BẢN TIN HÔM NAY

Sách như một cánh cổng diệu kỳ đưa ta đến những chân trời của lý tưởng, khát vọng và bình yên. Cuộc đời ta thay đổi theo hai cách: Qua những người ta gặp và qua những cuốn sách ta đọc. Đọc sách là nếp sống, là một nét đẹp văn hóa và là nguồn sống bất diệt. Việc đọc cũng giống như việc học. Có đọc, có học thì mới có nhân. Thói quen đọc sách chỉ được hình thành và duy trì khi chữ tâm và sách hòa quện làm một. Người đọc sách là người biết yêu thương bản thân mình và là người biết trân trọng cuộc sống. Việc đọc một cuốn sách có đem lại cho bạn lợi ích hay không, phụ thuộc vào thái độ và tâm thế của bạn khi đọc.

NƠI ẤY LÀ TÌNH YÊU

VIDEO GIỚI THIỆU SÁCH CỦA THƯ VIỆN

Thống kê

  • truy cập   (chi tiết)
    trong hôm nay
  • lượt xem
    trong hôm nay
  • thành viên
  • Thành viên trực tuyến

    1 khách và 0 thành viên

    CHÂM NGÔN HAY

    Những gì sách dạy chúng ta cũng giống như lửa. Chúng ta lấy nó từ nhà hàng xóm, thắp nó trong nhà ra, đem nó truyền cho người khác và nó trở thành tài sản của tất cả mọi người. - Voltaire Đọc sách có thể không giàu, nhưng không đọc, chắc chắn nghèo! Một cuốn sách hay thực sự hay dạy tôi nhiều điều hơn là đọc nó, Tôi phải nhanh chóng đặt nó xuống, bắt đầu sống theo những điều nó chỉ dẫn. Điều tôi bắt đầu bằng cách đọc, tôi phải kết thúc bằng hành động - Henry David Thoreau Đằng sau thành công của một con người không thể thiếu một cuốn sách gối đầu. Sách là kho báu tri thức của cả nhân loại, là kết tinh trí tuệ qua bao thế hệ con người. Một cuốn sách hay chính là chìa khóa quan trọng để mỗi con người có thể chinh phục mọi khó khăn và chạm đến thành công. Để cho con một hòm vàng không bằng dạy cho con một quyển sách hay. Lựa sách mà đọc cũng như lựa bạn mà chơi. Hãy coi chừng bạn giả.

    Ảnh ngẫu nhiên

    Anh_phong_thu_vien.jpg Toan5KetnoiBai1OntapsotunhienTiet1trang6.jpg Toan5KetnoiBai9LuyentapchungTiet2Trang30.jpg Toan5KetnoiBai9LuyentapchungTiet3Trang31.jpg IMG20240223151732.jpg IMG20240103091955.jpg IMG20240223144040.jpg IMG20240223140316.jpg Xep_sach_nghe_thuat_bac_giap.jpg 9ad2f57a8ea52ffb76b4.jpg 3f5be303b0dc118248cd.jpg 0145e51db6c2179c4ed3.jpg 3f5be303b0dc118248cd.jpg IMG20231129152201.jpg Bo_tri_sap_xep_sach_trong_TV_3.jpg Doc_sach_trong_thu_vien.flv Phong_thu_vien.flv Co_so_vat_chat_trong_thu_vien_4.jpg Co_so_vat_chat_trong_thu_vien_1.jpg Co_so_vat_chat_trong_thu_vien_2.jpg

    SÁCH ĐIỆN TỬ SGK, SGV

    HÌNH ẢNH TIÊU BIỂU

    Day la tieu de

    Day la dau de

    Phan noi dung cua tai lieu ...

    Thư viện là kho tàng tri thức của nhân loại

    Ý NGHĨA CỦA VIỆC ĐỌC SÁCH

    Truyện cổ nước Nam quyển hạ

    Wait
    • Begin_button
    • Prev_button
    • Play_button
    • Stop_button
    • Next_button
    • End_button
    • 0 / 0
    • Loading_status
    Nhấn vào đây để tải về
    Báo tài liệu có sai sót
    Nhắn tin cho tác giả
    (Tài liệu chưa được thẩm định)
    Nguồn:
    Người gửi: Phạm Thị Chiêm
    Ngày gửi: 22h:08' 05-05-2024
    Dung lượng: 1.9 MB
    Số lượt tải: 1
    Số lượt thích: 0 người
    Tên sách : TRUYỆN CỔ NƯỚC NAM (Q2)
    MUÔNG CHIM
    Tác giả : ÔN NHƯ NGUYỄN VĂN NGỌC
    Nhà xuất bản : THĂNG LONG
    Năm xuất bản : 1934
    -----------------------Nguồn sách : tusachtiengviet.com
    Đánh máy : bongmoloko, thuantran46, ThaiThaiCJ, Thuong Nguyen,
    little_lion, kd1995, huong.nguyenthu, Khongtennao, laithuylinh, bhp
    Kiểm tra chính tả : Phạm Bách, Trần Trung Hiếu,
    Nguyễn Thị Linh Chi, Trần Khang
    Biên tập chữ Hán – Nôm : Đỗ Văn Huy
    Biên tập ebook : Thư Võ
    Ngày hoàn thành : 30/12/2018

    Ebook này được thực hiện theo dự án phi lợi nhuận « SỐ HÓA 1000
    QUYỂN SÁCH VIỆT MỘT THỜI VANG BÓNG » của diễn đàn
    TVE-4U.ORG
    Cảm ơn tác giả ÔN NHƯ NGUYỄN VĂN NGỌC và nhà xuất bản
    THĂNG LONG đã chia sẻ với bạn đọc những kiến thức quý giá.

    MỤC LỤC
    MÀO ĐẦU
    1) CON LƯƠN VÀ CON CÁ RÔ
    2) CON CÔNG VÀ CON QUẠ
    3) CON GIUN KHÔN NGOAN
    4) VOI NGỰA ĐUA NHAU
    5) CON GIÁN VÀ CON NHỆN
    6) CON CÓC LÀ CẬU ÔNG TRỜI
    7) CON GÀ, CON LỢN VÀ CON CHÓ
    8) CON CHÈO BẺO
    9) CON TÔM VÀNG
    10) TẠI SAO DƠI ĂN MUỖI
    11) CON THỎ VÀ CON CHÓ
    12) LỪA THI TÀI VỚI NGỰA
    13) TU HÚ GỌI CÔ
    14) CHÀO MÀO ĂN TRỘM ĐÀO
    15) CHÀO MÀO VÀ CÚ
    16) CON CHANH-CHANH VÀ CON CHẢ-CHẢ
    17) KHƯỚU DẠY HỌC
    18) RÙA-RÙA DẠY KHÔN
    19) CHÓ RỪNG VÀ CỌP
    20) PHÙ DU VÀ ĐOM ĐÓM
    21) HÉT ĂN GIUN
    22) KIẾN, ONG CHỌI VỚI CÓC

    23) DÊ ĐI KIẾM ĂN VỚI CỌP
    24) DIỀU VỚI GÀ
    25) CẠC CẠC KẸC KẸC
    26) LÝ TRƯỞNG DIỀU HÂU
    27) CON DƠI
    28) TRÂU NHÀ VÀ TRÂU RỪNG
    29) CON VOI VỚI CON TRÂU
    30) CHUỘT VÀ MÈO
    31) THẰN LẰN MỒNG NĂM
    32) THẰN LẰN TRỘM CHÂN
    33) CÔNG VÀ GÀ
    34) CON CÔNG VÀ LÀNG CHIM
    35) CÓC THI TÀI VỚI VOI
    36) THUỒNG LUỒNG TỊ VỚI RÙA
    37) RÙA CHƠI VỚI HẠC
    38) VÀNG ANH
    39) CUỐC KÊU TRĂNG
    40) LÀM KIẾP CON GÌ
    41) ĐEO NHẠC CHO MÈO
    42) CỌP KHÔNG SỢ DÊ
    43) CỌP CŨNG KHÔNG SỢ NGỰA
    44) TÌNH VỢ CHỒNG NGHĨA ANH EM
    45) QUẠ BẮC CẦU
    46) SÁO VÀ CÒ
    47) CON CHÓ VÀNG VÀ CON CHÓ ĐEN

    48) MỌT VÀ TÒ VÒ
    49) CHÈO BẺO VÀ ÁC LÀ
    50) TRÂU CÀY TRÂU CỘT
    51) TRÂU BÉO, TRÂU GẦY
    52) TẠI SAO CON TRÂU KHÔNG BIẾT NÓI
    53) GÀ, VỊT VÀ CHIM KHÁCH
    54) THẰN LẰN VỚI RẾT
    55) QUẠ ẤU HỌC
    56) TU HÚ VÀ CHIỀN CHIỆN
    57) TU HÚ VÀ QUẠ
    58) CON BỒ CÂU VÀ CON SÁO
    59) CHÂU CHẤU KIỆN VOI
    60) CÁ RÔ ĐI THI
    61) LÀNG CHIM KÊU LÝ TRƯỞNG
    62) LÝ TRƯỞNG KHƯỚU
    63) RÙA ĐỘI BIA
    64) CON RẮN VÀ NGƯỜI NUÔI RẮN
    65) LONG VƯƠNG VÀ CON ẾCH
    66) CON CÒ TRẮNG
    67) CHÓ BA CẲNG
    68) CỐC VÀ CÁ
    69) ĐA ĐA VÀ CÒ
    70) CÁ VỚI NGAO
    71) CHIỀN CHIỆN VÀ CHOI CHOI
    72) CHIM SẺ VÀ CHIM XANH

    73) CHÀO MÀO MUỐN LẤY CHIM XANH
    74) CHÓ PHẢI ĐÒN OAN
    75) QUẠ ĂN TRỘM NGÔ
    76) GÀ ÔNG ĐỒ VÀ GÀ ÔNG NGHÈ
    77) HAI VỢ CHỒNG CON CHIỀN CHIỆN VÀ ÔNG SƯ
    78) CÁ CHÉP HÓA RỒNG
    79) CON RẮN VỚI CON HỔ
    80) TẶC KÈ VÀ NÒNG NỌC
    81) CON NHỆN BÁO TIN
    82) CON NHỆN VÀ CON RUỒI
    83) RUỒI, NHẶNG VỚI NHỆN
    84) VOI, CỌP THI TÀI
    85) CHẪU CHÀNG CÓ CHÍ HỌC HÀNH
    86) GÀ RỪNG
    87) CHÂU CHẤU VỚI CÀO CÀO
    88) CHÂU CHẤU ĐÁ VOI
    89) CHÍCH CHÒE VÀ VÀNG ANH
    90) CON THỎ, CON CHÓ VÀ CON MÈO
    91) CON RUỒI VÀ CON RỆP
    92) CON CUA VÀ CON CÁY
    93) TU HÚ VÀ CHIM SẺ
    94) MÈO MẮC LỪA CHUỘT
    95) DIỀU VỚI CẮT VÀ QUẠ
    96) DIỀU, QUẠ TRANH NHAU
    97) KIẾN VỚI CÁ

    98) ONG VẼ
    99) CON LỢN ĂN NO LẠI NẰM
    100) CHẼO CỜ VÀ VẸT
    101) MUỖI, CHẤY VÀ ĐOM ĐÓM
    102) TRANH BAY TRƯỚC, SAU
    103) CON LE VÀ CON VỊT
    104) CON CỐC VÀ CON ÉN
    105) CON CHÓ CÓ NGHĨA
    106) CON TRÂU GHEN VỚI CON CHÓ
    107) ĐỆ NHẤT CÔNG THẦN
    108) VỊT ĐI XIN CHÂN
    109) CON CUỐC VÀ CON QUẠ
    110) GÀ MÁI GÁY
    111) GÀ MÁI VỚI GÀ CON
    112) CON CHÓ VÀ MẶT TRĂNG
    113) CÒ VÀ BỒ CÂU
    114) TRỜI CHIA CỦA
    115) CHIM CHÌA VÔI
    116) ỐC LO CHO ỐC
    117) CON MÈO
    118) KIẾN MỌC CÁNH
    119) CÓC ĐI THI
    120) CÓC BÔI VÔI
    121) CON CÓC VÀ CON CHUỘT
    122) SÁO MỎ VÀNG

    123) KY CÓP CHO CỌP NÓ ĂN
    124) TẠI SAO CỌP ĂN THỊT NGƯỜI
    125) TÔM CÁ KẾT BẠN
    126) TRÊ CÓC
    127) CỌP, HƯƠU, NHÍM VÀ SƯ TỬ
    128) CHUỘT BẠCH VÀ HAI VỢ CHỒNG CHUỘT CHÙ

    ÔN NHƯ
    NGUYỄN VĂN NGỌC

    TRUYỆN CỔ NƯỚC NAM
    In lần thứ II
    Chương trình Việt văn 1957 của B. Q. G. G. D.
    LỚP ĐỆ THẤT – ĐỆ LỤC
    TẬP II : MUÔNG CHIM
    THĂNG LONG

    MÀO ĐẦU
    Quyển này là quyển thứ hai trong bộ « Truyện cổ nước nam » mà
    chúng tôi cho xuất bản. Trong quyển này, sưu tập riêng những truyện về
    các giống « Muông chim ».
    Kể theo phương diện ý tưởng và văn thể, thì những truyện viết đây
    thay đổi nhiều lối, đại để như sau này :
    a) Những truyện do ở các câu ngạn ngữ, phong dao xuất sản ra, hay
    trái lại, những truyện mà sự thúc-kết đã đúc thành câu ngạn ngữ, phongdao.
    b) Những truyện có thể coi như có tính-cách giải nghĩa về khoa học,
    nhưng khoa học cổ-lỗ bất ngoại-hồ một câu hỏi « Tại sao ? ».
    c) Những truyện hoang đường thuộc về thuyết « Luân hồi », người
    hóa ra vật, vật hóa người.
    d) Những truyện xưa nay tập-tục nghiệm ra cho rằng thế và thuộc
    về tôn giáo hay sự mê tín.
    e) Những truyện tương đối với cái lối gọi là ngụ ngôn của Âu-tây,
    lấy câu kết luận làm câu luân lý để dạy người…
    Mỗi lối này đáng lẽ có thể chép rời ra từng mục một. Hoặc còn có
    thể thu cả những truyện chuyên về một giống vật nào cho đi liên tiếp với
    nhau để làm một cái sử riêng cho giống vật ấy.
    Việc đó, và cả việc nghiên-cứu, phê-bình quyển truyện hay từng
    truyện một, xin để sau này, khi chúng tôi soạn được trọn bộ và có đủ thời
    giờ, thì chúng tôi sẽ lưu tâm đến.
    Hiện nay, chúng tôi chỉ mới có cái công góp nhặt, và càng nhặt
    được nhiều bao nhiêu, chúng tôi càng lấy làm hay bấy nhiêu. Cho nên
    không đợi lựa chọn gì, trong sách chúng tôi cho tập họp cả các truyện
    lại và sắp đặt gián đoạn mỗi lối một ít, khiến cho người đọc có thể đọc
    luôn hết truyện này đến truyện khác mà không đến nỗi chán nản.

    Chúng tôi dám mong rằng khi xem quyển truyện, độc giả hoặc thấy
    chỗ nào có điều sai lầm hay bỏ sót, chỉ giáo cho chúng tôi sửa chữa lại
    hay bổ cứu vào, thì chúng tôi được lấy làm hân hạnh lắm.
    Hà-nội, ngày 22 tháng 5
    Năm Giáp-Tuất (3-7-1934)
    Ô. Nh. – NG.V.NG.

    1) CON LƯƠN VÀ CON CÁ RÔ
    Xưa con lươn và con cá rô là một đôi bạn thân, thường năng đi lại
    với nhau. Một hôm, rô đi kiếm ăn, qua chỗ lươn ở, thấy lươn đương nằm
    chơi trong lờ.
    Rô hỏi rằng : « Bác thư thả nằm chơi đấy ư ? »
    Lươn nói : « Tôi mới dựng được cái nhà nghỉ mát. Mời bác hãy ghé
    vào chơi ».
    Rô sợ không vào. Lươn rằng :
    - Nhà tôi gió mát, trăng trong,
    1

    Thềm cao, sân rộng, sổ song bốn bề.
    Xin bác đừng chê !
    Cá rô vẫn rụt rè đứng ở ngoài trông vào. Lươn lại rằng :
    - Nhà tôi cao rộng bốn bề,
    Bác vào nhà nghỉ không hề can chi.
    Xin chớ ngại gì !
    Rô bấy giờ bùi tai, chui vào trong lờ. Một chốc lươn vươn mình
    chui ra, rủ rô cũng mau mau ra để cùng ngao du sông bể. Nhưng rô đã
    mắc lờ, không làm thế nào mà ra được nữa. Lươn bảo rằng :
    - Mình em như cá vào lờ,
    Khi vào thì dễ, bây giờ khó ra.
    Xin cố chui qua.
    Nghe thấy lươn hát, rô nằm trong lờ, rô khóc mãi thế nào đến hai
    mắt đỏ ngầu lên. Lươn thấy rô khóc, lươn bật phì cười. Rô càng khóc
    bao nhiêu, thì lươn càng cười bấy nhiêu, cười mãi thế nào đến hai mắt
    híp lại. Bởi thế mà từ đấy mắt rô lúc nào cũng đỏ ngầu mà mắt lươn bao
    giờ cũng ti hí.

    2

    2) CON CÔNG VÀ CON QUẠ
    Xưa con công với con quạ, hai con làm bạn với nhau thân lắm, vì
    hai con cùng xấu cả. Một hôm hai con ngồi nói chuyện với nhau.
    Quạ bảo công rằng  : «  Ta thử xem các giống chim trên rừng, trên
    núi, giống nào cũng đẹp. Này như : con phượng hoàng, cái mình nó quý
    giá biết bao, đến nỗi người ta thường khen : « Một cái lông con phượng
    hoàng bằng cả một làng chim chích  ». Lại như con hạc, cái hình, cái
    dạng, cái chân, cái tóc nó thanh tao biết thế nào, để cho người ta phải
    nói : « Hạc đứng chầu Vua ; Nghìn năm tóc bạc, tuổi rùa cũng xinh ».
    Còn như anh em ta đây ! than ôi ! thân hình thật không còn giống nào
    xấu bằng nữa ! »
    Công nói : « Phận xấu đành vậy, chớ biết làm sao bây giờ ? »
    Quạ nghĩ một lúc rồi bàn rằng  : «  Xấu mà làm ra đẹp, cũng được
    chớ gì ! Bây giờ hai đứa ta thử tô điểm vẽ vời lẫn cho nhau xem có đẹp
    hay không ? »
    Công bằng lòng. Quạ bèn tô điểm, vẽ vời cho công trước. Quả nhiên
    cái mình, cái đuôi công lóng lánh thành có bao nhiêu sắc đẹp, đẹp hơn
    những giống chim khác nhiều. Đến lượt công đang ngồi tô điểm, vẽ vời
    cho quạ, thì chợt nghe tiếng ríu rít biết bao nhiêu chim con ở phía đông
    bay lại.
    Quạ liền hỏi : « Chúng mày đi đâu mà kéo đàn, kéo lũ như thế ? »
    Đàn chim nói  : «  Chúng tôi nghe đồn ở dưới phương nam có nơi
    nhiều gạo, nhiều gà, lại có cả mấy cái thây ma nữa. Chúng tôi rủ nhau đi
    kiếm ăn đây. Anh làm gì đấy ?… Hay ta đi một thể ».
    Quạ nghe nói, trong lòng háo hức muốn đi theo đàn chim kia ngay
    lập tức. Quạ mới nói với công rằng : « Bây giờ mà tôi ngồi đợi để anh tô
    điểm vẽ vời cho đẹp, thì chưa biết đến bao giờ mới xong. Thôi, hay sẵn

    cả đĩa mực đây, anh cứ cầm thế mà đổ lên mình tôi để tôi đi theo bọn kia,
    kẻo lỡ mất một dịp may kiếm ăn tốt ».
    Công thấy quạ bảo thế, chiều ý làm theo, cầm cả đĩa mực dốc vào
    mình quạ. Thành bao nhiêu lông cánh quạ toàn một màu đen như mực.
    Quạ bay đi kiếm ăn không còn nghĩ gì đến xấu với đẹp nữa. Nhưng
    đến lúc gà, gạo, thây ma phè phỡn, trở về thấy con cò trắng muốt bay
    qua, nó trông nó cười, quạ ngắm lại mình đen thủi đen thui gớm chết, thì
    lấy làm thẹn, vội bay lẫn đi nơi khác.
    Thành tự đó hễ thấy cò đâu, thì quạ cứ kêu : « Quạ cấu hổ ! Quạ xấu
    hổ ! ». Nên chi mới có câu hát rằng :
    « Quạ đã biết mình quạ đen,
    Quạ đâu còn dám mon men tới cò ».

    3) CON GIUN KHÔN NGOAN
    3

    Xưa có người bắt một con giun nhỏ làm mồi để câu cá. Khi bị
    chìm xuống nước, con giun thấy một con cá muốn đến đớp, mới bảo cá
    rằng  : «  Tôi với anh cùng là một loài ở một đất, nước với nhau. Nay
    người nó bắt tôi làm mồi để nhử anh. Phỏng anh ăn thịt tôi, tôi chết, mà
    anh móc vào lưỡi câu, thì anh có sống được chăng ? »
    Cá nghe nói không ăn giun, bỏ đi nơi khác. Người kia ngồi câu thấy
    mãi không được con cá nào, nghĩ bụng con giun ấy không làm mồi được,
    bèn lấy ra quăng đi mà kiếm cái mồi khác. Thành ra con giun khỏi chết.
    Bởi truyện này sau ta mới có câu hát rằng :
    « Khôn ngoan ai được như giun,
    Cá khôn mắc mẹo, người khôn mắc lừa ! »

    4) VOI NGỰA ĐUA NHAU
    Xưa con ngựa thấy con voi chậm chạp có ý khinh lờn. Ngựa đòi thi
    tài với voi xem ai chạy giỏi. Lúc thi chạy đường thẳng, thì voi chạy
    không kém gì ngựa mấy, nhưng lúc thi chạy đường quanh, thì ngựa chạy
    nhanh hơn voi nhiều. Voi thua. Ngựa lên mặt.
    Hôm sau, voi thách ngựa thi chạy đường quanh, nhưng phải chạy
    sang tận hòn núi xa xa đằng trước mặt. Ngựa cho là không vào đâu, chắc
    ăn đứt voi cả mười phần. Nhưng chạy được một chốc, thấy có con sông,
    dòng nước chắn ngang, ngựa phải đứng dừng lại chưa biết nghĩ thế nào,
    thì đã thấy voi chạy tới nơi, voi lội xuống sông mà sang được núi bên
    kia. Ngựa đành phải chịu thua, và từ đấy không dám khinh voi nữa. Bởi
    vậy mà người ta mới có câu thường hát rằng :
    « Ngựa lau chau, ngựa đến bến giang,
    Voi đủng đỉnh, voi sang qua đò ».

    4

    5) CON GIÁN VÀ CON NHỆN
    Ngày xưa con gián và con nhện làm bạn chơi với nhau chí thân. Một
    hôm con nhện phàn nàn với con gián rằng :
    « Tôi ghét người chủ nhà này lắm. Tôi chẳng làm hại gì nó, mà hễ
    nó thấy cái mạng tôi giăng chỗ nào, là nó cứ ra công phá hoại. Cho nên
    tôi mới có câu nguyền rủa rằng :
    - Ta mong cho chủ tan hoang,
    Để ta mắc võng nghênh ngang cả nhà.
    « Tôi, thì tôi yêu chủ nhà này lắm. Tôi chẳng làm hại gì họ, mà họ
    cũng chẳng làm hại gì tôi. Dầu mỡ trong nhà tôi ăn uống tha hồ phong
    lưu, mà chẳng ai phiền đến tôi cả… Cho nên tôi thường có câu chúc
    nguyện rằng :
    - Ta mong cho chủ ta giàu,
    Để ta ăn mỡ, ăn dầu no say ».
    Nhện nghe nói lấy làm giận gián. Hôm khác, gián, nhện gặp nhau
    chuyện trò lúc lâu, nhện hỏi gián rằng : « Thế nào, độ này dầu mỡ no say
    thích chứ ! Tôi tưởng cái thân anh cũng khổ, chỉ rong chơi rồi nhờ vào
    chủ nhà mà ăn mà uống, chớ có tài nghề gì ? »
    Gián đáp lại : « Thì tôi vẫn biết, tôi không có cái nghề gì cả. Còn
    như anh, anh thật có tài nghề, có khôn ngoan, anh cứ nạo ruột anh ra mà
    xe tơ và giăng cái mạng tinh khéo còn ai bằng. Cái mạng này bị phá, anh
    giăng luôn ngay được cái mạng khác ! Chỉ hiềm rằng nhà chủ họ không
    biết công khó nhọc cho anh, họ lại cứ phá anh luôn, làm cho anh lắm lúc
    không còn chỗ mà ở, không có miếng mà ăn. Chẳng trách anh cầu cho
    cửa nhà họ tan hoang là phải. Nhưng khốn tôi chẳng thấy họ tan hoang tí
    nào, tôi chỉ thấy càng ngày, họ lại càng giàu sang như câu tôi chúc vậy.
    Mà cái trò họ lịch sự hơn bao nhiêu, thì họ lái phá công nghiệp của anh
    hơn bấy nhiêu ».

    Nhện nghe gián nói, lại càng tức giận gián hơn trước nhiều ! Cách
    đó ít lâu, nhà chủ giàu sang lịch sự, mua được một con khướu nuôi để nó
    hót chơi. Phải tính con khướu thích ăn gián, mà chủ cứ sai đầy tớ quơ
    mạng nhện xong, lại đi bắt gián làm đồ ăn cho khướu.
    Khi đó, cả họ nhà gián bị bắt gần hết, chỉ còn con gián kia cứ phải
    lẩn lút chúi ở dưới hang dưới cống không dám nho nhoe bò lên trên mặt
    đất hay mò mẫm ở nơi gậm chạn, đáy nồi nữa.
    Một hôm, nhện bắt gặp gián đang tìm đường trốn tránh, nhện liền
    giữ lại hỏi : « Ấy kìa chào bác ! Thế nào, độ này bác xem cái thân gián
    bác đã khốn khổ hơn cái thân nhện của tôi đây chửa ? Tôi tuy bị nhà chủ
    nó phá cái mạng, nhưng không bị nó tìm mà giết chết bao giờ, nhất là
    chết ở trong cái miệng của một giống chỉ có nghề tài hót mà thôi. Bác
    chúc nó cho nhiều nữa vào, bác cũng được cái tài nghề chúc đấy !… »
    Nghe nói xấu hổ, gián tụt ngay xuống miệng cống, không còn nói
    năng gì được nữa. Thành tự bấy giờ gián, nhện giận nhau, tuyệt giao hẳn
    và coi nhau đã như hằn thù vậy.

    6) CON CÓC LÀ CẬU ÔNG TRỜI
    Xưa, phải một năm Trời làm hạn hán đã năm sáu tháng không có
    một giọt mưa, bao nhiêu đầm, vũng, ao, chuôm đều cạn sạch. Không có
    nước, các loài cây cũng khô héo rũ rượi  ; không có nước, các loài vật
    cũng nhao nhao như muốn làm loạn vậy.
    Có một con cóc ở trong hang sâu, nghĩ mình ngắn cổ, kêu chẳng
    thấu Trời, nhưng nước không có uống cóc lấy làm tức mình, giận thân,
    bỏ hang định lên tận Trời kêu cho Trời biết mới nghe.
    Đi được một đoạn, cóc gặp con ong vẽ, nó hỏi đi đâu. Cóc bảo  :
    « Trời làm hết nước uống. Tao đi kêu Trời đây ».
    Ong vẽ nói : « Như loài chúng tôi chỉ sống về hoa, về tổ. Bấy lâu
    Trời nắng, đi hái hoa, thì hoa chẳng nở, muốn về tổ, thì nước không có.
    Có phải anh đi kêu Trời, thì anh cho tôi đi theo với ».
    Cóc bằng lòng. Cóc cùng với ong vẽ cùng đi. Đi một đoạn nữa, hai
    con gặp một con gà, nó hỏi : « Hai anh đi đâu ? »
    Cóc, ong đáp : « Trời làm đại hạn. Chúng tao đi kêu Trời đây ».
    Gà nói : « Như loài chúng tôi chỉ sống về bông lúa, hạt ngô, mà Trời
    nắng dữ mất mùa mất màng, muốn ăn không có, hạt nước khô cổ cũng
    chẳng tìm ra. Có phải hai anh đi kêu Trời, thì hai anh cho tôi đi theo
    với ».
    Cóc bằng lòng. Cóc cùng với ong, gà cùng đi. Lại đi một đoạn, ba
    con gặp một con cọp, nó hỏi đi đâu. Ba con đáp : « Trời làm tiêu khổ.
    Chúng tao đi kêu Trời đây ».
    Cọp nói : « Được đấy ! Để tao cùng đi với chúng mày ».
    Trời nắng lâu hay mưa dầm, tao chẳng quản ngại gì. Nhưng tao thấy
    chúng mày khao khát khốn khổ về nước, tao cũng thương tình, để tao đi
    5

    với cho thêm bè, thêm cánh. Một đàn bốn con , đi mãi bao lâu mới đến
    cửa nhà Trời.

    Con cóc dặn ba con kia rằng : « Các anh hãy cứ đợi ngoài này để
    một mình tôi vào trước. Bao giờ tôi kêu anh nào vào thì anh ấy hãy vào,
    tôi không kêu thì thôi ».
    Rồi cóc liền nhảy vào. Cóc thấy Trời đang ngồi đánh tổ tôm

    6

    với

    mấy ông Tiên. Cóc thị võ, giương oai, trợn to hai mắt, phùng to hai má,
    nhảy ngay vào giữa đĩa nọc ngồi chồm hổm.
    Trời thấy vậy giận lắm, thét lên rằng : « Mi lên đây làm gì mà hỗn
    láo dường này ? »
    Cóc chẳng nói chẳng rằng, lại càng giương mắt to thêm. Trời liền
    cho gọi lính ra đánh cóc. Cóc không hề sợ, ra lệnh cho ong vẽ. Ong vẽ
    7

    bay vào cắn , bao nhiêu quân lính đau đớn chạy tán loạn cả. Trời càng
    8

    giận, truyền cho Thần Sấm, Thần Sét ra đánh cóc. Cóc ra lệnh cho gà .
    Gà vào gà mổ ; Sấm, Sét hoảng hồn chạy ráo. Trời càng giận, truyền cho
    Thần Thiên Cẩu ra đánh cóc. Cóc vẫn cóc sợ gì, ra lệnh cho cọp. Cọp
    vào cọp cắn, Thiển Cẩu chạy chí chết…
    Trời thấy thế thua không làm gì nổi cóc, phải chịu phép nó và đấu
    dịu với nó rằng : « Thưa cậu ! Thế cậu muốn gì, cậu bảo cho biết ».
    Cóc nói : « Tôi lên đây chẳng có việc gì. Tôi chỉ muốn hỏi sao đã từ
    lâu Trời không mưa để cho mọi loài dưới hạ giới phải chịu khô khan khổ
    sở vì không có nước ? »
    9

    Trời bèn gọi Vũ súy ra hỏi và trách Vũ súy rằng : « Chú giữ việc
    làm mưa, mà sao chú không chịu chăm chút để cho muôn vật dưới hạ
    giới nó khốn khổ, nó dám lên tận đây làm huyên náo như thế này ! »
    Vũ súy quỳ tâu : « Việc là việc chung thiên hạ, không riêng chi một
    phương nào. Thiên hạ bao la rộng rãi, mà chúng tôi chỉ có một mình coi
    10

    không xuể , tất cũng có chỗ sót, xin Trời thẩm xét cho ».
    Cóc nghe tâu, gắt lên rằng : « Thôi, tôi không biết đâu cả. Trời đã
    chịu phép tôi, thì từ nay hễ khi nào thấy tôi kêu, tôi nghiến răng, thì phải
    mưa ngay

    11

    xuống, kẻo tôi lại lên đây làm loạn chớ chẳng tha ».

    Trời bảo : « Vâng, thôi mời cậu cứ về. Từ giờ tôi xin làm theo lời
    cậu không hề dám sai ».

    12

    Bấy giờ cóc mới chịu nhảy ra rủ cả ong vẽ, gà và cọp cùng về. Ngay
    hôm ấy, Trời mưa. Bởi sự tích này mới thành có những câu về con cóc
    rằng :
    « Có cóc khô gì đâu ?
    Cóc sợ gì ai !
    Con cóc là cậu ông Trời,
    Cóc nghiến răng, chuyển động bốn phương Trời ».

    7) CON GÀ, CON LỢN VÀ CON CHÓ
    Xưa có một nhà thật giàu có, ruộng nhiều, trâu bò lắm. Phải một
    hôm đến hơn mười con vừa trâu, vừa bò lạc đi đâu mất cả. Sau nhờ bà
    con láng diềng lùng đi tìm mãi mới lại thấy đủ.
    Cảm cái ơn to ấy, hai vợ chồng bàn nhau rằng : « Của ta đã mất lại
    tìm thấy là nhờ lòng tử tế của bà con xóm diềng cả. Vậy giờ ta phải báo
    ơn lại. Nếu bữa nay chưa kịp, thời bữa mai ta phải thịt một con gà, một
    con lợn và một con chó, rồi mời những ai đã giúp việc ta đến cơm rượu
    cho thật no say ».
    Hai vợ chồng bàn xong đi ngủ. Đêm nằm thấy ông Tổ hiện lên báo
    mộng rằng : « Tao nghe chúng mày định một bữa mai giết hại những ba
    con vật. Tao sợ chúng mầy làm điều thất đức. Vậy chúng mày mà giết
    chúng nó, thì phải biết hóa kiếp cho chúng nó, rồi trong nhà mới yên
    lành được ».
    Vợ chồng nghe nói, kêu với ông Tổ rằng : « Chúng con dương gian
    mắt thịt, không biết làm cái gì để hóa kiếp cho chúng nó. Xin cụ dạy
    cho… »
    Ông Tổ bảo rằng : « Hễ khi làm thịt gà thì phải hái lá chanh, khi làm
    thịt lợn thì phải thái củ hành, khi làm thịt chó thì phải giã củ riềng, mà
    cho thêm vào, thì hồn các con ấy mới hóa được ».
    Hai vợ chồng vâng vâng dạ dạ. Mà khi ông Tổ nói, con gà, con lợn,
    con chó, ba con đều nghe thấy tiếng, biết mình không sao tránh khỏi
    chết, cũng đành vậy. Nhưng ba con chỉ sợ chủ nhà quên điều ông Tổ dặn
    các thứ phải gia thêm vào thịt cho mau hóa kiếp, nên lúc mới sáng tinh
    sương, bà con ùa nhau kêu ầm lên :
    Gà thì : « Tục tác lá chanh ».
    Lợn thì ủn ỉn : « Mua hành cho tôi ».

    Chó thì khóc đứng, khóc ngồi  : «  Mẹ ơi, mẹ hỡi, mua tôi đồng
    riềng ».
    Vì truyện này mà tự đó ta ăn gà, phải có lá chanh, ăn lợn phải có
    hành, ăn chó phải có riềng thì ăn mới ngon mà cũng tức là để chóng hóa
    kiếp cho ba con vật rất có ích cho ta vậy.

    8) CON CHÈO BẺO
    Xưa có một người, về mùa tháng mười, lúa đã gần chín, đêm nào
    cũng ra đồng nằm để giữ lúa. Gặp phải một đêm, có hai tên kẻ trộm rủ
    nhau đến cắt trộm lúa. Chúng thấy có người nằm giữ đấy rồi, không biết
    làm thế nào, mới bảo nhau giết chết đi.
    « Than ôi trời cao đất dầy !
    Để cho người ấy bị tay tham tàn ! »
    Ai ngờ, oan hồn thì hồn hiện, hồn người chết ấy lên Thiên Đình kêu
    với Ngọc Hoàng.
    Ngọc Hoàng liền sai quỷ sứ xuống bắt hai tên kẻ trộm lên, rồi phán
    rằng  : «  Hai đứa chúng mày siêng ăn, biếng làm chỉ lo trộm cướp của
    người, rồi lại còn giết người. Như tội ấy thật là to lắm ! Hai tên bây phải
    chết, một tên thì ta bắt làm châu chấu, còn một tên thì ta bắt làm cào
    cào ».
    Xong, Ngọc Hoàng lại phán rằng : « Còn tên giữ lúa chết oan kia,
    thì ta hóa kiếp cho làm con chèo bẻo ».
    Tên kia tâu rằng : « Bây giờ con hóa làm chèo bẻo, thì con phải làm
    những việc gì ? »
    Ngọc Hoàng phán : « Ta cho mày hóa làm chèo bẻo, một là để cho
    mày lại theo được cái nghiệp giữ lúa như xưa, hai là để cho mày có dịp
    báo thù được hai tên kẻ trộm. Bao giờ lúa chín, có châu chấu, cào cào
    đến ăn hại, thì ta cho mày cứ tha hồ tự do bắt nó mà ăn thịt ».
    Bởi sự tích này mà hằng năm cứ vào độ tháng mười gần lúa chín, thì
    có chim chèo bẻo bay lượn khắp mọi cánh đồng mà bắt châu chấu với
    cào cào.

    13

    9) CON TÔM VÀNG
    Đời xưa có người giàu có, nuôi một con mèo cực đẹp. Ông rất cưng
    yêu con mèo, mà con mèo cũng hết lòng với ông. Một hôm, ông cho gọi
    thợ bạc đến trổ một con tôm bằng vàng để làm đồ chơi. Con tôm vàng
    trổ khéo lắm không khác gì con tôm thiệt. Nên ông lấy làm quí mến,
    ngồi đứng đâu, thường vẫn đem theo. Phải một khi ông đi chơi vắng, bỏ
    quên con tôm vàng ở nhà, lúc trở về tìm, thì con tôm vàng mất đâu, tìm
    sao cũng không thấy.
    Ông bèn gọi con mèo đến mà bảo rằng : « Mày ở nhà, có biết con
    tôm vàng đâu, thì tìm ra cho được. Nếu không tìm thấy, thì tao cứ mày
    tao trị tội ».
    Con mèo thưa rằng : « Tôm vàng của ông ở đâu thì tôi không biết,
    nhưng tôi biết trong nhà có con chuột, tính nó hay gậm, hay tha, để tôi
    thử xin tra nó xem sao ».
    Rồi con mèo đi tìm con chuột gầm gừ hỏi rằng : « Ông chủ tao đánh
    mất con tôm vàng. Mày có tha đi đâu, thì phải đưa trả ngay đây, không
    tao cắn chết ».
    Con chuột run sợ nói rằng  : «  Con tôm vàng, thật tôi không lấy.
    Nhưng tôi biết, hôm qua lúc ông chủ đi vắng, người thợ bạc lẻn vào nhà
    lấy trộm rồi đem đi. Hay bây giờ anh với tôi, ta phải đi lấy tôm vàng về
    cho được ». Mèo nghe nói, vui lòng nhận đi ngay…
    Nhà người thợ bạc ở cách một con sông, mèo chuột phải lội qua mới
    sang đến nơi. Mèo thì ngồi đợi trước cửa, còn chuột chạy vào lục lọi
    khắp mọi nơi. Chuột khoét mau thủng một cái hòm, chui vào tìm bới, thì
    quả nhiên thấy con tôm vàng trong ấy. Chuột vội cắn đem ra cho mèo.
    Mèo lấy làm mừng lắm, ngậm con tôm vàng vào mồm. Hai con lại rủ
    nhau lội qua sông để về nhà. Nhưng đang lúc lội, mèo luống cuống làm
    sao, để cho tôm vàng sẩy rơi xuống nước.

    Mèo lấy làm lo sợ, nói với chuột rằng : « Con tôm vàng ở dưới đáy
    sông rồi ! Hai đứa chúng ta cùng không biết lặn cả. Liệu làm thế nào bây
    giờ đây ? »
    Chuột trách mèo  : «  Công tôi đã tìm thấy được tôm vàng, anh lại
    đem đánh rơi đi. Việc ấy thật là lỗi ở anh, không can gì đến tôi nữa ».
    Giữa lúc hai con đang ngồi than thở bàn bạc với nhau, mèo chợt
    thấy một con cá tự dưới sông nhảy vào bờ. Mèo nhanh chân chạy lại, bắt
    con cá, ngoeo ngoeo nạt nộ rằng  : «  Tao vừa đánh rơi con tôm vàng
    xuống sông. Có phải mày đã ăn mất rồi, thì mày nhả ra trả tao đây.
    Không thì tao cắn, tao nuốt ngay bây giờ ».
    Cá nghe nói, sợ hãi thưa rằng : « Con tôm vàng, lúc nãy tôi quả có
    bắt được ngỡ là tôm thật, tôi đã toan ăn, nhưng đến lúc gậm, thấy nó rắn
    quá, tôi lại nhả ra bỏ. Hiện bây giờ nó còn ở dưới đáy sông ».
    Con mèo vội bảo : « Thế mày phải mau lặn xuống sông lấy đem lên
    đây cho tao, thì tao mới tha mày ».
    Cá uốn mình lặn xuống sông lấy ngay được tôm vàng đem lên trả
    mèo.
    Mèo thấy tôm vàng, chẳng thèm cảm ơn gì cả, đội ngay lên đầu mà
    đi, vừa đi vừa bảo chuột rằng : « Tao ngậm tôm vàng vào mồm, tao lại sợ
    nó sẩy ra như lúc nãy thì chết. Bây giờ tao đội nó trên đầu vững vàng thế
    này, thì thật không còn ngại gì nữa ».
    Mèo nói thế, đã tưởng là khôn lắm. Nào ngờ chưa đi được mấy
    bước, có con quạ lượn trên không, trông thấy tôm vàng nhấp nhánh ở
    dưới tưởng cái gì ăn được, sà ngay xuống đớp, rồi bay lên đậu trên cành
    đa cao chót vót.
    Mèo thấy tôm vàng lại mất, hoảng hốt vừa giận vừa lo, bàn với
    chuột rằng : « Trước tôm vàng rơi xuống nước, ta còn sai cá lặn xuống,
    nó lấy lên được. Bây giờ tôm vàng ở trên ngọn cây, ta biết mượn ai bay
    lên đó để đem về được cho ta ».

    Chuột tán nhảm : « Ừ, quạ nó là loài cầm thì nó bay, mình là loại
    thú thì mình bay sao được ! »
    Mèo ngồi nghĩ thoáng một lúc, nói
    chết bắt quạ ! » Thôi được rồi.

    14

    rằng : « Giả chết bắt quạ, giả

    Rồi mèo chạy lại mé sông, uống thật nhiều nước cho bụng căng ra.
    Đoạn đến nằm dưới gốc cây đa, ềnh cái bụng trắng hếu ra giả làm chết.
    Quả nhiên con quạ đang đậu trên cao ngậm tôm vàng không nổi, trông
    thấy mèo chết dưới gốc cây, vội vàng bay xuống để ăn thịt mèo. Mèo
    thấy quạ đến gần nhổm ngay dậy, giơ chân cào một cái thật mạnh, quạ sợ
    mất vía, nhả luôn tôm vàng ra bay thẳng một mạch. Mèo lại nhặt lấy tôm
    vàng, ngậm thật chắc vào mồm rồi ung dung đưa về cho ông chủ. Ông
    chủ lại thấy tôm vàng, lấy làm mừng rỡ vô cùng, và tự đó lại càng cưng
    yêu mèo bằng mấy trước.

    10) TẠI SAO DƠI ĂN MUỖI
    Xưa có con muỗi với con dơi hai con có việc bất bình đi thưa nhau.
    Muỗi thì mướn mèo làm thầy kiện, dơi thì cầu chuột

    15

    làm thầy cãi. Thế

    nào thầy kiện mèo xơi quách mất thịt thầy cãi chuột đi. Dơi mất thầy, dơi
    thua. Nhưng dơi không chịu, chỉ chực báo thù lại được muỗi mới nghe.
    Muỗi sợ, muỗi không dám thò đầu ra ban ngày, cứ đợi lúc nhá nhem tối
    mới vo ve bay ra. Dơi biết chừng, cũng không ra ban ngày, đợi lúc nào
    muỗi ra dơi cũng mới ra. Dơi ra dơi đớp thật nhiều muỗi. Dơi ăn muỗi,
    cái mối oán thù gây ra từ đó.

    11) CON THỎ VÀ CON CHÓ
    Xưa có con thỏ, một hôm, lạc rừng gặp một con chó săn. Thỏ cắm
    đầu chạy. Chó theo vết đuổi. Hai con chạy qua ba quả núi, đến quả núi
    thứ tư chạy quanh hơn năm vòng. Hai con cùng mệt nhoài, không con
    nào chạy được nữa. Chợt có người đi cày về trông thấy, đến bắt được cả
    chó lẫn thỏ. Vì truyện này sau thiên hạ mới đặt câu ca rằng :
    « Thỏ liệt, thì chó cũng què ;
    Thỏ chết, chó cũng hết nghề chạy rông !
    Theo đôi thì cũng uổng công !
    Để cho điền phủ ngồi không ăn cùng ».

    12) LỪA THI TÀI VỚI NGỰA
    Xưa có con lừa, nghe tiếng con ngựa có tài, một hôm, đến chơi với
    ngựa, và thách rằng :
    - Ta đây một đấng anh hùng ;
    Nghe ngươi tài nghệ, thử cùng thi nhau.
    Ngựa khinh lừa, không thèm thi, đáp lại rằng :
    - Anh hùng chơi với anh hùng ;
    Bõ chi cá chậu, chim lồng mà thi.
    Lừa giận lắm, cứ thách mãi. Sau ngựa phải ừ chịu. Hai con cùng ra
    chạy thi với nhau mấy vòng. Ngựa thì chạy nhanh như mưa tuôn, như
    nước chảy. Lừa ta thì lạch đạch theo đã chẳng kịp, lại còn luống cuống
    ngã bổ ngửa ra. Ngựa đứng lại, cười rằng :
    - Chừa chưa ? Chừa chưa ?
    Đã biết chưa lừa !
    Trước kia, chỉ biết mặt nhau ;
    Bây giờ mới biết tài nhau một lần.
    Lừa nín thin thít, ngựa lại nói luôn nữa rằng :
    - Ta đây nào có phải như người,
    Bấy lâu đánh giặc đông, tây ;
    Cuốn mây, thổi gió, ai tầy công ta !

    13) TU HÚ GỌI CÔ
    Xưa phải một năm Trời làm đói kém lắm, nhà kia có hai cô cháu,
    không biết kiếm gì mà ăn cho đủ. Cả nhà chỉ còn được một dúm đỗ. Hai
    cô cháu phải đem nấu lên, rồi chia nhau lần lượt ngậm hơi cho đỡ đói.
    Ngậm đi ngậm lại đã bao nhiêu ngày, các hột đỗ sau cứ dần dần mòn xác
    đi không còn gì nữa. Phải khi cháu ngậm, hột đỗ nó trôi vào cuống họng
    không sao móc ra được. Thành cô không còn gì ngậm hơi, cô đói lả ra,
    cô chết. Cháu thấy cô chết, sinh ra buồn bực, vả, đói quá, sức đã kiệt
    cùng, lăn ra chết nốt. Chết rồi cái hồn hóa ra làm con tu hú.
    Cho nên bây giờ khi nào đến tiết mùa hè, cây kê, cây đỗ nở hạt, tu
    hú có lắm cái ăn, thì nó lại sực nhớ đến cô nó trước mà nó cứ kêu « cô
    nó » :

    16

    - Cô hố ! Cô hố !
    Lúa đã trổ,
    Đỗ đã chín ;
    Bay về mà ăn !
    Và bởi vậy sau mới có câu hát rằng :
    « Một miếng khi đói ;
    Bằng gói khi no.
    Kìa con tu hú :
    « Thưa cô »

    17

    nó gọi hoài ».

    Còn có người nói tu hú sau nhớ đến cô quá, có làm bài phụ vong
    linh cô nó lên. Bài phụ rằng :
    « Hồn vậy ! Hồn vậy !
    Hồn ở nơi nào, hồn về.
    Hoặc, hồn ở cây xanh,
    Hoặc hồn ở lá đỏ,
    Xin hồn về áp vào con đồng :

    Hoàn phong phát động.
    Nhật bất khả quá,
    Dạ bất khả tri,
    Cấp cấp như luật lệnh ! »
    Hồn cô nó lên, nói rằng :
    - Cháu ơi ! Cháu ơi !
    Cô với cháu là dấu một nhà,
    Ai nghĩ khi âm dương bất hòa,
    Cơ tạo biến ra dâu bể !
    Thôi phải sao, chịu vậy.
    Biết nói năng chi nữa ?
    Cháu đã có lòng,
    Hồn cô đây cũng thỏa.
    Sau này cháu cứ nhớ cô,
    Đừng có quên cô là được vậy.

    14) CHÀO MÀO ĂN TRỘM ĐÀO
    Xưa một bà Tiên ở trên trời có một vườn đào đẹp lắm. Chim chào
    mào lẻn vào rả rích ăn hết bao nhiêu quả. Đến hôm bà Tiên ra chơi vườn,
    thấy mất nhiều đào, bà cho đôi chim khách đến hỏi.
    Khách thưa rằng : « Mấy hôm nay, tôi chỉ thấy chào mào nó vơ vẩn
    ở đấy. Chắc chỉ nó ăn trộm đào thôi ».
    Bà Tiên nghe nói giận lắm, đến thưa với Trời. Trời liền sai cà cưỡng
    đi bắt chào mào lại.
    Chào mào kêu với Trời rằng : « Con khách nó đặt cho tôi điều gian
    xảo. Nó nói bâng quơ, không có bằng chứng gì cả. Nó thật đã vu cáo cho
    tôi. Vu phản tội đồng, xin Trời cho xét lại ».
    Trời thấy chào mào nói có lý. Mới phán rằng : « Dâm tắc tang, đạo
    tắc tích. Nay không ai bắt được nó quả tang ăn trộm đào, thì ta cũng
    không tra ra sao được ». Nói đoạn, Trời tha cho chào mào về.
    Mùa sau, đào chín, chào mào ăn quen bén mùi, lại lẻn vào vườn đào
    ăn trộm quả. Không ngờ bà Tiên đã cho chèo bẻo rình đấy từ trước. Nên
    lúc chào mào ta đang ngồi ăn đào, miệng ăn, tay lấy như của nhà mình,
    thì chèo bẻo tóm ngay được, nắm đầu lôi đi. Bà Tiên giận quá, liền sai
    bắt nó đưa lại cho Trời. Bận này thì chào mào cứ cúi đầu gục mỏ xuống,
    không còn dám nỏ mồm như bận trước nữa.
    Trời nổi lôi đình quát mắng ầm ầm : « Mày thật là một quân đã đi
    làm đĩ lại còn già hàm. Phen này hẳn mày không cãi được nữa. Tao phải
    trị cho mày biết tay mới được ».
    Trời liền sai con cắt ra đập vào đầu chào mào. Chào mào như không
    có ý sợ. Trời điên tiết, đứng phắt dậy đá thốc một cái vào đít, chào mào
    ngã lộn xuống hạ giới, máu chảy đỏ lòe loẹt. Bởi vậy mà từ đó chào mào
    vẫn còn cái đít đỏ. Nên mới có những câu tục ngữ :
    « Chào mào đỏ đít,

    Chiêm bao chào mào đỏ đít ».

    18

    Và bây giờ trẻ con đùa với nhau, có khi cầm hai cẳng dốc đầu
    xuống đất mà nói rằng :
    « Chào mào, mào chào !
    Sao đỏ lỗ đít ».

    19

    15) CHÀO MÀO VÀ CÚ
    Xưa có con chào mào và con cú làm bạn với nhau thân thiết lắm. Hễ
    cú đi đâu thì gửi nhà cho chào mào trông hộ, mà chào mào đi đâu cũng
    giao nhà cho cú giữ hộ. Hai con giữ nhà giúp lẫn nhau rất cẩn thận không
    con nào mất gì bao giờ cả. Phải một khi chào mào đi vắng đâu nhiều
    ngày quá, cú giữ nhà hộ, sinh tính tham lam làm sao, chào mào để lại
    bao nhiêu hoa quả, của cải gì là cú vét thu sạch. Đến khi chào mào về đã
    thấy mất hết cả đồ ăn thức đựng, lại chẳng thấy cú đâu, lấy làm giận lắm
    muốn đi tìm cho được. Nhưng cú lỉnh mặt tài, chào mào lùng đâu cũng
    không thấy, đành về tổ đứng chửi : « Cha cú ! Cha cú ! »
    Rồi tự đó chào mào không chơi với cú nữa. Và thành tự đó chào
    mào kiếm ăn đâu, hễ thấy cú mon men lại, là rủ nhau từng đám đến vừa
    20

    đánh, vừa chửi : « Cha cú ! Cha cú » để chực đòi hỏi những của đã mất
    trộm khi xưa. Cú đành chịu không dám chọi lại. Và bởi truyện này, trẻ
    mới có câu thường hát rằng :
    « Chào mào ơi hỡi chào mào !
    Hễ thấy con cú nơi nao đánh liền.
    Cú đành ngồi chịu, cú ...
     
    Gửi ý kiến

    KÍNH CHÀO QUÝ THẦY CÔ VÀ QUÝ BẠN ĐỌC ĐÃ ĐẾN TƯỜNG WEBSITE CỦA THƯ VIỆN TRƯỜNG TIỂU HỌC LƯƠNG VĂN NẮM, TÂN YÊN , BẮC GIANG !