữu, quí báu, nhưng cũng là một loại binh khí rất sắc bén, chỉ nghe
loảng xoảng mấy tiếng, dây xích đã đứt thành ba khúc. Giác Viễn luôn mồm
kêu: -Không được đâu! Không được đâu!
Quách Tương hỏi lại: -Cái gì mà không được?
Rồi chỉ tay về phía hai tăng nhân cao lùn đang chạy vào chùa mà nói: -Hai tên
ác hòa thượng đó hẳn là vào chùa phi báo, mình phải chạy ngay. Đồ đệ họ
Trương của ông đâu? Dắt cậu ta theo với.
Giác Viễn chỉ xua tay. Bỗng phía sau có tiếng người nói: -Đa tạ cô nương quan
tâm, tôi đang ở đây.
Quách Tương quay lại, thấy đằng sau lưng một thiếu niên chừng mười sáu,
mười bảy tuổi, mày rậm mắt to, thân thể cao lớn, nhưng mặt vẫn còn trẻ con,
chính là Trương Quân Bảo, người ba năm trước đã gặp trên núi Hoa Sơn. So
với bây giờ, cậu ta đã cao lớn hơn nhiều, nhưng dung mạo không thay đổi
mấy. Quách Tương mừng quá, vội nói: -Bọn ác hòa thượng ở đây chèn ép sư
phụ ngươi, mình nên chạy ngay đi.
Trương Quân Bảo lắc đầu: -Không ai chèn ép sư phụ tôi đâu.
Quách Tương chỉ Giác Viễn: -Hai gã ác hòa thượng đó lấy xích buộc sư phụ
ngươi, lại một câu cũng không cho nói, chẳng chèn ép thì là gì?
Giác Viễn nhăn nhó lắc đầu, chỉ xuống chân núi, ý muốn Quách Tương mau
mau thoát thân, đừng để bị rắc rối. Quách Tương biết rằng trong chùa Thiếu
Lâm số người võ công cao hơn nàng không biết bao nhiêu, nhưng thấy việc
bất bình trước mắt, không thể xuôi tay bỏ qua; lại ngại cao thủ trong chùa
chạy ra ngăn trở, nên một tay nắm Giác Viễn, một tay nắm Trương Quân Bảo,
dậm chân nói: -Chạy mau, chạy mau, có chuyện gì xuống núi đã rồi hãy nói
cũng được.
Hai người chỉ đứng yên không trả lời. Bỗng thấy cửa chùa ở triền núi bên dưới
chạy ra bảy tám tăng nhân, tay cầm tề mi đại côn, kêu lên: -Con nhỏ mất dạy
nào dám đến chùa Thiếu Lâm mà phá phách?
Trương Quân Bảo đưa tay làm loa kêu lớn: -Các vị sư huynh không được vô lễ,
đây là ...
Quách Tương hoảng hốt: -Đừng nói tên tôi ra.
Nàng nghĩ chuyện ngày hôm nay xem chừng không nhỏ, thể nào rồi cũng đồn
ra đến tai cha mẹ, nên thêm một câu: -Bọn mình nên theo đường núi chạy
ngay, tuyệt đối đừng đề cập đến tên cha mẹ, bạn bè tôi.
Chỉ nghe thấy sườn núi phía sau cũng có tiếng người la ó, lại thêm bảy tám
nhà sư nữa chạy ra. Quách Tương thấy trước sau đều có sư bao vây, nhíu mày,
trách: -Các ngươi cứ lừng chà lừng chừng, không có chút khí phách gì của
nam nhi, chạy hay không nào?
Trương Quân Bảo nói: -Sư phụ, cô nương đây có lòng tốt ...
Ngay lúc đó, cửa chùa bên dưới lại ra thêm bốn nhà sư áo vàng, phấp phới
chạy thẳng lên, tay không cầm binh khí nhưng thân pháp nhanh nhẹn, gió thổi
vào áo phần phật, xem ra võ công không phải tầm thường. Quách Tương thấy
tình thế như vậy, xem chừng chạy thoát thân một mình cũng không xong, nên
ngưng khí đứng yên, chờ xem chuyện gì xảy ra. Nhà sư chạy đầu đến cách cô
ta chừng bốn trượng, lớn tiếng nói: -Thủ tọa La Hán đường sư tôn truyền
rằng, người đến chùa mau bỏ binh khí, xuống lều tranh dưới núi nói rõ sự tình,
để nghe pháp dụ.
Quách Tương cười nhạt: -Gớm, các đại hòa thượng chùa Thiếu Lâm quan cách
quá, nghe thật lọt tai. Xin hỏi các đại hòa thượng là quan của hoàng đế Đại
Tống, hay là quan của hoàng đế Mông Cổ đấy?
Khi đó đất đai phía bắc sông Hoài không còn thuộc về nhà Đại Tống nữa, khu
vực chùa Thiếu Lâm cũng đã thuộc về Mông Cổ từ lâu. Thế nhưng quân Mông
nhiều năm qua còn bận công thành Tương Dương chưa được, phải lo điều
binh khiển tướng không hơi sức đâu mà lo chuyện chùa chiền, nên chùa Thiếu
Lâm mọi sự vẫn y như ngày trước.
Gã tăng nhân nghe Quách Tương mỉa mai thật là chua cay, nên không khỏi đỏ
mặt, cảm thấy đối với người ngoài mà truyền dụ như vậy quả không ổn, nên
chắp tay nói: -Không biết nữ thí chủ có chuyện gì mà quang lâm tệ tự, xin để
binh nhận, mời xuống vi đình dưới chân núi uống trà nói chuyện.
Quách Tương thấy y đổi giọng hòa nhã, nên cũng muốn làm hòa, nên nói: Các ông không cho tôi vào chùa thì thôi. Hừ, hay là trong chùa có báu vật, tôi
trông thấy sẽ được thơm lây chăng?
Nói rồi liếc nhìn Trương Quân Bảo, nói nhỏ: -Có chạy hay không thì bảo?
Trương Quân Bảo lắc đầu, nhếch mép về phía Giác Viễn, ý nói muốn ở lại hầu
hạ sư phụ. Quách Tương lớn tiếng nói: -Thế thì thôi ta không lo cho nữa, ta đi
đây.
Nói rồi rảo bước chạy xuống núi.
Nhà sư áo vàng đi đầu né sang nhường lối. Người thứ hai và người thứ ba giơ
tay ngăn lại, cùng nói: -Hãy khoan, để binh khí lại.
Quách Tương nhướng mày, tay để lên cán kiếm. Nhà sư thứ nhất nói: -Chúng
tôi không dám giữ binh nhận của nữ thí chủ đâu. Khi xuống đến chân núi,
chúng tôi lập tức đem bảo kiếm giao lại. Đây là qui củ của chùa Thiếu Lâm
hàng nghìn năm nay, xin lượng thứ cho.
Quách Tương nghe y ăn nói lễ độ, trong lòng thầm tính: "Nếu như mình không
để kiếm lại, thế tất phải đánh nhau, ta chỉ có một mình, đâu phải là địch thủ
của tăng chúng chùa Thiếu Lâm. Thế nhưng nếu để kiếm lại, chẳng há đem
thể diện ông ngoại, cha mẹ, đại ca ca, Long tỉ tỉ bỏ đi sao?".
Nàng còn đang trù trừ chưa quyết, chỉ thấy trước mắt một bóng vàng thấp
thoáng, một người thét: -Đã đeo kiếm đến chùa Thiếu Lâm, lại đả thương
người, trên đời này đâu có lý nào như thế.
Kình phong xô tới, năm ngón tay đã chộp lấy bao kiếm. Giá như tăng nhân đó
để yên không ra tay, Quách Tương thấy trước mắt tình thế bất lợi, ắt sẽ tạm
nhịn cái khí nhất thời, sau sẽ cùng với ông ngoại, cha mẹ bàn luận rồi quay lại
tính chuyện. Thế nhưng đối phương đột nhiên ỷ mạnh, chẳng lẽ để y khơi khơi
đoạt kiếm sao?
Cầm nã thủ pháp của nhà sư đó quả thực xảo diệu, vừa nắm được bao kiếm,
nghĩ là thể nào Quách Tương cũng giựt lại, một hòa thượng cùng một cô gái
co co kéo kéo, trông rất bất nhã, nên y vận kình đẩy sang bên trái, thuận thế
lại kéo về bên phải. Quách Tương bị y vừa nắm vừa đẩy như thế quả nhiên
không cưỡng lại được phải lỏng tay ra, vội chụp lấy cán kiếm, chỉ soẹt một
tiếng, hàn quang lấp lánh. Tăng nhân nọ tay phải tuy cầm được bao kiếm
nhưng hai ngón tay trái đã bị đoản kiếm thuận thế cắt đứt, đau quá phải ném
bao kiếm, lui sang một bên.
Chúng tăng nhân thấy đồng môn bị thương, vừa kinh vừa giận, múa trượng
giơ côn cùng xông lại. Quách Tương nghĩ thầm: "Thôi thì đến đâu thì đến,
hôm nay chuyện xem không xong rồi". Nghĩ rồi sử dụng tài nghệ gia truyền
"Lạc Anh kiếm pháp", vừa múa vừa xông xuống chân núi. Các nhà sư xếp
thành ba vòng, chia nhau đỡ gạt.
Lạc Anh kiếm pháp vốn do Hoàng Dược Sư theo Lạc Anh chưởng pháp mà chế
ra, tuy không tinh diệu bằng Ngọc Tiêu kiếm pháp, nhưng cũng là một tuyệt
kỹ của đảo Đào Hoa. Chỉ thấy ánh xanh lấp loáng, kiếm hoa từng điểm, như
phất phới đang rơi khắp bốn bề. Trong chốc lát đã có hai tăng nhân bị thương.
Thế nhưng phía sau lại có mấy nhà sư xông lên, thế từ cao đánh xuống. Nếu
theo lý thì Quách Tương không thể nào đương cự nổi, nhưng tăng chúng
Thiếu Lâm lấy từ bi làm gốc, không muốn hại đến tính mệnh cô ta, chiêu số
đánh ra không dùng sát thủ, chỉ cốt đánh ngã, dạy dỗ một phen, giữ binh khí
lại, đuổi xuống chân núi. Thế nhưng Quách Tương kiếm quang mù mịt, không
dễ gì tới được gần.
Lúc đầu tăng chúng nghĩ rằng cô gái tuổi còn trẻ, nên coi thường. Đến lúc
thấy kiếm pháp tinh kỳ, biết là không thuộc giòng giõi danh môn cũng là đồ đệ
danh sư, không nên đắc tội, phải ra chiêu dè dặt, một mặt cấp báo cho thủ
tọa La Hán đường Vô Sắc thiền sư.
Đang lúc đó, một vị sư già thân thể cao gầy chầm chậm đi tới, hai tay luồn
trong tay áo, mỉm cười xem hai bên giao đấu. Hai tăng nhân chạy đến trước
mặt ông ta, nói khẽ vài câu. Quách Tương lúc này đã thở hồng hộc, kiếm pháp
lăng loạn, kêu lớn: -Vậy mà dám gọi là nguồn gốc võ công thiên hạ, hóa ra
hơn một chục hòa thượng vây đánh một người, lấy đông thắng ít.
Vị lão tăng đó chính là thủ tọa La Hán đường Vô Sắc thiền sư, nghe vậy, liền
nói: -Mọi người dừng tay!
Những nhà sư nghe thế vội ngưng lại nhảy ra ngoài. Vô Sắc thiền sư nói: -Cô
nương tên họ là gì, lệnh tôn và lệnh sư là ai? Đến chùa Thiếu Lâm chẳng hay
có chuyện gì thế?
Quách Tương nghĩ thầm "Ta không nên nói tên họ cha mẹ cho ông ta biết.
Việc ta đến chùa Thiếu Lâm để thăm hỏi tin tức của đại ca cũng không thể nói
ra cho mọi người nghe được. Mình đã gây rắc rối thế này, cha mẹ và đại ca
biết được thể nào cũng rầy rà, chi bằng mình cứ lặng thinh là hơn." Vì thế
nàng đáp: -Tên họ tôi không thể cho ông biết được, chẳng qua tôi thấy trên
núi phong cảnh đẹp đẽ, nên lên ngắm cảnh đấy thôi. Nào ngờ chùa Thiếu Lâm
so với nội viện hoàng cung còn khó khăn hơn, chẳng làm gì cũng đòi giữ binh
khí người ta lại. Xin hỏi đại sư, tôi đã bước chân vào cổng chùa chưa? Ngày
trước Đạt Ma tổ sư truyền võ nghệ, chẳng qua cũng chỉ để cho tăng chúng
thân thể khỏe mạnh, khiến việc tu hành cho tinh tiến, nào hay danh tiếng
càng to, võ công càng cao, thì cái việc cậy đông cậy mạnh lại càng lớn. Hay
lắm, nếu các ông muốn giữ binh khí của tôi, thì tôi để lại, trừ phi giết tôi đi,
chứ việc hôm nay đừng tưởng trên giang hồ không ai biết đến.
Cô ta bản chất nhanh mồm khéo miệng, việc này lại không phải hoàn toàn lỗi ở
nàng, chỉ một câu khiến Vô Sắc thiền sư cứng họng không trả lời được. Quách
Tương nhìn mặt đặt tên, nghĩ thầm: "Việc quấy phá này chính ta mới là người
sợ lộ ra ngoài, nhưng xem ra Thiếu Lâm tự còn ngại hơn. Hơn một chục hòa
thượng vây đánh một cô gái trẻ tuổi, nghe có gì là hay ho?". Nghĩ thế bèn hứ
một tiếng, ném đoản kiếm xuống đất, quay mình bước đi.
Vô Sắc thiền sư lạng người tiến lên, phất tay áo một cái đã cuộn được thanh
kiếm, hai tay cầm lấy lưỡi kiếm, nói: -Cô nương nếu không nể tình thầy trò
chúng tôi, thanh bảo kiếm này xin cầm lại. Lão nạp cung kính tiễn cô xuống
núi.
Quách Tương nghe vậy cười đáp: -Xem ra lão hòa thượng thông đạt tình lý,
thế mới gọi là phong phạm của bậc danh gia.
Cô ta thấy mình được thế nên thuận mồm khen Vô Sắc một câu, rồi thò tay
nhắc kiếm, bỗng thấy giật mình. Nguyên lai lòng bàn tay đối phương sinh ra
một hấp lực, tuy cô ta đã cầm được cán kiếm nhưng không sao nâng lên được.
Nàng ra sức vận kình ba lần nhưng vẫn không sao lấy được đoản kiếm, bèn
nói: -Hay nhỉ, ông định khoe công phu chăng.
Đột nhiên tay trái vung ra, nhẹ nhàng hướng vào hai huyệt Thiên Đỉnh, Cự Cốt
ở bên trái cổ ông ta phất tới. Vô Sắc kinh hãi, né người tránh, khí kình hơi lỏng
ra nên Quách Tương thuận thế mà lấy được đoản kiếm.
Vô Sắc nói: -Công phu Lan Hoa Phất Huyệt Thủ hay thực. Chẳng hay cô xưng
hô Đào Hoa đảo chủ như thế nào?
Quách Tương cười đáp: -Đào Hoa đảo chủ ư? Tôi gọi ông ta là Lão Đông Tà.
Đào Hoa đảo chủ Đông Tà Hoàng Dược Sư chính là ông ngoại của Quách
Tương, tính tình khác người, trước nay vốn không câu nệ lễ phép, thường đùa
cô cháu ngoại gọi là Tiểu Đông Tà, Quách Tương liền gọi lại ông ngoại là Lão
Đông Tà, Hoàng Dược Sư không những không la rầy, còn tỏ ra hoan hỉ.
Vô Sắc lúc thiếu thời vốn là lục lâm, tuy đã nương thân cửa thiền mấy chục
năm tu trì, Phật học uyên thâm, nhưng hào khí xưa vẫn chưa dứt, nếu không
làm sao kết bạn được với Dương Quá? Thấy cô gái này không chịu khai sư
thừa lai lịch, định thử một chuyến, nên lớn tiếng nói: -Tiểu cô nương tiếp ta
mười chiêu, để xem nhãn lực lão hòa thượng thế nào, có nói ra được môn phái
của cô chăng?
Quách Tương hỏi lại: -Nếu như mười chiêu mà không nhìn ra, thì ông tính sao?
Vô Sắc thiền sư lớn tiếng cả cười: -Nếu như cô nương tiếp được lão nạp mười
chiêu, thì cô muốn chuyện gì ta cũng nghe theo.
Quách Tương chỉ Giác Viễn: -Tôi cùng vị đại sư này trước đây có duyên một
lần gặp gỡ, nên muốn thay ông ta cầu chút tình. Nếu như mười chiêu mà ông
không nói được sư phụ tôi là ai, chỉ xin ông đáp lời, đừng làm khó dễ vị đại sư
này nữa.
Vô Sắc hết sức ngạc nhiên, nghĩ thầm Giác Viễn tính tình ngơ ngơ ngẩn ngẩn,
mấy chục năm qua tại Tàng Kinh Các giữ sách, trước nay chưa từng cùng
người ngoài giao thiệp, tại sao lại quen được với cô gái này? Bèn nói: -Chúng
tôi vốn đâu có làm khó dễ gì y. Tăng chúng trong chùa phạm giới luật, dù ai
cũng vậy, cũng phải chịu phạt chứ đâu phải là làm khó dễ.
Quách Tương bĩu môi, cười: -Hừ, nói qua nói lại, ông cũng đều né tránh cả.
Vô Sắc vỗ tay một cái, nói: -Được rồi, theo lời cô. Nếu như lão nạp thua, sẽ
thay sư đệ Giác Viễn gánh ba nghìn một trăm linh tám gánh nước. Cô nương
lưu ý, ta xuất chiêu đây.
Khi đang nói chuyện, Quách Tương đã thầm tính trong lòng: "Lão hòa thượng
này khí ngưng thần tĩnh, võ công cao cường, nếu như để ông ta xuất chiêu, ta
ắt phải hết sức chống đỡ, không thể nào không lộ võ công của cha mẹ mình
ra. Chi bằng ta chiếm tiên cơ, đánh ra mười chiêu liền". Nghe ông ta vừa nói
hai câu "Cô nương lưu ý, ta xuất chiêu đây" nên không đợi ông ta ra quyền
cước, nghe vèo một tiếng đoản kiếm đã nhắm thẳng vào ngực đâm tới, sử
dụng một chiêu trong Lạc Anh kiếm pháp của đảo Đào Hoa, tên là Vạn Tử
Thiên Hồng, mũi kiếm đâm ra liên tiếp rung động, ...
Thư viện ebook: Sách Mới.Net
01
02
03
04
05
06
07
08
09
10
11
12
13
14
15
16
17
18
19
20
21
22
23
24
25
26
27
28
29
30
31
32
33
34
35
36
37
38
39
40
Thiên nhai tư quân bất khả vong
Võ Đương sơn đính tùng bách trường
Bảo đao bách luyện sinh huyền quang
Tự tác tang loạn ý bàng hoàng
Hạo tí tự ngọc Mai Hoa Trang
Phù Tra Bắc Minh Hải Mang Mang
Thùy Tống Băng Khả Lai Tiên Hương
Cùng phát thập tải phiếm qui hàng
Thất hiệp tụ hội lạc vị ương
Bách tuế thọ yến tồi can trường
Hữu nữ trường thiệt lợi như thương
Châm kỳ cao hề dược kỳ hoang
Bất hối trọng tử du ngã tường
Đương đạo thời kiến trung sơn lang
Kỳ mưu bí kế mộng nhất trường
Bác cực nhi phục tham Cửu Dương
Thanh dực xuất một nhất tiếu dương
Ỷ Thiên trường kiếm phi hàn mang
Họa khởi tiêu tường phá kim thang
Dữ tử cộng huyệt tương phù tương
Bài nạn giải phân đương lục cường
Quần hùng qui tâm ước tam chương
Linh phù túy khách lục liễu trang
Thái cực sơ truyền nhu khắc cương
Cử hỏa liệu thiên hà hoàng hoàng
Tuấn mạo ngọc diện cam hủy thương
Bách xích cao tháp nhiệm hồi tường
Ân đoạn nghĩa tuyệt Tử Sam vương
Tứ nữ đồng chu hà sở vọng
Đông tây vĩnh cách như sâm thương
Đao kiếm tề thất nhân vân vong
Oan mông bất bạch sầu dục cuồng
Tiêu trường cầm đoản y lưu hoàng
Tiêu trường cầm đoản y lưu hoàng
Đồ sư hữu hội thục vi ương
Yêu kiều tam tùng uất thanh thương
Thiên hạ anh hùng mạc năng đương
Quân tử khả khi chi dĩ phương
Bí cập binh thư thử trung tàng
Bất thức Trương lang thị Trương lang
01
Thiên nhai tư quân bất khả vong
Chữ tình buộc lấy chữ sầu,
Chân trời góc biển tìm đâu bây giờ
Xuân du hạo đãng, thị niên niên hàn thực, lê hoa thời tiết.
Bạch cẩm vô văn hương lạn mạn, ngọc thụ quỳnh bao đôi tuyết.
Tĩnh dạ trầm trầm, phù quang ái ái, lãnh mạn dung dung nguyệt.
Nhân gian thiên thượng, lạn ngân hà chiếu thông triệt.
Hồn tự cô xạ chân nhân, thiên tư linh tú, ý khí thù cao khiết.
Vạn nhị sâm sai thùy tín đạo, bất dữ quần phương đồng liệt.
Hạo khí thanh anh, tiên tài trác lạc, hạ thổ nan phân biệt.
Dao đài qui khứ, động thiên phương khán thanh tuyệt.
Tiết trời lạnh hoa lê đang rộ,
Khách nhàn du lãng đãng chơi xuân.
Hương thơm bay tỏa không gian,
Cành cây trắng xóa lộc non nở đầy.
Ánh trăng lạnh canh khuya thanh tĩnh,
Chiếu trên cao thấp thoáng sông ngân.
Tâm tình một vẻ miên man,
Trời cho tính khí cao sang vẻ người.
Chen lẫn vẻ muôn hoa rực rỡ,
Vẻ thanh cao vẫn tự vươn cao.
Thanh anh trác lạc hơn người,
Dẫu trong ngọc đá có chiều nọ kia.
Dao đài ai kẻ đi về,
Hương trời đôi lứa đã kề bên nhau.
Bài từ "Vô Tục Niệm" này vốn là của một vị võ học danh gia, cũng là một đạo sĩ
ở vào cuối đời Nam Tống họ Khưu tên Xứ Cơ, đạo hiệu Trường Xuân Tử. Ông
là một trong Toàn Chân thất tử và là nhân vật xuất sắc của phái Toàn Chân.
Trong "Từ Phẩm" đã bình về bài từ này như sau:
"Trường Xuân, người đời vẫn coi là một vị tiên, nên lời từ mới hay và xuất sắc
đến thế"
Bài từ tuy nói về hoa lê, nhưng thật ra chính là để ca tụng một thiếu nữ xinh
đẹp mặc áo trắng, coi nàng "thực không phải người phàm, thiên tư linh tú, khí
độ cao khiết", lại nói nàng "hạo khí thanh anh, tiên tài trác lạc", "bất dĩ quần
phương đồng liệt" (không giống như những người khác). Người con gái đẹp
mô tả trong bài từ này, chính là truyền nhân của phái Cổ Mộ, Tiểu Long Nữ.
Nàng vốn ưa mặc đồ trắng, chẳng khác gì gió thổi qua cây ngọc, đóa quỳnh
nở trong tuyết, chỉ hiềm tính khí lạnh lùng, nên mới tả hình dung là "lãnh mạn
dung dung nguyệt". Khưu Xứ Cơ tặng nàng ba chữ "Vô Tục Niệm" thật mười
phần xác đáng.
Trường Xuân Tử Khưu Xứ Cơ ở ngay bên cạnh nàng tại Chung Nam Sơn, một
lần gặp mặt nên viết ra bài từ này. Lúc bấy giờ Khưu Xứ Cơ tạ thế đã lâu, Tiểu
Long Nữ cũng đã làm vợ Thần Điêu đại hiệp Dương Quá.
Trên sơn đạo núi Thiếu Thất, tỉnh Hà Nam, có một thiếu nữ, đang cúi đầu lẩm
nhẩm bài từ này. Cô gái ước chừng mười tám, mười chín tuổi, mặc áo màu
vàng nhạt, cưỡi một con lừa đen, đi chầm chậm lên núi, vừa đi vừa nghĩ thầm:
"Chỉ có người như Long tỉ tỉ mới xứng đáng lấy được chàng mà thôi".
Chữ "chàng" hiển nhiên là nói đến Thần Điêu đại hiệp Dương Quá. Cô gái lỏng
dây cương, cứ để cho con lừa tự ý, thẳng đường lên núi. Một lúc lâu sau, cô lại
lẩm bẩm:
"hoan lạc thú, ly biệt khổ,
tựu trung cánh hữu si nhi nữ.
Quân ứng hữu ngữ, diểu vạn lý tằng vân,
thiên sơn mộ tuyết, chích ảnh hướng thùy khứ?"
Gặp nhau lòng những vui vầy,
Xa nhau dạ những luống đầy khổ đau.
Cõi tình mê đắm ai đâu?
Chim kia thiếu bạn tiếng sầu lẻ loi.
Từng mây muôn dặm xa xôi,
Núi cao tuyết trắng nơi nơi cũng là.
Một mình cô tịch gần xa,
Trăm năm bến cũ biết là về đâu?
Cô gái lưng đeo đoản kiếm, sắc mặt có nhuốm đôi chút phong trần, hiển nhiên
đã viễn du lâu ngày. Gương mặt xinh tươi, đang ở vào tuổi vô tư lự, nhưng sao
dung nhan như có gì muộn phiền, đầu mày cuối mắt không thể che giấu được.
Nàng họ Quách, tên chỉ có một chữ Tương, chính là con thứ của đại hiệp
Quách Tĩnh và nữ hiệp Hoàng Dung, còn có ngoại hiệu là Tiểu Đông Tà. Nàng
một lừa, một kiếm, lang thang một mình, những tưởng phiền muộn trong lòng
vơi đi, ai ngờ sầu lại thêm sầu, nơi danh sơn lẻ bóng lại càng hiu quạnh.
Núi Thiếu Thất thuộc tỉnh Hà Nam cũng khá cao, đường lên núi là những bậc
thang bằng đá rộng rãi, qui mô lớn lao, công trình không phải nhỏ, là do vua
Đường Thái Tông đến thăm chùa Thiếu Lâm mà bỏ ra tạo dựng, dài cả thảy
tám dặm. Quách Tương cưỡi lừa uể oải trèo lên, thấy trước mặt từ ngọn trên
núi ào ào đổ xuống năm dòng thác tung tóe như ngọc, lại nhìn những ngọn
núi khác chỉ nhỏ như đàn kiến. Theo đường sơn đạo chuyển vào một khúc
quanh, thì thấy một tòa tự viện tường vàng ngói xanh.
Nàng đứng ngắm dãy chùa một hồi, nghĩ thầm: "Thiếu Lâm tự vốn là nguồn
gốc võ học của thiên hạ, nhưng sao hai kỳ luận kiếm Hoa Sơn, trong số ngũ
tuyệt không thấy cao tăng nào của chùa Thiếu Lâm cả? Không lẽ hòa thượng
trong chùa không tài cán gì, sợ mất uy danh, nên không dám phó hội? Hay là
tăng lữ tu hành tinh thâm, không còn tham luyến hư danh, võ công tuy cao,
nhưng không muốn tranh cường đổ thắng với người ngoài?".
Nàng xuống lừa, lững thững đến trước cửa chùa, chỉ thấy cây cối rậm rạp,
bóng râm che phủ một khu rừng bia. Bia đá quá nửa đã bị hủy phá, nét chữ
mơ hồ, không biết viết những gì. Nàng nghĩ thầm: "Chữ khắc sâu trên đá, theo
năm tháng cũng mòn, thế nhưng sao những gì khắc trong tim ta, thời gian
càng lâu càng sâu đậm?".
Chợt thấy một tấm bia lớn khắc việc Đường Thái Tông ban cho chùa Thiếu
Lâm ngự trát, khen tăng nhân về việc lập công trừ loạn. Trong bia nói là khi
Đường Thái Tông còn là Tần Vương, đem binh đánh Vương Thế Sung, hòa
thượng chùa Thiếu Lâm đầu quân, xuất sắc nhất có cả thảy mười ba người.
Trong số đó chỉ có Đàm Tông nhận phong làm Đại Tướng Quân, còn mười hai
người còn lại không muốn làm quan, Đường Thái Tông ban cho mỗi người một
áo cà sa bằng lụa tía. Nàng tưởng tượng ngay từ thời Tùy Đường mà võ công
chùa Thiếu Lâm đã danh vang thiên hạ, mấy trăm năm nay lại càng thêm tinh
xảo, không biết trong chùa có bao nhiêu ngọa hổ tàng long.
Quách Tương từ khi chia tay với vợ chồng Dương Quá, Tiểu Long Nữ ở trên
đỉnh Hoa Sơn tới giờ đã ba năm không nghe chút tin tức gì của hai người.
Trong lòng mong nhớ, nàng thưa với cha mẹ, nói là muốn đi ngao du sơn thủy,
nhưng thực ra là để nghe ngóng tin tức của Dương Quá. Nàng thực tâm cũng
chẳng cần phải gặp mặt cặp vợ chồng này, chỉ cần nghe tin họ hành hiệp ra
sao cũng đã thỏa mãn. Thế nhưng từ khi từ biệt, hai người không lộ diện
giang hồ, chẳng biết ẩn cư nơi nào. Thành thử Quách Tương đi từ bắc xuống
nam, lại từ đông sang tây, tưởng chừng đã đặt chân quá nửa đất trung
nguyên, thủy chung vẫn không nghe thấy ai nói đến Thần Điêu đại hiệp
Dương Quá cả.
Một hôm nàng đến đất Hà Nam, chợt nhớ ra chùa Thiếu Lâm có một nhà sư
tên Vô Sắc là bạn thân của Dương Quá, hồi mình sinh nhật mười sáu tuổi, nể
mặt họ Dương nên ông đã sai người đem tặng một món quà. Tuy chưa bao giờ
gặp mặt nhà sư này nhưng cũng nên lên hỏi thử một câu, biết đâu ông ta lại
rõ tung tích của hai người. Vì thế Quách Tương mới lên chùa Thiếu Lâm.
Đang lúc xuất thần, bỗng nghe thấy từ chòm cây bên cạnh rừng bia truyền ra
tiếng leng keng, loảng xoảng và tiếng người niệm kinh Phật:
Thị thời Dược Xoa cộng vương lập yếu, tức ư vô lượng bách thiên vạn ức đại
chúng chi trung, thuyết thắng diệu già tha viết: do ái cố sinh ưu, do ái cố sinh
bố; nhược li ư ái giả, vô ưu diệc vô bố ...
(Khi đó Thế Tôn đứng giữa thiên vạn ức người mà giảng rằng: Vì yêu mà sinh
ra buồn phiền, vì yêu mà sinh ra sợ hãi, nếu như dứt được yêu, chẳng buồn
cũng chẳng sợ ...)
Quách Tương nghe bốn chữ kệ đó, bỗng thấy ngơ ngẩn, trong lòng cũng
nhẩm theo: "do ái cố sinh ưu, do ái cố sinh bố; nhược li ư ái giả, vô ưu diệc vô
bố". Chỉ nghe thấy tiếng loảng xoảng cùng tiếng tụng kinh xa dần.
Quách Tương cúi đầu: "Để ta hỏi ông ta làm cách nào có thể thoát khỏi tình
yêu, làm cách nào để không buồn không sợ?".
Thuận tay nàng buộc lừa vào một gốc cây, vạch lùm cây đuổi theo. Chỉ thấy
đằng sau tàn cây là một đường mòn lên núi, có một tăng nhân gánh một đôi
thùng lớn, đang đi chầm chậm. Quách Tương rảo bước chạy theo, đến cách
nhà sư chừng bảy, tám trượng, bỗng giật mình. Chỉ thấy người đó gánh một
đôi thùng sắt lớn, so với thùng gánh nước thường phải hơn gấp đôi, vậy mà
trên cổ, cánh tay, cẳng chân còn quấn quít đầy xích lớn, mỗi khi đi đứng tiếng
kêu loảng xoảng. Hai chiếc thùng không cũng đã đến hơn hai trăm cân, trong
lại đầy nước, phải nặng đến kinh người. Quách Tương kêu lên: -Đại hòa
thượng, xin dừng chân, tiểu nữ có điều muốn thỉnh giáo.
Nhà sư đó quay đầu lại, hai người nhìn nhau, đều tỏ vẻ ngạc nhiên. Hóa ra vị
hòa thượng đó là Giác Viễn, ba năm trước, hai người đã gặp nhau tại đỉnh Hoa
Sơn. Quách Tương biết ông ta tuy tính hơi cổ hủ nhưng nội công tinh thâm,
không kém bất cứ cao thủ nào hiện thời, nên nói: -Tưởng ai hóa ra là Giác
Viễn đại sư. Tại sao ông lại ra nông nỗi này?
Giác Viễn khẽ gật đầu, mỉm cười, chắp tay hành lễ, nhưng không trả lời, quay
mình bước đi. Quách Tương vội gọi: -Giác Viễn đại sư, ông không nhận ra tôi
sao? Tôi là Quách Tương đây mà!
Giác Viễn quay lại mỉm cười, khẽ gật đầu nhưng không ngừng bước. Quách
Tương lại hỏi: -Ai lấy xích buộc ông vậy? Sao lại hành hạ ông như thế?
Giác Viễn đưa tay trái ra sau đầu xua xua mấy cái, như ám chỉ cô ta đừng hỏi
nhiều.
Quách Tương thấy chuyện kỳ quái, lẽ nào không tìm cho ra đầu đuôi? Lập tức
cất bước đuổi theo, tính sẽ chặn trước mặt nhà sư. Nào ngờ Giác Viễn tuy toàn
thân đầy xích, lại gánh đôi thùng sắt, vậy mà dẫu Quách Tương hết sức chạy,
thủy chung vẫn không vượt qua được ông ta. Tính trẻ con của cô gái nổi lên,
thi triển khinh công gia truyền, hai chân nhún một cái, người bay vọt lên, vươn
tay chụp vào thùng nước. Mắt trông tưởng ra tay ắt sẽ trúng, nào ngờ vẫn còn
cách đến hai tấc. Quách Tương kêu lên: -Đại hòa thượng giỏi thật, nhất định
tôi phải đuổi kịp ông mới thôi.
Chỉ thấy Giác Viễn rảo bước đi, tiếng xích sắt leng keng như tiếng nhạc, mỗi
lúc một xa về phía sau núi.
Quách Tương đuổi theo một lúc hơi thở đã dồn dập, thế nhưng vẫn cách ông
ta đến hơn một trượng, trong lòng không khỏi bội phục: "Cha mẹ ta lúc ở trên
núi Hoa Sơn, đã từng nói là vị hòa thượng này võ công cực cao, lúc đó ta
không tin, đến nay thử một chuyến, thấy lời hai ông bà quả thật không sai".
Chỉ thấy Giác Viễn quẹo vào đằng sau một ngôi nhà nhỏ, đổ hai thùng nước
vào trong một miệng giếng. Quách Tương hết sức kỳ quái, kêu lên: -Đại hòa
thượng, ông không điên đấy chứ? Đổ nước vào trong giếng để làm gì thế?
Giác Viễn thần sắc bình hòa, lắc đầu. Quách Tương chợt hiểu ra, cười: -À, hóa
ra ông đang luyện một môn nội công rất cao thâm.
Giác Viễn lại lắc đầu lần nữa. Quách Tương hơi bực mình, nói: -Rõ ràng tôi
nghe ông tụng kinh, tức không bị câm, sao bây giờ không trả lời tôi?
Giác Viễn chắp tay chào, vẻ mặt hơi sượng sùng, không đáp lời, quảy đôi
thùng đi xuống chân núi. Quách Tương thò đầu nhìn vào trong giếng, chỉ thấy
nước trong vắt, không thấy điểm gì đặc biệt, ngẩn ngơ nhìn theo lưng Giác
Viễn, lòng đầy nghi hoặc.
Cô ta đuổi theo một hồi thấy đã hơi mệt nên ngồi xuống thành giếng, quan sát
phong cảnh bốn bề. Nơi đó cao hơn những tòa nhà trong chùa Thiếu Lâm,
nhưng thấy núi Thiếu Thất vươn thẳng lên trời, trải ra như một bức bình
phong, bên dưới khói tỏa lung linh, tiếng chuông theo gió vang lại, khiến bao
nhiêu nỗi phiền tục bay đi cả. Quách Tương thầm nghĩ: "Người đệ tử của ông
hòa thượng này đi đâu, nếu ông ta không nói, ta đi hỏi thiếu niên này vậy".
Nghĩ vậy cất bước hạ sơn, định đi kiếm đệ tử của Giác Viễn là Trương Quân
Bảo hỏi cho ra lẽ. Đi được một quãng, lại nghe tiếng xích leng keng, Giác Viễn
lại gánh nước đi tới. Quách Tương lẻn ra sau một gốc cây, nghĩ thầm:" Để ta
rình xem ông ta định làm trò quỉ quái gì".
Tiếng xích sắt tới gần, chỉ thấy Giác Viễn gánh đôi thùng sắt, tay cầm một
quyển sách, chú tâm vào đọc. Quách Tương đợi ông ta đến gần bên, hết sức
nhảy vọt ra, kêu lên: -Đại hòa thượng, ông đọc sách gì thế?
Giác Viễn thất thanh kêu lên: -Ôi chà, làm tôi hết hồn, hóa ra là cô.
Quách Tương cười: -Tưởng ông giả câm, sao bây giờ lại nói được?
Giác Viễn hơi có vẻ sợ hãi, nhìn quanh một lượt, xua tay. Quách Tương hỏi: Ông sợ cái gì?
Giác Viễn chưa kịp trả lời, đột nhiên từ trong rừng cây có hai nhà sư mặc áo
màu xám tro bước ra, một cao một lùn. Nhà sư cao gầy quát: -Giác Viễn không
giữ giới pháp, dám tự tiện mở mồm nói chuyện với người ngoài chùa, nhất là
lại nói chuyện với một thiếu nữ trẻ tuổi? Mau đi gặp thủ tọa giới luật đường.
Giác Viễn lủi thủi, chỉ gật đầu, đi theo hai tăng nhân nọ.
Quách Tương vừa tức, vừa giận, lớn tiếng hỏi: -Trên đời này sao lại có lề luật
đâu cấm người ta nói chuyện bao giờ? Tôi quen biết vị đại sư này, tôi nói
chuyện với ông ta, việc gì đến các ông?
Nhà sư cao gầy trừng mắt nhìn, nói: -Từ một nghìn năm nay, chùa Thiếu Lâm
không cho phép nữ lưu bước chân vào. Mời cô nương xuống núi, đừng để
chúng tôi phải làm phiền.
Quách Tương nổi giận: -Nữ lưu thì đã sao? Đàn bà con gái không phải người
à? Các ngươi tại sao làm khó dễ vị Giác Viễn đại sư này? Đã lấy xiềng xích trói
người ta, lại còn không cho người ta nói chuyện?
Nhà sư đó cười nhạt: -Việc của bản tự, đến hoàng đế cũng chẳng can thiệp
được. Không dám để cô nương phải nhọc lòng hỏi đến.
Quách Tương càng giận hơn: -Vị đại sư này là người thực thà trung hậu, thấy
người ta hiền lành, các ngươi hiếp đáp. Hừ hừ, Thiên Minh thiền sư đâu? Vô
Sắc, Vô Tướng hòa thượng đâu? Các ngươi đi gọi họ ra đây để ta hỏi họ xem
thế là thế nào?
Hai nhà sư nọ nghe thấy thế đều giật mình. Thiên Minh thiền sư là phương
trượng của chùa, Vô Sắc thiền sư là thủ tọa La Hán đường, còn Vô Tướng
thiền sư là thủ tọa Đạt Ma đường. Ba người địa vị tôn quí nên tăng lữ trong
chùa trước nay chỉ gọi là lão phương trượng, thủ tọa La Hán đường và thủ tọa
Đạt Ma đường, chứ không dám gọi bằng pháp danh. Ngờ đâu một cô gái trẻ
tuổi lại dám lên núi hô hoán thẳng tên như thế.
Hai tăng nhân này đều là đệ tử của thủ tọa giới luật đường, được lệnh tọa sư
sai đi giám thị Giác Viễn. Nghe thấy Quách Tương ăn nói không kiêng nể gì ai,
nhà sư cao gầy quát: -Nữ thí chủ nếu còn làm rộn chốn Phật môn thanh tịnh
thì đừng trách tiểu tăng vô lễ.
Quách Tương nói: -Bộ tưởng ta sợ sư sãi các ngươi hay sao? Mau mau tháo
dây xích xiềng trói Giác Viễn đại sư ra thì ta để yên, nếu không ta sẽ lôi Thiên
Minh lão hòa thượng ra hỏi đấy.
Nhà sư lùn nghe thấy Quách Tương ăn nói lếu láo, bên hông lại đeo đoản
kiếm, nên gằn giọng: -Cô tháo binh khí để lại, chúng tôi không cãi lý với cô,
mau xuống núi đi.
Quách Tương tháo đoản kiếm ra, hai tây nâng lên cười nhạt: -Hay lắm, xin
tuân lệnh tôn đài.
Gã sư lùn từ nhỏ xuất gia, trước nay nghe sư bá, sư thúc, sư huynh đều nói là
Thiếu Lâm tự là nguồn gốc chung của võ học, lại nghe là dù thanh vọng lớn
đến thế nào chăng nữa, võ lâm cao thủ tài ba đến mấy chăng nữa, cũng
không ai dám đeo binh khí tiến vào trong chùa Thiếu Lâm. Cô gái trẻ tuổi này
tuy chưa bước chân vào cổng chùa, nhưng cũng đã thuộc phạm vi của Thiếu
Lâm, hẳn là cô ta cũng sợ nên líu ríu giao đoản kiếm. Nghĩ thế nên y đưa tay
nhận kiếm. Tay gã vừa chạm vào bao kiếm bỗng thấy cánh tay chấn động như
bị điện giật. Một luồng sức mạnh từ đoản kiếm truyền lên, hất về phía sau,
chân đứng không vững khiến gã ngã bổ chửng. Gã đang đứng tại triền núi
dốc, bị ngã liền lộc cộc lăn xuống mấy trượng, may cố gượng mới dừng lại
được.
Nhà sư cao gầy vừa tức vừa sợ, quát: -Ngươi ăn tim sư tử, uống mật báo hay
sao mà dám tới Thiếu Lâm tự gây rối hả?
Y xoay người lại, tiến lên một bước, tay phải tung ra một chưởng, tay trái cũng
đi theo đè lên tay phải, hai tay cùng đánh ra, chính là thế thứ hai mươi tám
trong "Sấn Thiếu Lâm" Phiên Thân Phách Kích.
Quách Tương tay cầm cán kiếm, dùng cả kiếm lẫn bao nhằm vai gã điểm tới.
Nhà sư hạ vai xuống phản kích, vươn tay chộp lấy bao kiếm. Giác Viễn đứng
bên thấy thế hoảng hốt kêu lên: -Xin đừng động thủ, đừng động thủ! Hãy từ
từ nói chuyện phải quấy.
Lúc đó tăng nhân đã nắm được bao, đang định vận kình đoạt kiếm, chỉ thấy
lòng bàn tay bị chấn động, hai cổ tay hơi tê đi, kêu lên một tiếng: "Hỏng rồi",
Quách Tương chân trái đã quét ngang, đá y văng xuống sườn núi.
Y bị đòn so với gã sư lùn nặng hơn nhiều, lăn xuống, trên đầu, trên mặt bị va
vào đá máu chảy lênh láng, mãi mới ngừng lại được. Quách Tương nghĩ thầm:
"Ta lên chùa Thiếu Lâm vốn chỉ muốn dò hỏi tin tức đại ca, vô cớ cùng bọn họ
động thủ, xem ra không ổn rồi".
Liếc mắt thấy Giác Viễn mặt mày buồn thiu đứng tại bên cạnh, nên rút đoản
kiếm ra, chặt những xích buộc ở tay ông ta. Tuy đoản kiếm đó không phải là
vật hi hữu, quí báu, nhưng cũng là một loại binh khí rất sắc bén, chỉ nghe
loảng xoảng mấy tiếng, dây xích đã đứt thành ba khúc. Giác Viễn luôn mồm
kêu: -Không được đâu! Không được đâu!
Quách Tương hỏi lại: -Cái gì mà không được?
Rồi chỉ tay về phía hai tăng nhân cao lùn đang chạy vào chùa mà nói: -Hai tên
ác hòa thượng đó hẳn là vào chùa phi báo, mình phải chạy ngay. Đồ đệ họ
Trương của ông đâu? Dắt cậu ta theo với.
Giác Viễn chỉ xua tay. Bỗng phía sau có tiếng người nói: -Đa tạ cô nương quan
tâm, tôi đang ở đây.
Quách Tương quay lại, thấy đằng sau lưng một thiếu niên chừng mười sáu,
mười bảy tuổi, mày rậm mắt to, thân thể cao lớn, nhưng mặt vẫn còn trẻ con,
chính là Trương Quân Bảo, người ba năm trước đã gặp trên núi Hoa Sơn. So
với bây giờ, cậu ta đã cao lớn hơn nhiều, nhưng dung mạo không thay đổi
mấy. Quách Tương mừng quá, vội nói: -Bọn ác hòa thượng ở đây chèn ép sư
phụ ngươi, mình nên chạy ngay đi.
Trương Quân Bảo lắc đầu: -Không ai chèn ép sư phụ tôi đâu.
Quách Tương chỉ Giác Viễn: -Hai gã ác hòa thượng đó lấy xích buộc sư phụ
ngươi, lại một câu cũng không cho nói, chẳng chèn ép thì là gì?
Giác Viễn nhăn nhó lắc đầu, chỉ xuống chân núi, ý muốn Quách Tương mau
mau thoát thân, đừng để bị rắc rối. Quách Tương biết rằng trong chùa Thiếu
Lâm số người võ công cao hơn nàng không biết bao nhiêu, nhưng thấy việc
bất bình trước mắt, không thể xuôi tay bỏ qua; lại ngại cao thủ trong chùa
chạy ra ngăn trở, nên một tay nắm Giác Viễn, một tay nắm Trương Quân Bảo,
dậm chân nói: -Chạy mau, chạy mau, có chuyện gì xuống núi đã rồi hãy nói
cũng được.
Hai người chỉ đứng yên không trả lời. Bỗng thấy cửa chùa ở triền núi bên dưới
chạy ra bảy tám tăng nhân, tay cầm tề mi đại côn, kêu lên: -Con nhỏ mất dạy
nào dám đến chùa Thiếu Lâm mà phá phách?
Trương Quân Bảo đưa tay làm loa kêu lớn: -Các vị sư huynh không được vô lễ,
đây là ...
Quách Tương hoảng hốt: -Đừng nói tên tôi ra.
Nàng nghĩ chuyện ngày hôm nay xem chừng không nhỏ, thể nào rồi cũng đồn
ra đến tai cha mẹ, nên thêm một câu: -Bọn mình nên theo đường núi chạy
ngay, tuyệt đối đừng đề cập đến tên cha mẹ, bạn bè tôi.
Chỉ nghe thấy sườn núi phía sau cũng có tiếng người la ó, lại thêm bảy tám
nhà sư nữa chạy ra. Quách Tương thấy trước sau đều có sư bao vây, nhíu mày,
trách: -Các ngươi cứ lừng chà lừng chừng, không có chút khí phách gì của
nam nhi, chạy hay không nào?
Trương Quân Bảo nói: -Sư phụ, cô nương đây có lòng tốt ...
Ngay lúc đó, cửa chùa bên dưới lại ra thêm bốn nhà sư áo vàng, phấp phới
chạy thẳng lên, tay không cầm binh khí nhưng thân pháp nhanh nhẹn, gió thổi
vào áo phần phật, xem ra võ công không phải tầm thường. Quách Tương thấy
tình thế như vậy, xem chừng chạy thoát thân một mình cũng không xong, nên
ngưng khí đứng yên, chờ xem chuyện gì xảy ra. Nhà sư chạy đầu đến cách cô
ta chừng bốn trượng, lớn tiếng nói: -Thủ tọa La Hán đường sư tôn truyền
rằng, người đến chùa mau bỏ binh khí, xuống lều tranh dưới núi nói rõ sự tình,
để nghe pháp dụ.
Quách Tương cười nhạt: -Gớm, các đại hòa thượng chùa Thiếu Lâm quan cách
quá, nghe thật lọt tai. Xin hỏi các đại hòa thượng là quan của hoàng đế Đại
Tống, hay là quan của hoàng đế Mông Cổ đấy?
Khi đó đất đai phía bắc sông Hoài không còn thuộc về nhà Đại Tống nữa, khu
vực chùa Thiếu Lâm cũng đã thuộc về Mông Cổ từ lâu. Thế nhưng quân Mông
nhiều năm qua còn bận công thành Tương Dương chưa được, phải lo điều
binh khiển tướng không hơi sức đâu mà lo chuyện chùa chiền, nên chùa Thiếu
Lâm mọi sự vẫn y như ngày trước.
Gã tăng nhân nghe Quách Tương mỉa mai thật là chua cay, nên không khỏi đỏ
mặt, cảm thấy đối với người ngoài mà truyền dụ như vậy quả không ổn, nên
chắp tay nói: -Không biết nữ thí chủ có chuyện gì mà quang lâm tệ tự, xin để
binh nhận, mời xuống vi đình dưới chân núi uống trà nói chuyện.
Quách Tương thấy y đổi giọng hòa nhã, nên cũng muốn làm hòa, nên nói: Các ông không cho tôi vào chùa thì thôi. Hừ, hay là trong chùa có báu vật, tôi
trông thấy sẽ được thơm lây chăng?
Nói rồi liếc nhìn Trương Quân Bảo, nói nhỏ: -Có chạy hay không thì bảo?
Trương Quân Bảo lắc đầu, nhếch mép về phía Giác Viễn, ý nói muốn ở lại hầu
hạ sư phụ. Quách Tương lớn tiếng nói: -Thế thì thôi ta không lo cho nữa, ta đi
đây.
Nói rồi rảo bước chạy xuống núi.
Nhà sư áo vàng đi đầu né sang nhường lối. Người thứ hai và người thứ ba giơ
tay ngăn lại, cùng nói: -Hãy khoan, để binh khí lại.
Quách Tương nhướng mày, tay để lên cán kiếm. Nhà sư thứ nhất nói: -Chúng
tôi không dám giữ binh nhận của nữ thí chủ đâu. Khi xuống đến chân núi,
chúng tôi lập tức đem bảo kiếm giao lại. Đây là qui củ của chùa Thiếu Lâm
hàng nghìn năm nay, xin lượng thứ cho.
Quách Tương nghe y ăn nói lễ độ, trong lòng thầm tính: "Nếu như mình không
để kiếm lại, thế tất phải đánh nhau, ta chỉ có một mình, đâu phải là địch thủ
của tăng chúng chùa Thiếu Lâm. Thế nhưng nếu để kiếm lại, chẳng há đem
thể diện ông ngoại, cha mẹ, đại ca ca, Long tỉ tỉ bỏ đi sao?".
Nàng còn đang trù trừ chưa quyết, chỉ thấy trước mắt một bóng vàng thấp
thoáng, một người thét: -Đã đeo kiếm đến chùa Thiếu Lâm, lại đả thương
người, trên đời này đâu có lý nào như thế.
Kình phong xô tới, năm ngón tay đã chộp lấy bao kiếm. Giá như tăng nhân đó
để yên không ra tay, Quách Tương thấy trước mắt tình thế bất lợi, ắt sẽ tạm
nhịn cái khí nhất thời, sau sẽ cùng với ông ngoại, cha mẹ bàn luận rồi quay lại
tính chuyện. Thế nhưng đối phương đột nhiên ỷ mạnh, chẳng lẽ để y khơi khơi
đoạt kiếm sao?
Cầm nã thủ pháp của nhà sư đó quả thực xảo diệu, vừa nắm được bao kiếm,
nghĩ là thể nào Quách Tương cũng giựt lại, một hòa thượng cùng một cô gái
co co kéo kéo, trông rất bất nhã, nên y vận kình đẩy sang bên trái, thuận thế
lại kéo về bên phải. Quách Tương bị y vừa nắm vừa đẩy như thế quả nhiên
không cưỡng lại được phải lỏng tay ra, vội chụp lấy cán kiếm, chỉ soẹt một
tiếng, hàn quang lấp lánh. Tăng nhân nọ tay phải tuy cầm được bao kiếm
nhưng hai ngón tay trái đã bị đoản kiếm thuận thế cắt đứt, đau quá phải ném
bao kiếm, lui sang một bên.
Chúng tăng nhân thấy đồng môn bị thương, vừa kinh vừa giận, múa trượng
giơ côn cùng xông lại. Quách Tương nghĩ thầm: "Thôi thì đến đâu thì đến,
hôm nay chuyện xem không xong rồi". Nghĩ rồi sử dụng tài nghệ gia truyền
"Lạc Anh kiếm pháp", vừa múa vừa xông xuống chân núi. Các nhà sư xếp
thành ba vòng, chia nhau đỡ gạt.
Lạc Anh kiếm pháp vốn do Hoàng Dược Sư theo Lạc Anh chưởng pháp mà chế
ra, tuy không tinh diệu bằng Ngọc Tiêu kiếm pháp, nhưng cũng là một tuyệt
kỹ của đảo Đào Hoa. Chỉ thấy ánh xanh lấp loáng, kiếm hoa từng điểm, như
phất phới đang rơi khắp bốn bề. Trong chốc lát đã có hai tăng nhân bị thương.
Thế nhưng phía sau lại có mấy nhà sư xông lên, thế từ cao đánh xuống. Nếu
theo lý thì Quách Tương không thể nào đương cự nổi, nhưng tăng chúng
Thiếu Lâm lấy từ bi làm gốc, không muốn hại đến tính mệnh cô ta, chiêu số
đánh ra không dùng sát thủ, chỉ cốt đánh ngã, dạy dỗ một phen, giữ binh khí
lại, đuổi xuống chân núi. Thế nhưng Quách Tương kiếm quang mù mịt, không
dễ gì tới được gần.
Lúc đầu tăng chúng nghĩ rằng cô gái tuổi còn trẻ, nên coi thường. Đến lúc
thấy kiếm pháp tinh kỳ, biết là không thuộc giòng giõi danh môn cũng là đồ đệ
danh sư, không nên đắc tội, phải ra chiêu dè dặt, một mặt cấp báo cho thủ
tọa La Hán đường Vô Sắc thiền sư.
Đang lúc đó, một vị sư già thân thể cao gầy chầm chậm đi tới, hai tay luồn
trong tay áo, mỉm cười xem hai bên giao đấu. Hai tăng nhân chạy đến trước
mặt ông ta, nói khẽ vài câu. Quách Tương lúc này đã thở hồng hộc, kiếm pháp
lăng loạn, kêu lớn: -Vậy mà dám gọi là nguồn gốc võ công thiên hạ, hóa ra
hơn một chục hòa thượng vây đánh một người, lấy đông thắng ít.
Vị lão tăng đó chính là thủ tọa La Hán đường Vô Sắc thiền sư, nghe vậy, liền
nói: -Mọi người dừng tay!
Những nhà sư nghe thế vội ngưng lại nhảy ra ngoài. Vô Sắc thiền sư nói: -Cô
nương tên họ là gì, lệnh tôn và lệnh sư là ai? Đến chùa Thiếu Lâm chẳng hay
có chuyện gì thế?
Quách Tương nghĩ thầm "Ta không nên nói tên họ cha mẹ cho ông ta biết.
Việc ta đến chùa Thiếu Lâm để thăm hỏi tin tức của đại ca cũng không thể nói
ra cho mọi người nghe được. Mình đã gây rắc rối thế này, cha mẹ và đại ca
biết được thể nào cũng rầy rà, chi bằng mình cứ lặng thinh là hơn." Vì thế
nàng đáp: -Tên họ tôi không thể cho ông biết được, chẳng qua tôi thấy trên
núi phong cảnh đẹp đẽ, nên lên ngắm cảnh đấy thôi. Nào ngờ chùa Thiếu Lâm
so với nội viện hoàng cung còn khó khăn hơn, chẳng làm gì cũng đòi giữ binh
khí người ta lại. Xin hỏi đại sư, tôi đã bước chân vào cổng chùa chưa? Ngày
trước Đạt Ma tổ sư truyền võ nghệ, chẳng qua cũng chỉ để cho tăng chúng
thân thể khỏe mạnh, khiến việc tu hành cho tinh tiến, nào hay danh tiếng
càng to, võ công càng cao, thì cái việc cậy đông cậy mạnh lại càng lớn. Hay
lắm, nếu các ông muốn giữ binh khí của tôi, thì tôi để lại, trừ phi giết tôi đi,
chứ việc hôm nay đừng tưởng trên giang hồ không ai biết đến.
Cô ta bản chất nhanh mồm khéo miệng, việc này lại không phải hoàn toàn lỗi ở
nàng, chỉ một câu khiến Vô Sắc thiền sư cứng họng không trả lời được. Quách
Tương nhìn mặt đặt tên, nghĩ thầm: "Việc quấy phá này chính ta mới là người
sợ lộ ra ngoài, nhưng xem ra Thiếu Lâm tự còn ngại hơn. Hơn một chục hòa
thượng vây đánh một cô gái trẻ tuổi, nghe có gì là hay ho?". Nghĩ thế bèn hứ
một tiếng, ném đoản kiếm xuống đất, quay mình bước đi.
Vô Sắc thiền sư lạng người tiến lên, phất tay áo một cái đã cuộn được thanh
kiếm, hai tay cầm lấy lưỡi kiếm, nói: -Cô nương nếu không nể tình thầy trò
chúng tôi, thanh bảo kiếm này xin cầm lại. Lão nạp cung kính tiễn cô xuống
núi.
Quách Tương nghe vậy cười đáp: -Xem ra lão hòa thượng thông đạt tình lý,
thế mới gọi là phong phạm của bậc danh gia.
Cô ta thấy mình được thế nên thuận mồm khen Vô Sắc một câu, rồi thò tay
nhắc kiếm, bỗng thấy giật mình. Nguyên lai lòng bàn tay đối phương sinh ra
một hấp lực, tuy cô ta đã cầm được cán kiếm nhưng không sao nâng lên được.
Nàng ra sức vận kình ba lần nhưng vẫn không sao lấy được đoản kiếm, bèn
nói: -Hay nhỉ, ông định khoe công phu chăng.
Đột nhiên tay trái vung ra, nhẹ nhàng hướng vào hai huyệt Thiên Đỉnh, Cự Cốt
ở bên trái cổ ông ta phất tới. Vô Sắc kinh hãi, né người tránh, khí kình hơi lỏng
ra nên Quách Tương thuận thế mà lấy được đoản kiếm.
Vô Sắc nói: -Công phu Lan Hoa Phất Huyệt Thủ hay thực. Chẳng hay cô xưng
hô Đào Hoa đảo chủ như thế nào?
Quách Tương cười đáp: -Đào Hoa đảo chủ ư? Tôi gọi ông ta là Lão Đông Tà.
Đào Hoa đảo chủ Đông Tà Hoàng Dược Sư chính là ông ngoại của Quách
Tương, tính tình khác người, trước nay vốn không câu nệ lễ phép, thường đùa
cô cháu ngoại gọi là Tiểu Đông Tà, Quách Tương liền gọi lại ông ngoại là Lão
Đông Tà, Hoàng Dược Sư không những không la rầy, còn tỏ ra hoan hỉ.
Vô Sắc lúc thiếu thời vốn là lục lâm, tuy đã nương thân cửa thiền mấy chục
năm tu trì, Phật học uyên thâm, nhưng hào khí xưa vẫn chưa dứt, nếu không
làm sao kết bạn được với Dương Quá? Thấy cô gái này không chịu khai sư
thừa lai lịch, định thử một chuyến, nên lớn tiếng nói: -Tiểu cô nương tiếp ta
mười chiêu, để xem nhãn lực lão hòa thượng thế nào, có nói ra được môn phái
của cô chăng?
Quách Tương hỏi lại: -Nếu như mười chiêu mà không nhìn ra, thì ông tính sao?
Vô Sắc thiền sư lớn tiếng cả cười: -Nếu như cô nương tiếp được lão nạp mười
chiêu, thì cô muốn chuyện gì ta cũng nghe theo.
Quách Tương chỉ Giác Viễn: -Tôi cùng vị đại sư này trước đây có duyên một
lần gặp gỡ, nên muốn thay ông ta cầu chút tình. Nếu như mười chiêu mà ông
không nói được sư phụ tôi là ai, chỉ xin ông đáp lời, đừng làm khó dễ vị đại sư
này nữa.
Vô Sắc hết sức ngạc nhiên, nghĩ thầm Giác Viễn tính tình ngơ ngơ ngẩn ngẩn,
mấy chục năm qua tại Tàng Kinh Các giữ sách, trước nay chưa từng cùng
người ngoài giao thiệp, tại sao lại quen được với cô gái này? Bèn nói: -Chúng
tôi vốn đâu có làm khó dễ gì y. Tăng chúng trong chùa phạm giới luật, dù ai
cũng vậy, cũng phải chịu phạt chứ đâu phải là làm khó dễ.
Quách Tương bĩu môi, cười: -Hừ, nói qua nói lại, ông cũng đều né tránh cả.
Vô Sắc vỗ tay một cái, nói: -Được rồi, theo lời cô. Nếu như lão nạp thua, sẽ
thay sư đệ Giác Viễn gánh ba nghìn một trăm linh tám gánh nước. Cô nương
lưu ý, ta xuất chiêu đây.
Khi đang nói chuyện, Quách Tương đã thầm tính trong lòng: "Lão hòa thượng
này khí ngưng thần tĩnh, võ công cao cường, nếu như để ông ta xuất chiêu, ta
ắt phải hết sức chống đỡ, không thể nào không lộ võ công của cha mẹ mình
ra. Chi bằng ta chiếm tiên cơ, đánh ra mười chiêu liền". Nghe ông ta vừa nói
hai câu "Cô nương lưu ý, ta xuất chiêu đây" nên không đợi ông ta ra quyền
cước, nghe vèo một tiếng đoản kiếm đã nhắm thẳng vào ngực đâm tới, sử
dụng một chiêu trong Lạc Anh kiếm pháp của đảo Đào Hoa, tên là Vạn Tử
Thiên Hồng, mũi kiếm đâm ra liên tiếp rung động, ...
 





