Ý NGHĨA CỦA VIỆC ĐỌC SÁCH
Truyện cổ nước Nam quyển hạ

- 0 / 0
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: Phạm Thị Chiêm
Ngày gửi: 22h:08' 05-05-2024
Dung lượng: 1.9 MB
Số lượt tải: 1
Nguồn:
Người gửi: Phạm Thị Chiêm
Ngày gửi: 22h:08' 05-05-2024
Dung lượng: 1.9 MB
Số lượt tải: 1
Số lượt thích:
0 người
Tên sách : TRUYỆN CỔ NƯỚC NAM (Q2)
MUÔNG CHIM
Tác giả : ÔN NHƯ NGUYỄN VĂN NGỌC
Nhà xuất bản : THĂNG LONG
Năm xuất bản : 1934
-----------------------Nguồn sách : tusachtiengviet.com
Đánh máy : bongmoloko, thuantran46, ThaiThaiCJ, Thuong Nguyen,
little_lion, kd1995, huong.nguyenthu, Khongtennao, laithuylinh, bhp
Kiểm tra chính tả : Phạm Bách, Trần Trung Hiếu,
Nguyễn Thị Linh Chi, Trần Khang
Biên tập chữ Hán – Nôm : Đỗ Văn Huy
Biên tập ebook : Thư Võ
Ngày hoàn thành : 30/12/2018
Ebook này được thực hiện theo dự án phi lợi nhuận « SỐ HÓA 1000
QUYỂN SÁCH VIỆT MỘT THỜI VANG BÓNG » của diễn đàn
TVE-4U.ORG
Cảm ơn tác giả ÔN NHƯ NGUYỄN VĂN NGỌC và nhà xuất bản
THĂNG LONG đã chia sẻ với bạn đọc những kiến thức quý giá.
MỤC LỤC
MÀO ĐẦU
1) CON LƯƠN VÀ CON CÁ RÔ
2) CON CÔNG VÀ CON QUẠ
3) CON GIUN KHÔN NGOAN
4) VOI NGỰA ĐUA NHAU
5) CON GIÁN VÀ CON NHỆN
6) CON CÓC LÀ CẬU ÔNG TRỜI
7) CON GÀ, CON LỢN VÀ CON CHÓ
8) CON CHÈO BẺO
9) CON TÔM VÀNG
10) TẠI SAO DƠI ĂN MUỖI
11) CON THỎ VÀ CON CHÓ
12) LỪA THI TÀI VỚI NGỰA
13) TU HÚ GỌI CÔ
14) CHÀO MÀO ĂN TRỘM ĐÀO
15) CHÀO MÀO VÀ CÚ
16) CON CHANH-CHANH VÀ CON CHẢ-CHẢ
17) KHƯỚU DẠY HỌC
18) RÙA-RÙA DẠY KHÔN
19) CHÓ RỪNG VÀ CỌP
20) PHÙ DU VÀ ĐOM ĐÓM
21) HÉT ĂN GIUN
22) KIẾN, ONG CHỌI VỚI CÓC
23) DÊ ĐI KIẾM ĂN VỚI CỌP
24) DIỀU VỚI GÀ
25) CẠC CẠC KẸC KẸC
26) LÝ TRƯỞNG DIỀU HÂU
27) CON DƠI
28) TRÂU NHÀ VÀ TRÂU RỪNG
29) CON VOI VỚI CON TRÂU
30) CHUỘT VÀ MÈO
31) THẰN LẰN MỒNG NĂM
32) THẰN LẰN TRỘM CHÂN
33) CÔNG VÀ GÀ
34) CON CÔNG VÀ LÀNG CHIM
35) CÓC THI TÀI VỚI VOI
36) THUỒNG LUỒNG TỊ VỚI RÙA
37) RÙA CHƠI VỚI HẠC
38) VÀNG ANH
39) CUỐC KÊU TRĂNG
40) LÀM KIẾP CON GÌ
41) ĐEO NHẠC CHO MÈO
42) CỌP KHÔNG SỢ DÊ
43) CỌP CŨNG KHÔNG SỢ NGỰA
44) TÌNH VỢ CHỒNG NGHĨA ANH EM
45) QUẠ BẮC CẦU
46) SÁO VÀ CÒ
47) CON CHÓ VÀNG VÀ CON CHÓ ĐEN
48) MỌT VÀ TÒ VÒ
49) CHÈO BẺO VÀ ÁC LÀ
50) TRÂU CÀY TRÂU CỘT
51) TRÂU BÉO, TRÂU GẦY
52) TẠI SAO CON TRÂU KHÔNG BIẾT NÓI
53) GÀ, VỊT VÀ CHIM KHÁCH
54) THẰN LẰN VỚI RẾT
55) QUẠ ẤU HỌC
56) TU HÚ VÀ CHIỀN CHIỆN
57) TU HÚ VÀ QUẠ
58) CON BỒ CÂU VÀ CON SÁO
59) CHÂU CHẤU KIỆN VOI
60) CÁ RÔ ĐI THI
61) LÀNG CHIM KÊU LÝ TRƯỞNG
62) LÝ TRƯỞNG KHƯỚU
63) RÙA ĐỘI BIA
64) CON RẮN VÀ NGƯỜI NUÔI RẮN
65) LONG VƯƠNG VÀ CON ẾCH
66) CON CÒ TRẮNG
67) CHÓ BA CẲNG
68) CỐC VÀ CÁ
69) ĐA ĐA VÀ CÒ
70) CÁ VỚI NGAO
71) CHIỀN CHIỆN VÀ CHOI CHOI
72) CHIM SẺ VÀ CHIM XANH
73) CHÀO MÀO MUỐN LẤY CHIM XANH
74) CHÓ PHẢI ĐÒN OAN
75) QUẠ ĂN TRỘM NGÔ
76) GÀ ÔNG ĐỒ VÀ GÀ ÔNG NGHÈ
77) HAI VỢ CHỒNG CON CHIỀN CHIỆN VÀ ÔNG SƯ
78) CÁ CHÉP HÓA RỒNG
79) CON RẮN VỚI CON HỔ
80) TẶC KÈ VÀ NÒNG NỌC
81) CON NHỆN BÁO TIN
82) CON NHỆN VÀ CON RUỒI
83) RUỒI, NHẶNG VỚI NHỆN
84) VOI, CỌP THI TÀI
85) CHẪU CHÀNG CÓ CHÍ HỌC HÀNH
86) GÀ RỪNG
87) CHÂU CHẤU VỚI CÀO CÀO
88) CHÂU CHẤU ĐÁ VOI
89) CHÍCH CHÒE VÀ VÀNG ANH
90) CON THỎ, CON CHÓ VÀ CON MÈO
91) CON RUỒI VÀ CON RỆP
92) CON CUA VÀ CON CÁY
93) TU HÚ VÀ CHIM SẺ
94) MÈO MẮC LỪA CHUỘT
95) DIỀU VỚI CẮT VÀ QUẠ
96) DIỀU, QUẠ TRANH NHAU
97) KIẾN VỚI CÁ
98) ONG VẼ
99) CON LỢN ĂN NO LẠI NẰM
100) CHẼO CỜ VÀ VẸT
101) MUỖI, CHẤY VÀ ĐOM ĐÓM
102) TRANH BAY TRƯỚC, SAU
103) CON LE VÀ CON VỊT
104) CON CỐC VÀ CON ÉN
105) CON CHÓ CÓ NGHĨA
106) CON TRÂU GHEN VỚI CON CHÓ
107) ĐỆ NHẤT CÔNG THẦN
108) VỊT ĐI XIN CHÂN
109) CON CUỐC VÀ CON QUẠ
110) GÀ MÁI GÁY
111) GÀ MÁI VỚI GÀ CON
112) CON CHÓ VÀ MẶT TRĂNG
113) CÒ VÀ BỒ CÂU
114) TRỜI CHIA CỦA
115) CHIM CHÌA VÔI
116) ỐC LO CHO ỐC
117) CON MÈO
118) KIẾN MỌC CÁNH
119) CÓC ĐI THI
120) CÓC BÔI VÔI
121) CON CÓC VÀ CON CHUỘT
122) SÁO MỎ VÀNG
123) KY CÓP CHO CỌP NÓ ĂN
124) TẠI SAO CỌP ĂN THỊT NGƯỜI
125) TÔM CÁ KẾT BẠN
126) TRÊ CÓC
127) CỌP, HƯƠU, NHÍM VÀ SƯ TỬ
128) CHUỘT BẠCH VÀ HAI VỢ CHỒNG CHUỘT CHÙ
ÔN NHƯ
NGUYỄN VĂN NGỌC
TRUYỆN CỔ NƯỚC NAM
In lần thứ II
Chương trình Việt văn 1957 của B. Q. G. G. D.
LỚP ĐỆ THẤT – ĐỆ LỤC
TẬP II : MUÔNG CHIM
THĂNG LONG
MÀO ĐẦU
Quyển này là quyển thứ hai trong bộ « Truyện cổ nước nam » mà
chúng tôi cho xuất bản. Trong quyển này, sưu tập riêng những truyện về
các giống « Muông chim ».
Kể theo phương diện ý tưởng và văn thể, thì những truyện viết đây
thay đổi nhiều lối, đại để như sau này :
a) Những truyện do ở các câu ngạn ngữ, phong dao xuất sản ra, hay
trái lại, những truyện mà sự thúc-kết đã đúc thành câu ngạn ngữ, phongdao.
b) Những truyện có thể coi như có tính-cách giải nghĩa về khoa học,
nhưng khoa học cổ-lỗ bất ngoại-hồ một câu hỏi « Tại sao ? ».
c) Những truyện hoang đường thuộc về thuyết « Luân hồi », người
hóa ra vật, vật hóa người.
d) Những truyện xưa nay tập-tục nghiệm ra cho rằng thế và thuộc
về tôn giáo hay sự mê tín.
e) Những truyện tương đối với cái lối gọi là ngụ ngôn của Âu-tây,
lấy câu kết luận làm câu luân lý để dạy người…
Mỗi lối này đáng lẽ có thể chép rời ra từng mục một. Hoặc còn có
thể thu cả những truyện chuyên về một giống vật nào cho đi liên tiếp với
nhau để làm một cái sử riêng cho giống vật ấy.
Việc đó, và cả việc nghiên-cứu, phê-bình quyển truyện hay từng
truyện một, xin để sau này, khi chúng tôi soạn được trọn bộ và có đủ thời
giờ, thì chúng tôi sẽ lưu tâm đến.
Hiện nay, chúng tôi chỉ mới có cái công góp nhặt, và càng nhặt
được nhiều bao nhiêu, chúng tôi càng lấy làm hay bấy nhiêu. Cho nên
không đợi lựa chọn gì, trong sách chúng tôi cho tập họp cả các truyện
lại và sắp đặt gián đoạn mỗi lối một ít, khiến cho người đọc có thể đọc
luôn hết truyện này đến truyện khác mà không đến nỗi chán nản.
Chúng tôi dám mong rằng khi xem quyển truyện, độc giả hoặc thấy
chỗ nào có điều sai lầm hay bỏ sót, chỉ giáo cho chúng tôi sửa chữa lại
hay bổ cứu vào, thì chúng tôi được lấy làm hân hạnh lắm.
Hà-nội, ngày 22 tháng 5
Năm Giáp-Tuất (3-7-1934)
Ô. Nh. – NG.V.NG.
1) CON LƯƠN VÀ CON CÁ RÔ
Xưa con lươn và con cá rô là một đôi bạn thân, thường năng đi lại
với nhau. Một hôm, rô đi kiếm ăn, qua chỗ lươn ở, thấy lươn đương nằm
chơi trong lờ.
Rô hỏi rằng : « Bác thư thả nằm chơi đấy ư ? »
Lươn nói : « Tôi mới dựng được cái nhà nghỉ mát. Mời bác hãy ghé
vào chơi ».
Rô sợ không vào. Lươn rằng :
- Nhà tôi gió mát, trăng trong,
1
Thềm cao, sân rộng, sổ song bốn bề.
Xin bác đừng chê !
Cá rô vẫn rụt rè đứng ở ngoài trông vào. Lươn lại rằng :
- Nhà tôi cao rộng bốn bề,
Bác vào nhà nghỉ không hề can chi.
Xin chớ ngại gì !
Rô bấy giờ bùi tai, chui vào trong lờ. Một chốc lươn vươn mình
chui ra, rủ rô cũng mau mau ra để cùng ngao du sông bể. Nhưng rô đã
mắc lờ, không làm thế nào mà ra được nữa. Lươn bảo rằng :
- Mình em như cá vào lờ,
Khi vào thì dễ, bây giờ khó ra.
Xin cố chui qua.
Nghe thấy lươn hát, rô nằm trong lờ, rô khóc mãi thế nào đến hai
mắt đỏ ngầu lên. Lươn thấy rô khóc, lươn bật phì cười. Rô càng khóc
bao nhiêu, thì lươn càng cười bấy nhiêu, cười mãi thế nào đến hai mắt
híp lại. Bởi thế mà từ đấy mắt rô lúc nào cũng đỏ ngầu mà mắt lươn bao
giờ cũng ti hí.
2
2) CON CÔNG VÀ CON QUẠ
Xưa con công với con quạ, hai con làm bạn với nhau thân lắm, vì
hai con cùng xấu cả. Một hôm hai con ngồi nói chuyện với nhau.
Quạ bảo công rằng : « Ta thử xem các giống chim trên rừng, trên
núi, giống nào cũng đẹp. Này như : con phượng hoàng, cái mình nó quý
giá biết bao, đến nỗi người ta thường khen : « Một cái lông con phượng
hoàng bằng cả một làng chim chích ». Lại như con hạc, cái hình, cái
dạng, cái chân, cái tóc nó thanh tao biết thế nào, để cho người ta phải
nói : « Hạc đứng chầu Vua ; Nghìn năm tóc bạc, tuổi rùa cũng xinh ».
Còn như anh em ta đây ! than ôi ! thân hình thật không còn giống nào
xấu bằng nữa ! »
Công nói : « Phận xấu đành vậy, chớ biết làm sao bây giờ ? »
Quạ nghĩ một lúc rồi bàn rằng : « Xấu mà làm ra đẹp, cũng được
chớ gì ! Bây giờ hai đứa ta thử tô điểm vẽ vời lẫn cho nhau xem có đẹp
hay không ? »
Công bằng lòng. Quạ bèn tô điểm, vẽ vời cho công trước. Quả nhiên
cái mình, cái đuôi công lóng lánh thành có bao nhiêu sắc đẹp, đẹp hơn
những giống chim khác nhiều. Đến lượt công đang ngồi tô điểm, vẽ vời
cho quạ, thì chợt nghe tiếng ríu rít biết bao nhiêu chim con ở phía đông
bay lại.
Quạ liền hỏi : « Chúng mày đi đâu mà kéo đàn, kéo lũ như thế ? »
Đàn chim nói : « Chúng tôi nghe đồn ở dưới phương nam có nơi
nhiều gạo, nhiều gà, lại có cả mấy cái thây ma nữa. Chúng tôi rủ nhau đi
kiếm ăn đây. Anh làm gì đấy ?… Hay ta đi một thể ».
Quạ nghe nói, trong lòng háo hức muốn đi theo đàn chim kia ngay
lập tức. Quạ mới nói với công rằng : « Bây giờ mà tôi ngồi đợi để anh tô
điểm vẽ vời cho đẹp, thì chưa biết đến bao giờ mới xong. Thôi, hay sẵn
cả đĩa mực đây, anh cứ cầm thế mà đổ lên mình tôi để tôi đi theo bọn kia,
kẻo lỡ mất một dịp may kiếm ăn tốt ».
Công thấy quạ bảo thế, chiều ý làm theo, cầm cả đĩa mực dốc vào
mình quạ. Thành bao nhiêu lông cánh quạ toàn một màu đen như mực.
Quạ bay đi kiếm ăn không còn nghĩ gì đến xấu với đẹp nữa. Nhưng
đến lúc gà, gạo, thây ma phè phỡn, trở về thấy con cò trắng muốt bay
qua, nó trông nó cười, quạ ngắm lại mình đen thủi đen thui gớm chết, thì
lấy làm thẹn, vội bay lẫn đi nơi khác.
Thành tự đó hễ thấy cò đâu, thì quạ cứ kêu : « Quạ cấu hổ ! Quạ xấu
hổ ! ». Nên chi mới có câu hát rằng :
« Quạ đã biết mình quạ đen,
Quạ đâu còn dám mon men tới cò ».
3) CON GIUN KHÔN NGOAN
3
Xưa có người bắt một con giun nhỏ làm mồi để câu cá. Khi bị
chìm xuống nước, con giun thấy một con cá muốn đến đớp, mới bảo cá
rằng : « Tôi với anh cùng là một loài ở một đất, nước với nhau. Nay
người nó bắt tôi làm mồi để nhử anh. Phỏng anh ăn thịt tôi, tôi chết, mà
anh móc vào lưỡi câu, thì anh có sống được chăng ? »
Cá nghe nói không ăn giun, bỏ đi nơi khác. Người kia ngồi câu thấy
mãi không được con cá nào, nghĩ bụng con giun ấy không làm mồi được,
bèn lấy ra quăng đi mà kiếm cái mồi khác. Thành ra con giun khỏi chết.
Bởi truyện này sau ta mới có câu hát rằng :
« Khôn ngoan ai được như giun,
Cá khôn mắc mẹo, người khôn mắc lừa ! »
4) VOI NGỰA ĐUA NHAU
Xưa con ngựa thấy con voi chậm chạp có ý khinh lờn. Ngựa đòi thi
tài với voi xem ai chạy giỏi. Lúc thi chạy đường thẳng, thì voi chạy
không kém gì ngựa mấy, nhưng lúc thi chạy đường quanh, thì ngựa chạy
nhanh hơn voi nhiều. Voi thua. Ngựa lên mặt.
Hôm sau, voi thách ngựa thi chạy đường quanh, nhưng phải chạy
sang tận hòn núi xa xa đằng trước mặt. Ngựa cho là không vào đâu, chắc
ăn đứt voi cả mười phần. Nhưng chạy được một chốc, thấy có con sông,
dòng nước chắn ngang, ngựa phải đứng dừng lại chưa biết nghĩ thế nào,
thì đã thấy voi chạy tới nơi, voi lội xuống sông mà sang được núi bên
kia. Ngựa đành phải chịu thua, và từ đấy không dám khinh voi nữa. Bởi
vậy mà người ta mới có câu thường hát rằng :
« Ngựa lau chau, ngựa đến bến giang,
Voi đủng đỉnh, voi sang qua đò ».
4
5) CON GIÁN VÀ CON NHỆN
Ngày xưa con gián và con nhện làm bạn chơi với nhau chí thân. Một
hôm con nhện phàn nàn với con gián rằng :
« Tôi ghét người chủ nhà này lắm. Tôi chẳng làm hại gì nó, mà hễ
nó thấy cái mạng tôi giăng chỗ nào, là nó cứ ra công phá hoại. Cho nên
tôi mới có câu nguyền rủa rằng :
- Ta mong cho chủ tan hoang,
Để ta mắc võng nghênh ngang cả nhà.
« Tôi, thì tôi yêu chủ nhà này lắm. Tôi chẳng làm hại gì họ, mà họ
cũng chẳng làm hại gì tôi. Dầu mỡ trong nhà tôi ăn uống tha hồ phong
lưu, mà chẳng ai phiền đến tôi cả… Cho nên tôi thường có câu chúc
nguyện rằng :
- Ta mong cho chủ ta giàu,
Để ta ăn mỡ, ăn dầu no say ».
Nhện nghe nói lấy làm giận gián. Hôm khác, gián, nhện gặp nhau
chuyện trò lúc lâu, nhện hỏi gián rằng : « Thế nào, độ này dầu mỡ no say
thích chứ ! Tôi tưởng cái thân anh cũng khổ, chỉ rong chơi rồi nhờ vào
chủ nhà mà ăn mà uống, chớ có tài nghề gì ? »
Gián đáp lại : « Thì tôi vẫn biết, tôi không có cái nghề gì cả. Còn
như anh, anh thật có tài nghề, có khôn ngoan, anh cứ nạo ruột anh ra mà
xe tơ và giăng cái mạng tinh khéo còn ai bằng. Cái mạng này bị phá, anh
giăng luôn ngay được cái mạng khác ! Chỉ hiềm rằng nhà chủ họ không
biết công khó nhọc cho anh, họ lại cứ phá anh luôn, làm cho anh lắm lúc
không còn chỗ mà ở, không có miếng mà ăn. Chẳng trách anh cầu cho
cửa nhà họ tan hoang là phải. Nhưng khốn tôi chẳng thấy họ tan hoang tí
nào, tôi chỉ thấy càng ngày, họ lại càng giàu sang như câu tôi chúc vậy.
Mà cái trò họ lịch sự hơn bao nhiêu, thì họ lái phá công nghiệp của anh
hơn bấy nhiêu ».
Nhện nghe gián nói, lại càng tức giận gián hơn trước nhiều ! Cách
đó ít lâu, nhà chủ giàu sang lịch sự, mua được một con khướu nuôi để nó
hót chơi. Phải tính con khướu thích ăn gián, mà chủ cứ sai đầy tớ quơ
mạng nhện xong, lại đi bắt gián làm đồ ăn cho khướu.
Khi đó, cả họ nhà gián bị bắt gần hết, chỉ còn con gián kia cứ phải
lẩn lút chúi ở dưới hang dưới cống không dám nho nhoe bò lên trên mặt
đất hay mò mẫm ở nơi gậm chạn, đáy nồi nữa.
Một hôm, nhện bắt gặp gián đang tìm đường trốn tránh, nhện liền
giữ lại hỏi : « Ấy kìa chào bác ! Thế nào, độ này bác xem cái thân gián
bác đã khốn khổ hơn cái thân nhện của tôi đây chửa ? Tôi tuy bị nhà chủ
nó phá cái mạng, nhưng không bị nó tìm mà giết chết bao giờ, nhất là
chết ở trong cái miệng của một giống chỉ có nghề tài hót mà thôi. Bác
chúc nó cho nhiều nữa vào, bác cũng được cái tài nghề chúc đấy !… »
Nghe nói xấu hổ, gián tụt ngay xuống miệng cống, không còn nói
năng gì được nữa. Thành tự bấy giờ gián, nhện giận nhau, tuyệt giao hẳn
và coi nhau đã như hằn thù vậy.
6) CON CÓC LÀ CẬU ÔNG TRỜI
Xưa, phải một năm Trời làm hạn hán đã năm sáu tháng không có
một giọt mưa, bao nhiêu đầm, vũng, ao, chuôm đều cạn sạch. Không có
nước, các loài cây cũng khô héo rũ rượi ; không có nước, các loài vật
cũng nhao nhao như muốn làm loạn vậy.
Có một con cóc ở trong hang sâu, nghĩ mình ngắn cổ, kêu chẳng
thấu Trời, nhưng nước không có uống cóc lấy làm tức mình, giận thân,
bỏ hang định lên tận Trời kêu cho Trời biết mới nghe.
Đi được một đoạn, cóc gặp con ong vẽ, nó hỏi đi đâu. Cóc bảo :
« Trời làm hết nước uống. Tao đi kêu Trời đây ».
Ong vẽ nói : « Như loài chúng tôi chỉ sống về hoa, về tổ. Bấy lâu
Trời nắng, đi hái hoa, thì hoa chẳng nở, muốn về tổ, thì nước không có.
Có phải anh đi kêu Trời, thì anh cho tôi đi theo với ».
Cóc bằng lòng. Cóc cùng với ong vẽ cùng đi. Đi một đoạn nữa, hai
con gặp một con gà, nó hỏi : « Hai anh đi đâu ? »
Cóc, ong đáp : « Trời làm đại hạn. Chúng tao đi kêu Trời đây ».
Gà nói : « Như loài chúng tôi chỉ sống về bông lúa, hạt ngô, mà Trời
nắng dữ mất mùa mất màng, muốn ăn không có, hạt nước khô cổ cũng
chẳng tìm ra. Có phải hai anh đi kêu Trời, thì hai anh cho tôi đi theo
với ».
Cóc bằng lòng. Cóc cùng với ong, gà cùng đi. Lại đi một đoạn, ba
con gặp một con cọp, nó hỏi đi đâu. Ba con đáp : « Trời làm tiêu khổ.
Chúng tao đi kêu Trời đây ».
Cọp nói : « Được đấy ! Để tao cùng đi với chúng mày ».
Trời nắng lâu hay mưa dầm, tao chẳng quản ngại gì. Nhưng tao thấy
chúng mày khao khát khốn khổ về nước, tao cũng thương tình, để tao đi
5
với cho thêm bè, thêm cánh. Một đàn bốn con , đi mãi bao lâu mới đến
cửa nhà Trời.
Con cóc dặn ba con kia rằng : « Các anh hãy cứ đợi ngoài này để
một mình tôi vào trước. Bao giờ tôi kêu anh nào vào thì anh ấy hãy vào,
tôi không kêu thì thôi ».
Rồi cóc liền nhảy vào. Cóc thấy Trời đang ngồi đánh tổ tôm
6
với
mấy ông Tiên. Cóc thị võ, giương oai, trợn to hai mắt, phùng to hai má,
nhảy ngay vào giữa đĩa nọc ngồi chồm hổm.
Trời thấy vậy giận lắm, thét lên rằng : « Mi lên đây làm gì mà hỗn
láo dường này ? »
Cóc chẳng nói chẳng rằng, lại càng giương mắt to thêm. Trời liền
cho gọi lính ra đánh cóc. Cóc không hề sợ, ra lệnh cho ong vẽ. Ong vẽ
7
bay vào cắn , bao nhiêu quân lính đau đớn chạy tán loạn cả. Trời càng
8
giận, truyền cho Thần Sấm, Thần Sét ra đánh cóc. Cóc ra lệnh cho gà .
Gà vào gà mổ ; Sấm, Sét hoảng hồn chạy ráo. Trời càng giận, truyền cho
Thần Thiên Cẩu ra đánh cóc. Cóc vẫn cóc sợ gì, ra lệnh cho cọp. Cọp
vào cọp cắn, Thiển Cẩu chạy chí chết…
Trời thấy thế thua không làm gì nổi cóc, phải chịu phép nó và đấu
dịu với nó rằng : « Thưa cậu ! Thế cậu muốn gì, cậu bảo cho biết ».
Cóc nói : « Tôi lên đây chẳng có việc gì. Tôi chỉ muốn hỏi sao đã từ
lâu Trời không mưa để cho mọi loài dưới hạ giới phải chịu khô khan khổ
sở vì không có nước ? »
9
Trời bèn gọi Vũ súy ra hỏi và trách Vũ súy rằng : « Chú giữ việc
làm mưa, mà sao chú không chịu chăm chút để cho muôn vật dưới hạ
giới nó khốn khổ, nó dám lên tận đây làm huyên náo như thế này ! »
Vũ súy quỳ tâu : « Việc là việc chung thiên hạ, không riêng chi một
phương nào. Thiên hạ bao la rộng rãi, mà chúng tôi chỉ có một mình coi
10
không xuể , tất cũng có chỗ sót, xin Trời thẩm xét cho ».
Cóc nghe tâu, gắt lên rằng : « Thôi, tôi không biết đâu cả. Trời đã
chịu phép tôi, thì từ nay hễ khi nào thấy tôi kêu, tôi nghiến răng, thì phải
mưa ngay
11
xuống, kẻo tôi lại lên đây làm loạn chớ chẳng tha ».
Trời bảo : « Vâng, thôi mời cậu cứ về. Từ giờ tôi xin làm theo lời
cậu không hề dám sai ».
12
Bấy giờ cóc mới chịu nhảy ra rủ cả ong vẽ, gà và cọp cùng về. Ngay
hôm ấy, Trời mưa. Bởi sự tích này mới thành có những câu về con cóc
rằng :
« Có cóc khô gì đâu ?
Cóc sợ gì ai !
Con cóc là cậu ông Trời,
Cóc nghiến răng, chuyển động bốn phương Trời ».
7) CON GÀ, CON LỢN VÀ CON CHÓ
Xưa có một nhà thật giàu có, ruộng nhiều, trâu bò lắm. Phải một
hôm đến hơn mười con vừa trâu, vừa bò lạc đi đâu mất cả. Sau nhờ bà
con láng diềng lùng đi tìm mãi mới lại thấy đủ.
Cảm cái ơn to ấy, hai vợ chồng bàn nhau rằng : « Của ta đã mất lại
tìm thấy là nhờ lòng tử tế của bà con xóm diềng cả. Vậy giờ ta phải báo
ơn lại. Nếu bữa nay chưa kịp, thời bữa mai ta phải thịt một con gà, một
con lợn và một con chó, rồi mời những ai đã giúp việc ta đến cơm rượu
cho thật no say ».
Hai vợ chồng bàn xong đi ngủ. Đêm nằm thấy ông Tổ hiện lên báo
mộng rằng : « Tao nghe chúng mày định một bữa mai giết hại những ba
con vật. Tao sợ chúng mầy làm điều thất đức. Vậy chúng mày mà giết
chúng nó, thì phải biết hóa kiếp cho chúng nó, rồi trong nhà mới yên
lành được ».
Vợ chồng nghe nói, kêu với ông Tổ rằng : « Chúng con dương gian
mắt thịt, không biết làm cái gì để hóa kiếp cho chúng nó. Xin cụ dạy
cho… »
Ông Tổ bảo rằng : « Hễ khi làm thịt gà thì phải hái lá chanh, khi làm
thịt lợn thì phải thái củ hành, khi làm thịt chó thì phải giã củ riềng, mà
cho thêm vào, thì hồn các con ấy mới hóa được ».
Hai vợ chồng vâng vâng dạ dạ. Mà khi ông Tổ nói, con gà, con lợn,
con chó, ba con đều nghe thấy tiếng, biết mình không sao tránh khỏi
chết, cũng đành vậy. Nhưng ba con chỉ sợ chủ nhà quên điều ông Tổ dặn
các thứ phải gia thêm vào thịt cho mau hóa kiếp, nên lúc mới sáng tinh
sương, bà con ùa nhau kêu ầm lên :
Gà thì : « Tục tác lá chanh ».
Lợn thì ủn ỉn : « Mua hành cho tôi ».
Chó thì khóc đứng, khóc ngồi : « Mẹ ơi, mẹ hỡi, mua tôi đồng
riềng ».
Vì truyện này mà tự đó ta ăn gà, phải có lá chanh, ăn lợn phải có
hành, ăn chó phải có riềng thì ăn mới ngon mà cũng tức là để chóng hóa
kiếp cho ba con vật rất có ích cho ta vậy.
8) CON CHÈO BẺO
Xưa có một người, về mùa tháng mười, lúa đã gần chín, đêm nào
cũng ra đồng nằm để giữ lúa. Gặp phải một đêm, có hai tên kẻ trộm rủ
nhau đến cắt trộm lúa. Chúng thấy có người nằm giữ đấy rồi, không biết
làm thế nào, mới bảo nhau giết chết đi.
« Than ôi trời cao đất dầy !
Để cho người ấy bị tay tham tàn ! »
Ai ngờ, oan hồn thì hồn hiện, hồn người chết ấy lên Thiên Đình kêu
với Ngọc Hoàng.
Ngọc Hoàng liền sai quỷ sứ xuống bắt hai tên kẻ trộm lên, rồi phán
rằng : « Hai đứa chúng mày siêng ăn, biếng làm chỉ lo trộm cướp của
người, rồi lại còn giết người. Như tội ấy thật là to lắm ! Hai tên bây phải
chết, một tên thì ta bắt làm châu chấu, còn một tên thì ta bắt làm cào
cào ».
Xong, Ngọc Hoàng lại phán rằng : « Còn tên giữ lúa chết oan kia,
thì ta hóa kiếp cho làm con chèo bẻo ».
Tên kia tâu rằng : « Bây giờ con hóa làm chèo bẻo, thì con phải làm
những việc gì ? »
Ngọc Hoàng phán : « Ta cho mày hóa làm chèo bẻo, một là để cho
mày lại theo được cái nghiệp giữ lúa như xưa, hai là để cho mày có dịp
báo thù được hai tên kẻ trộm. Bao giờ lúa chín, có châu chấu, cào cào
đến ăn hại, thì ta cho mày cứ tha hồ tự do bắt nó mà ăn thịt ».
Bởi sự tích này mà hằng năm cứ vào độ tháng mười gần lúa chín, thì
có chim chèo bẻo bay lượn khắp mọi cánh đồng mà bắt châu chấu với
cào cào.
13
9) CON TÔM VÀNG
Đời xưa có người giàu có, nuôi một con mèo cực đẹp. Ông rất cưng
yêu con mèo, mà con mèo cũng hết lòng với ông. Một hôm, ông cho gọi
thợ bạc đến trổ một con tôm bằng vàng để làm đồ chơi. Con tôm vàng
trổ khéo lắm không khác gì con tôm thiệt. Nên ông lấy làm quí mến,
ngồi đứng đâu, thường vẫn đem theo. Phải một khi ông đi chơi vắng, bỏ
quên con tôm vàng ở nhà, lúc trở về tìm, thì con tôm vàng mất đâu, tìm
sao cũng không thấy.
Ông bèn gọi con mèo đến mà bảo rằng : « Mày ở nhà, có biết con
tôm vàng đâu, thì tìm ra cho được. Nếu không tìm thấy, thì tao cứ mày
tao trị tội ».
Con mèo thưa rằng : « Tôm vàng của ông ở đâu thì tôi không biết,
nhưng tôi biết trong nhà có con chuột, tính nó hay gậm, hay tha, để tôi
thử xin tra nó xem sao ».
Rồi con mèo đi tìm con chuột gầm gừ hỏi rằng : « Ông chủ tao đánh
mất con tôm vàng. Mày có tha đi đâu, thì phải đưa trả ngay đây, không
tao cắn chết ».
Con chuột run sợ nói rằng : « Con tôm vàng, thật tôi không lấy.
Nhưng tôi biết, hôm qua lúc ông chủ đi vắng, người thợ bạc lẻn vào nhà
lấy trộm rồi đem đi. Hay bây giờ anh với tôi, ta phải đi lấy tôm vàng về
cho được ». Mèo nghe nói, vui lòng nhận đi ngay…
Nhà người thợ bạc ở cách một con sông, mèo chuột phải lội qua mới
sang đến nơi. Mèo thì ngồi đợi trước cửa, còn chuột chạy vào lục lọi
khắp mọi nơi. Chuột khoét mau thủng một cái hòm, chui vào tìm bới, thì
quả nhiên thấy con tôm vàng trong ấy. Chuột vội cắn đem ra cho mèo.
Mèo lấy làm mừng lắm, ngậm con tôm vàng vào mồm. Hai con lại rủ
nhau lội qua sông để về nhà. Nhưng đang lúc lội, mèo luống cuống làm
sao, để cho tôm vàng sẩy rơi xuống nước.
Mèo lấy làm lo sợ, nói với chuột rằng : « Con tôm vàng ở dưới đáy
sông rồi ! Hai đứa chúng ta cùng không biết lặn cả. Liệu làm thế nào bây
giờ đây ? »
Chuột trách mèo : « Công tôi đã tìm thấy được tôm vàng, anh lại
đem đánh rơi đi. Việc ấy thật là lỗi ở anh, không can gì đến tôi nữa ».
Giữa lúc hai con đang ngồi than thở bàn bạc với nhau, mèo chợt
thấy một con cá tự dưới sông nhảy vào bờ. Mèo nhanh chân chạy lại, bắt
con cá, ngoeo ngoeo nạt nộ rằng : « Tao vừa đánh rơi con tôm vàng
xuống sông. Có phải mày đã ăn mất rồi, thì mày nhả ra trả tao đây.
Không thì tao cắn, tao nuốt ngay bây giờ ».
Cá nghe nói, sợ hãi thưa rằng : « Con tôm vàng, lúc nãy tôi quả có
bắt được ngỡ là tôm thật, tôi đã toan ăn, nhưng đến lúc gậm, thấy nó rắn
quá, tôi lại nhả ra bỏ. Hiện bây giờ nó còn ở dưới đáy sông ».
Con mèo vội bảo : « Thế mày phải mau lặn xuống sông lấy đem lên
đây cho tao, thì tao mới tha mày ».
Cá uốn mình lặn xuống sông lấy ngay được tôm vàng đem lên trả
mèo.
Mèo thấy tôm vàng, chẳng thèm cảm ơn gì cả, đội ngay lên đầu mà
đi, vừa đi vừa bảo chuột rằng : « Tao ngậm tôm vàng vào mồm, tao lại sợ
nó sẩy ra như lúc nãy thì chết. Bây giờ tao đội nó trên đầu vững vàng thế
này, thì thật không còn ngại gì nữa ».
Mèo nói thế, đã tưởng là khôn lắm. Nào ngờ chưa đi được mấy
bước, có con quạ lượn trên không, trông thấy tôm vàng nhấp nhánh ở
dưới tưởng cái gì ăn được, sà ngay xuống đớp, rồi bay lên đậu trên cành
đa cao chót vót.
Mèo thấy tôm vàng lại mất, hoảng hốt vừa giận vừa lo, bàn với
chuột rằng : « Trước tôm vàng rơi xuống nước, ta còn sai cá lặn xuống,
nó lấy lên được. Bây giờ tôm vàng ở trên ngọn cây, ta biết mượn ai bay
lên đó để đem về được cho ta ».
Chuột tán nhảm : « Ừ, quạ nó là loài cầm thì nó bay, mình là loại
thú thì mình bay sao được ! »
Mèo ngồi nghĩ thoáng một lúc, nói
chết bắt quạ ! » Thôi được rồi.
14
rằng : « Giả chết bắt quạ, giả
Rồi mèo chạy lại mé sông, uống thật nhiều nước cho bụng căng ra.
Đoạn đến nằm dưới gốc cây đa, ềnh cái bụng trắng hếu ra giả làm chết.
Quả nhiên con quạ đang đậu trên cao ngậm tôm vàng không nổi, trông
thấy mèo chết dưới gốc cây, vội vàng bay xuống để ăn thịt mèo. Mèo
thấy quạ đến gần nhổm ngay dậy, giơ chân cào một cái thật mạnh, quạ sợ
mất vía, nhả luôn tôm vàng ra bay thẳng một mạch. Mèo lại nhặt lấy tôm
vàng, ngậm thật chắc vào mồm rồi ung dung đưa về cho ông chủ. Ông
chủ lại thấy tôm vàng, lấy làm mừng rỡ vô cùng, và tự đó lại càng cưng
yêu mèo bằng mấy trước.
10) TẠI SAO DƠI ĂN MUỖI
Xưa có con muỗi với con dơi hai con có việc bất bình đi thưa nhau.
Muỗi thì mướn mèo làm thầy kiện, dơi thì cầu chuột
15
làm thầy cãi. Thế
nào thầy kiện mèo xơi quách mất thịt thầy cãi chuột đi. Dơi mất thầy, dơi
thua. Nhưng dơi không chịu, chỉ chực báo thù lại được muỗi mới nghe.
Muỗi sợ, muỗi không dám thò đầu ra ban ngày, cứ đợi lúc nhá nhem tối
mới vo ve bay ra. Dơi biết chừng, cũng không ra ban ngày, đợi lúc nào
muỗi ra dơi cũng mới ra. Dơi ra dơi đớp thật nhiều muỗi. Dơi ăn muỗi,
cái mối oán thù gây ra từ đó.
11) CON THỎ VÀ CON CHÓ
Xưa có con thỏ, một hôm, lạc rừng gặp một con chó săn. Thỏ cắm
đầu chạy. Chó theo vết đuổi. Hai con chạy qua ba quả núi, đến quả núi
thứ tư chạy quanh hơn năm vòng. Hai con cùng mệt nhoài, không con
nào chạy được nữa. Chợt có người đi cày về trông thấy, đến bắt được cả
chó lẫn thỏ. Vì truyện này sau thiên hạ mới đặt câu ca rằng :
« Thỏ liệt, thì chó cũng què ;
Thỏ chết, chó cũng hết nghề chạy rông !
Theo đôi thì cũng uổng công !
Để cho điền phủ ngồi không ăn cùng ».
12) LỪA THI TÀI VỚI NGỰA
Xưa có con lừa, nghe tiếng con ngựa có tài, một hôm, đến chơi với
ngựa, và thách rằng :
- Ta đây một đấng anh hùng ;
Nghe ngươi tài nghệ, thử cùng thi nhau.
Ngựa khinh lừa, không thèm thi, đáp lại rằng :
- Anh hùng chơi với anh hùng ;
Bõ chi cá chậu, chim lồng mà thi.
Lừa giận lắm, cứ thách mãi. Sau ngựa phải ừ chịu. Hai con cùng ra
chạy thi với nhau mấy vòng. Ngựa thì chạy nhanh như mưa tuôn, như
nước chảy. Lừa ta thì lạch đạch theo đã chẳng kịp, lại còn luống cuống
ngã bổ ngửa ra. Ngựa đứng lại, cười rằng :
- Chừa chưa ? Chừa chưa ?
Đã biết chưa lừa !
Trước kia, chỉ biết mặt nhau ;
Bây giờ mới biết tài nhau một lần.
Lừa nín thin thít, ngựa lại nói luôn nữa rằng :
- Ta đây nào có phải như người,
Bấy lâu đánh giặc đông, tây ;
Cuốn mây, thổi gió, ai tầy công ta !
13) TU HÚ GỌI CÔ
Xưa phải một năm Trời làm đói kém lắm, nhà kia có hai cô cháu,
không biết kiếm gì mà ăn cho đủ. Cả nhà chỉ còn được một dúm đỗ. Hai
cô cháu phải đem nấu lên, rồi chia nhau lần lượt ngậm hơi cho đỡ đói.
Ngậm đi ngậm lại đã bao nhiêu ngày, các hột đỗ sau cứ dần dần mòn xác
đi không còn gì nữa. Phải khi cháu ngậm, hột đỗ nó trôi vào cuống họng
không sao móc ra được. Thành cô không còn gì ngậm hơi, cô đói lả ra,
cô chết. Cháu thấy cô chết, sinh ra buồn bực, vả, đói quá, sức đã kiệt
cùng, lăn ra chết nốt. Chết rồi cái hồn hóa ra làm con tu hú.
Cho nên bây giờ khi nào đến tiết mùa hè, cây kê, cây đỗ nở hạt, tu
hú có lắm cái ăn, thì nó lại sực nhớ đến cô nó trước mà nó cứ kêu « cô
nó » :
16
- Cô hố ! Cô hố !
Lúa đã trổ,
Đỗ đã chín ;
Bay về mà ăn !
Và bởi vậy sau mới có câu hát rằng :
« Một miếng khi đói ;
Bằng gói khi no.
Kìa con tu hú :
« Thưa cô »
17
nó gọi hoài ».
Còn có người nói tu hú sau nhớ đến cô quá, có làm bài phụ vong
linh cô nó lên. Bài phụ rằng :
« Hồn vậy ! Hồn vậy !
Hồn ở nơi nào, hồn về.
Hoặc, hồn ở cây xanh,
Hoặc hồn ở lá đỏ,
Xin hồn về áp vào con đồng :
Hoàn phong phát động.
Nhật bất khả quá,
Dạ bất khả tri,
Cấp cấp như luật lệnh ! »
Hồn cô nó lên, nói rằng :
- Cháu ơi ! Cháu ơi !
Cô với cháu là dấu một nhà,
Ai nghĩ khi âm dương bất hòa,
Cơ tạo biến ra dâu bể !
Thôi phải sao, chịu vậy.
Biết nói năng chi nữa ?
Cháu đã có lòng,
Hồn cô đây cũng thỏa.
Sau này cháu cứ nhớ cô,
Đừng có quên cô là được vậy.
14) CHÀO MÀO ĂN TRỘM ĐÀO
Xưa một bà Tiên ở trên trời có một vườn đào đẹp lắm. Chim chào
mào lẻn vào rả rích ăn hết bao nhiêu quả. Đến hôm bà Tiên ra chơi vườn,
thấy mất nhiều đào, bà cho đôi chim khách đến hỏi.
Khách thưa rằng : « Mấy hôm nay, tôi chỉ thấy chào mào nó vơ vẩn
ở đấy. Chắc chỉ nó ăn trộm đào thôi ».
Bà Tiên nghe nói giận lắm, đến thưa với Trời. Trời liền sai cà cưỡng
đi bắt chào mào lại.
Chào mào kêu với Trời rằng : « Con khách nó đặt cho tôi điều gian
xảo. Nó nói bâng quơ, không có bằng chứng gì cả. Nó thật đã vu cáo cho
tôi. Vu phản tội đồng, xin Trời cho xét lại ».
Trời thấy chào mào nói có lý. Mới phán rằng : « Dâm tắc tang, đạo
tắc tích. Nay không ai bắt được nó quả tang ăn trộm đào, thì ta cũng
không tra ra sao được ». Nói đoạn, Trời tha cho chào mào về.
Mùa sau, đào chín, chào mào ăn quen bén mùi, lại lẻn vào vườn đào
ăn trộm quả. Không ngờ bà Tiên đã cho chèo bẻo rình đấy từ trước. Nên
lúc chào mào ta đang ngồi ăn đào, miệng ăn, tay lấy như của nhà mình,
thì chèo bẻo tóm ngay được, nắm đầu lôi đi. Bà Tiên giận quá, liền sai
bắt nó đưa lại cho Trời. Bận này thì chào mào cứ cúi đầu gục mỏ xuống,
không còn dám nỏ mồm như bận trước nữa.
Trời nổi lôi đình quát mắng ầm ầm : « Mày thật là một quân đã đi
làm đĩ lại còn già hàm. Phen này hẳn mày không cãi được nữa. Tao phải
trị cho mày biết tay mới được ».
Trời liền sai con cắt ra đập vào đầu chào mào. Chào mào như không
có ý sợ. Trời điên tiết, đứng phắt dậy đá thốc một cái vào đít, chào mào
ngã lộn xuống hạ giới, máu chảy đỏ lòe loẹt. Bởi vậy mà từ đó chào mào
vẫn còn cái đít đỏ. Nên mới có những câu tục ngữ :
« Chào mào đỏ đít,
Chiêm bao chào mào đỏ đít ».
18
Và bây giờ trẻ con đùa với nhau, có khi cầm hai cẳng dốc đầu
xuống đất mà nói rằng :
« Chào mào, mào chào !
Sao đỏ lỗ đít ».
19
15) CHÀO MÀO VÀ CÚ
Xưa có con chào mào và con cú làm bạn với nhau thân thiết lắm. Hễ
cú đi đâu thì gửi nhà cho chào mào trông hộ, mà chào mào đi đâu cũng
giao nhà cho cú giữ hộ. Hai con giữ nhà giúp lẫn nhau rất cẩn thận không
con nào mất gì bao giờ cả. Phải một khi chào mào đi vắng đâu nhiều
ngày quá, cú giữ nhà hộ, sinh tính tham lam làm sao, chào mào để lại
bao nhiêu hoa quả, của cải gì là cú vét thu sạch. Đến khi chào mào về đã
thấy mất hết cả đồ ăn thức đựng, lại chẳng thấy cú đâu, lấy làm giận lắm
muốn đi tìm cho được. Nhưng cú lỉnh mặt tài, chào mào lùng đâu cũng
không thấy, đành về tổ đứng chửi : « Cha cú ! Cha cú ! »
Rồi tự đó chào mào không chơi với cú nữa. Và thành tự đó chào
mào kiếm ăn đâu, hễ thấy cú mon men lại, là rủ nhau từng đám đến vừa
20
đánh, vừa chửi : « Cha cú ! Cha cú » để chực đòi hỏi những của đã mất
trộm khi xưa. Cú đành chịu không dám chọi lại. Và bởi truyện này, trẻ
mới có câu thường hát rằng :
« Chào mào ơi hỡi chào mào !
Hễ thấy con cú nơi nao đánh liền.
Cú đành ngồi chịu, cú ...
MUÔNG CHIM
Tác giả : ÔN NHƯ NGUYỄN VĂN NGỌC
Nhà xuất bản : THĂNG LONG
Năm xuất bản : 1934
-----------------------Nguồn sách : tusachtiengviet.com
Đánh máy : bongmoloko, thuantran46, ThaiThaiCJ, Thuong Nguyen,
little_lion, kd1995, huong.nguyenthu, Khongtennao, laithuylinh, bhp
Kiểm tra chính tả : Phạm Bách, Trần Trung Hiếu,
Nguyễn Thị Linh Chi, Trần Khang
Biên tập chữ Hán – Nôm : Đỗ Văn Huy
Biên tập ebook : Thư Võ
Ngày hoàn thành : 30/12/2018
Ebook này được thực hiện theo dự án phi lợi nhuận « SỐ HÓA 1000
QUYỂN SÁCH VIỆT MỘT THỜI VANG BÓNG » của diễn đàn
TVE-4U.ORG
Cảm ơn tác giả ÔN NHƯ NGUYỄN VĂN NGỌC và nhà xuất bản
THĂNG LONG đã chia sẻ với bạn đọc những kiến thức quý giá.
MỤC LỤC
MÀO ĐẦU
1) CON LƯƠN VÀ CON CÁ RÔ
2) CON CÔNG VÀ CON QUẠ
3) CON GIUN KHÔN NGOAN
4) VOI NGỰA ĐUA NHAU
5) CON GIÁN VÀ CON NHỆN
6) CON CÓC LÀ CẬU ÔNG TRỜI
7) CON GÀ, CON LỢN VÀ CON CHÓ
8) CON CHÈO BẺO
9) CON TÔM VÀNG
10) TẠI SAO DƠI ĂN MUỖI
11) CON THỎ VÀ CON CHÓ
12) LỪA THI TÀI VỚI NGỰA
13) TU HÚ GỌI CÔ
14) CHÀO MÀO ĂN TRỘM ĐÀO
15) CHÀO MÀO VÀ CÚ
16) CON CHANH-CHANH VÀ CON CHẢ-CHẢ
17) KHƯỚU DẠY HỌC
18) RÙA-RÙA DẠY KHÔN
19) CHÓ RỪNG VÀ CỌP
20) PHÙ DU VÀ ĐOM ĐÓM
21) HÉT ĂN GIUN
22) KIẾN, ONG CHỌI VỚI CÓC
23) DÊ ĐI KIẾM ĂN VỚI CỌP
24) DIỀU VỚI GÀ
25) CẠC CẠC KẸC KẸC
26) LÝ TRƯỞNG DIỀU HÂU
27) CON DƠI
28) TRÂU NHÀ VÀ TRÂU RỪNG
29) CON VOI VỚI CON TRÂU
30) CHUỘT VÀ MÈO
31) THẰN LẰN MỒNG NĂM
32) THẰN LẰN TRỘM CHÂN
33) CÔNG VÀ GÀ
34) CON CÔNG VÀ LÀNG CHIM
35) CÓC THI TÀI VỚI VOI
36) THUỒNG LUỒNG TỊ VỚI RÙA
37) RÙA CHƠI VỚI HẠC
38) VÀNG ANH
39) CUỐC KÊU TRĂNG
40) LÀM KIẾP CON GÌ
41) ĐEO NHẠC CHO MÈO
42) CỌP KHÔNG SỢ DÊ
43) CỌP CŨNG KHÔNG SỢ NGỰA
44) TÌNH VỢ CHỒNG NGHĨA ANH EM
45) QUẠ BẮC CẦU
46) SÁO VÀ CÒ
47) CON CHÓ VÀNG VÀ CON CHÓ ĐEN
48) MỌT VÀ TÒ VÒ
49) CHÈO BẺO VÀ ÁC LÀ
50) TRÂU CÀY TRÂU CỘT
51) TRÂU BÉO, TRÂU GẦY
52) TẠI SAO CON TRÂU KHÔNG BIẾT NÓI
53) GÀ, VỊT VÀ CHIM KHÁCH
54) THẰN LẰN VỚI RẾT
55) QUẠ ẤU HỌC
56) TU HÚ VÀ CHIỀN CHIỆN
57) TU HÚ VÀ QUẠ
58) CON BỒ CÂU VÀ CON SÁO
59) CHÂU CHẤU KIỆN VOI
60) CÁ RÔ ĐI THI
61) LÀNG CHIM KÊU LÝ TRƯỞNG
62) LÝ TRƯỞNG KHƯỚU
63) RÙA ĐỘI BIA
64) CON RẮN VÀ NGƯỜI NUÔI RẮN
65) LONG VƯƠNG VÀ CON ẾCH
66) CON CÒ TRẮNG
67) CHÓ BA CẲNG
68) CỐC VÀ CÁ
69) ĐA ĐA VÀ CÒ
70) CÁ VỚI NGAO
71) CHIỀN CHIỆN VÀ CHOI CHOI
72) CHIM SẺ VÀ CHIM XANH
73) CHÀO MÀO MUỐN LẤY CHIM XANH
74) CHÓ PHẢI ĐÒN OAN
75) QUẠ ĂN TRỘM NGÔ
76) GÀ ÔNG ĐỒ VÀ GÀ ÔNG NGHÈ
77) HAI VỢ CHỒNG CON CHIỀN CHIỆN VÀ ÔNG SƯ
78) CÁ CHÉP HÓA RỒNG
79) CON RẮN VỚI CON HỔ
80) TẶC KÈ VÀ NÒNG NỌC
81) CON NHỆN BÁO TIN
82) CON NHỆN VÀ CON RUỒI
83) RUỒI, NHẶNG VỚI NHỆN
84) VOI, CỌP THI TÀI
85) CHẪU CHÀNG CÓ CHÍ HỌC HÀNH
86) GÀ RỪNG
87) CHÂU CHẤU VỚI CÀO CÀO
88) CHÂU CHẤU ĐÁ VOI
89) CHÍCH CHÒE VÀ VÀNG ANH
90) CON THỎ, CON CHÓ VÀ CON MÈO
91) CON RUỒI VÀ CON RỆP
92) CON CUA VÀ CON CÁY
93) TU HÚ VÀ CHIM SẺ
94) MÈO MẮC LỪA CHUỘT
95) DIỀU VỚI CẮT VÀ QUẠ
96) DIỀU, QUẠ TRANH NHAU
97) KIẾN VỚI CÁ
98) ONG VẼ
99) CON LỢN ĂN NO LẠI NẰM
100) CHẼO CỜ VÀ VẸT
101) MUỖI, CHẤY VÀ ĐOM ĐÓM
102) TRANH BAY TRƯỚC, SAU
103) CON LE VÀ CON VỊT
104) CON CỐC VÀ CON ÉN
105) CON CHÓ CÓ NGHĨA
106) CON TRÂU GHEN VỚI CON CHÓ
107) ĐỆ NHẤT CÔNG THẦN
108) VỊT ĐI XIN CHÂN
109) CON CUỐC VÀ CON QUẠ
110) GÀ MÁI GÁY
111) GÀ MÁI VỚI GÀ CON
112) CON CHÓ VÀ MẶT TRĂNG
113) CÒ VÀ BỒ CÂU
114) TRỜI CHIA CỦA
115) CHIM CHÌA VÔI
116) ỐC LO CHO ỐC
117) CON MÈO
118) KIẾN MỌC CÁNH
119) CÓC ĐI THI
120) CÓC BÔI VÔI
121) CON CÓC VÀ CON CHUỘT
122) SÁO MỎ VÀNG
123) KY CÓP CHO CỌP NÓ ĂN
124) TẠI SAO CỌP ĂN THỊT NGƯỜI
125) TÔM CÁ KẾT BẠN
126) TRÊ CÓC
127) CỌP, HƯƠU, NHÍM VÀ SƯ TỬ
128) CHUỘT BẠCH VÀ HAI VỢ CHỒNG CHUỘT CHÙ
ÔN NHƯ
NGUYỄN VĂN NGỌC
TRUYỆN CỔ NƯỚC NAM
In lần thứ II
Chương trình Việt văn 1957 của B. Q. G. G. D.
LỚP ĐỆ THẤT – ĐỆ LỤC
TẬP II : MUÔNG CHIM
THĂNG LONG
MÀO ĐẦU
Quyển này là quyển thứ hai trong bộ « Truyện cổ nước nam » mà
chúng tôi cho xuất bản. Trong quyển này, sưu tập riêng những truyện về
các giống « Muông chim ».
Kể theo phương diện ý tưởng và văn thể, thì những truyện viết đây
thay đổi nhiều lối, đại để như sau này :
a) Những truyện do ở các câu ngạn ngữ, phong dao xuất sản ra, hay
trái lại, những truyện mà sự thúc-kết đã đúc thành câu ngạn ngữ, phongdao.
b) Những truyện có thể coi như có tính-cách giải nghĩa về khoa học,
nhưng khoa học cổ-lỗ bất ngoại-hồ một câu hỏi « Tại sao ? ».
c) Những truyện hoang đường thuộc về thuyết « Luân hồi », người
hóa ra vật, vật hóa người.
d) Những truyện xưa nay tập-tục nghiệm ra cho rằng thế và thuộc
về tôn giáo hay sự mê tín.
e) Những truyện tương đối với cái lối gọi là ngụ ngôn của Âu-tây,
lấy câu kết luận làm câu luân lý để dạy người…
Mỗi lối này đáng lẽ có thể chép rời ra từng mục một. Hoặc còn có
thể thu cả những truyện chuyên về một giống vật nào cho đi liên tiếp với
nhau để làm một cái sử riêng cho giống vật ấy.
Việc đó, và cả việc nghiên-cứu, phê-bình quyển truyện hay từng
truyện một, xin để sau này, khi chúng tôi soạn được trọn bộ và có đủ thời
giờ, thì chúng tôi sẽ lưu tâm đến.
Hiện nay, chúng tôi chỉ mới có cái công góp nhặt, và càng nhặt
được nhiều bao nhiêu, chúng tôi càng lấy làm hay bấy nhiêu. Cho nên
không đợi lựa chọn gì, trong sách chúng tôi cho tập họp cả các truyện
lại và sắp đặt gián đoạn mỗi lối một ít, khiến cho người đọc có thể đọc
luôn hết truyện này đến truyện khác mà không đến nỗi chán nản.
Chúng tôi dám mong rằng khi xem quyển truyện, độc giả hoặc thấy
chỗ nào có điều sai lầm hay bỏ sót, chỉ giáo cho chúng tôi sửa chữa lại
hay bổ cứu vào, thì chúng tôi được lấy làm hân hạnh lắm.
Hà-nội, ngày 22 tháng 5
Năm Giáp-Tuất (3-7-1934)
Ô. Nh. – NG.V.NG.
1) CON LƯƠN VÀ CON CÁ RÔ
Xưa con lươn và con cá rô là một đôi bạn thân, thường năng đi lại
với nhau. Một hôm, rô đi kiếm ăn, qua chỗ lươn ở, thấy lươn đương nằm
chơi trong lờ.
Rô hỏi rằng : « Bác thư thả nằm chơi đấy ư ? »
Lươn nói : « Tôi mới dựng được cái nhà nghỉ mát. Mời bác hãy ghé
vào chơi ».
Rô sợ không vào. Lươn rằng :
- Nhà tôi gió mát, trăng trong,
1
Thềm cao, sân rộng, sổ song bốn bề.
Xin bác đừng chê !
Cá rô vẫn rụt rè đứng ở ngoài trông vào. Lươn lại rằng :
- Nhà tôi cao rộng bốn bề,
Bác vào nhà nghỉ không hề can chi.
Xin chớ ngại gì !
Rô bấy giờ bùi tai, chui vào trong lờ. Một chốc lươn vươn mình
chui ra, rủ rô cũng mau mau ra để cùng ngao du sông bể. Nhưng rô đã
mắc lờ, không làm thế nào mà ra được nữa. Lươn bảo rằng :
- Mình em như cá vào lờ,
Khi vào thì dễ, bây giờ khó ra.
Xin cố chui qua.
Nghe thấy lươn hát, rô nằm trong lờ, rô khóc mãi thế nào đến hai
mắt đỏ ngầu lên. Lươn thấy rô khóc, lươn bật phì cười. Rô càng khóc
bao nhiêu, thì lươn càng cười bấy nhiêu, cười mãi thế nào đến hai mắt
híp lại. Bởi thế mà từ đấy mắt rô lúc nào cũng đỏ ngầu mà mắt lươn bao
giờ cũng ti hí.
2
2) CON CÔNG VÀ CON QUẠ
Xưa con công với con quạ, hai con làm bạn với nhau thân lắm, vì
hai con cùng xấu cả. Một hôm hai con ngồi nói chuyện với nhau.
Quạ bảo công rằng : « Ta thử xem các giống chim trên rừng, trên
núi, giống nào cũng đẹp. Này như : con phượng hoàng, cái mình nó quý
giá biết bao, đến nỗi người ta thường khen : « Một cái lông con phượng
hoàng bằng cả một làng chim chích ». Lại như con hạc, cái hình, cái
dạng, cái chân, cái tóc nó thanh tao biết thế nào, để cho người ta phải
nói : « Hạc đứng chầu Vua ; Nghìn năm tóc bạc, tuổi rùa cũng xinh ».
Còn như anh em ta đây ! than ôi ! thân hình thật không còn giống nào
xấu bằng nữa ! »
Công nói : « Phận xấu đành vậy, chớ biết làm sao bây giờ ? »
Quạ nghĩ một lúc rồi bàn rằng : « Xấu mà làm ra đẹp, cũng được
chớ gì ! Bây giờ hai đứa ta thử tô điểm vẽ vời lẫn cho nhau xem có đẹp
hay không ? »
Công bằng lòng. Quạ bèn tô điểm, vẽ vời cho công trước. Quả nhiên
cái mình, cái đuôi công lóng lánh thành có bao nhiêu sắc đẹp, đẹp hơn
những giống chim khác nhiều. Đến lượt công đang ngồi tô điểm, vẽ vời
cho quạ, thì chợt nghe tiếng ríu rít biết bao nhiêu chim con ở phía đông
bay lại.
Quạ liền hỏi : « Chúng mày đi đâu mà kéo đàn, kéo lũ như thế ? »
Đàn chim nói : « Chúng tôi nghe đồn ở dưới phương nam có nơi
nhiều gạo, nhiều gà, lại có cả mấy cái thây ma nữa. Chúng tôi rủ nhau đi
kiếm ăn đây. Anh làm gì đấy ?… Hay ta đi một thể ».
Quạ nghe nói, trong lòng háo hức muốn đi theo đàn chim kia ngay
lập tức. Quạ mới nói với công rằng : « Bây giờ mà tôi ngồi đợi để anh tô
điểm vẽ vời cho đẹp, thì chưa biết đến bao giờ mới xong. Thôi, hay sẵn
cả đĩa mực đây, anh cứ cầm thế mà đổ lên mình tôi để tôi đi theo bọn kia,
kẻo lỡ mất một dịp may kiếm ăn tốt ».
Công thấy quạ bảo thế, chiều ý làm theo, cầm cả đĩa mực dốc vào
mình quạ. Thành bao nhiêu lông cánh quạ toàn một màu đen như mực.
Quạ bay đi kiếm ăn không còn nghĩ gì đến xấu với đẹp nữa. Nhưng
đến lúc gà, gạo, thây ma phè phỡn, trở về thấy con cò trắng muốt bay
qua, nó trông nó cười, quạ ngắm lại mình đen thủi đen thui gớm chết, thì
lấy làm thẹn, vội bay lẫn đi nơi khác.
Thành tự đó hễ thấy cò đâu, thì quạ cứ kêu : « Quạ cấu hổ ! Quạ xấu
hổ ! ». Nên chi mới có câu hát rằng :
« Quạ đã biết mình quạ đen,
Quạ đâu còn dám mon men tới cò ».
3) CON GIUN KHÔN NGOAN
3
Xưa có người bắt một con giun nhỏ làm mồi để câu cá. Khi bị
chìm xuống nước, con giun thấy một con cá muốn đến đớp, mới bảo cá
rằng : « Tôi với anh cùng là một loài ở một đất, nước với nhau. Nay
người nó bắt tôi làm mồi để nhử anh. Phỏng anh ăn thịt tôi, tôi chết, mà
anh móc vào lưỡi câu, thì anh có sống được chăng ? »
Cá nghe nói không ăn giun, bỏ đi nơi khác. Người kia ngồi câu thấy
mãi không được con cá nào, nghĩ bụng con giun ấy không làm mồi được,
bèn lấy ra quăng đi mà kiếm cái mồi khác. Thành ra con giun khỏi chết.
Bởi truyện này sau ta mới có câu hát rằng :
« Khôn ngoan ai được như giun,
Cá khôn mắc mẹo, người khôn mắc lừa ! »
4) VOI NGỰA ĐUA NHAU
Xưa con ngựa thấy con voi chậm chạp có ý khinh lờn. Ngựa đòi thi
tài với voi xem ai chạy giỏi. Lúc thi chạy đường thẳng, thì voi chạy
không kém gì ngựa mấy, nhưng lúc thi chạy đường quanh, thì ngựa chạy
nhanh hơn voi nhiều. Voi thua. Ngựa lên mặt.
Hôm sau, voi thách ngựa thi chạy đường quanh, nhưng phải chạy
sang tận hòn núi xa xa đằng trước mặt. Ngựa cho là không vào đâu, chắc
ăn đứt voi cả mười phần. Nhưng chạy được một chốc, thấy có con sông,
dòng nước chắn ngang, ngựa phải đứng dừng lại chưa biết nghĩ thế nào,
thì đã thấy voi chạy tới nơi, voi lội xuống sông mà sang được núi bên
kia. Ngựa đành phải chịu thua, và từ đấy không dám khinh voi nữa. Bởi
vậy mà người ta mới có câu thường hát rằng :
« Ngựa lau chau, ngựa đến bến giang,
Voi đủng đỉnh, voi sang qua đò ».
4
5) CON GIÁN VÀ CON NHỆN
Ngày xưa con gián và con nhện làm bạn chơi với nhau chí thân. Một
hôm con nhện phàn nàn với con gián rằng :
« Tôi ghét người chủ nhà này lắm. Tôi chẳng làm hại gì nó, mà hễ
nó thấy cái mạng tôi giăng chỗ nào, là nó cứ ra công phá hoại. Cho nên
tôi mới có câu nguyền rủa rằng :
- Ta mong cho chủ tan hoang,
Để ta mắc võng nghênh ngang cả nhà.
« Tôi, thì tôi yêu chủ nhà này lắm. Tôi chẳng làm hại gì họ, mà họ
cũng chẳng làm hại gì tôi. Dầu mỡ trong nhà tôi ăn uống tha hồ phong
lưu, mà chẳng ai phiền đến tôi cả… Cho nên tôi thường có câu chúc
nguyện rằng :
- Ta mong cho chủ ta giàu,
Để ta ăn mỡ, ăn dầu no say ».
Nhện nghe nói lấy làm giận gián. Hôm khác, gián, nhện gặp nhau
chuyện trò lúc lâu, nhện hỏi gián rằng : « Thế nào, độ này dầu mỡ no say
thích chứ ! Tôi tưởng cái thân anh cũng khổ, chỉ rong chơi rồi nhờ vào
chủ nhà mà ăn mà uống, chớ có tài nghề gì ? »
Gián đáp lại : « Thì tôi vẫn biết, tôi không có cái nghề gì cả. Còn
như anh, anh thật có tài nghề, có khôn ngoan, anh cứ nạo ruột anh ra mà
xe tơ và giăng cái mạng tinh khéo còn ai bằng. Cái mạng này bị phá, anh
giăng luôn ngay được cái mạng khác ! Chỉ hiềm rằng nhà chủ họ không
biết công khó nhọc cho anh, họ lại cứ phá anh luôn, làm cho anh lắm lúc
không còn chỗ mà ở, không có miếng mà ăn. Chẳng trách anh cầu cho
cửa nhà họ tan hoang là phải. Nhưng khốn tôi chẳng thấy họ tan hoang tí
nào, tôi chỉ thấy càng ngày, họ lại càng giàu sang như câu tôi chúc vậy.
Mà cái trò họ lịch sự hơn bao nhiêu, thì họ lái phá công nghiệp của anh
hơn bấy nhiêu ».
Nhện nghe gián nói, lại càng tức giận gián hơn trước nhiều ! Cách
đó ít lâu, nhà chủ giàu sang lịch sự, mua được một con khướu nuôi để nó
hót chơi. Phải tính con khướu thích ăn gián, mà chủ cứ sai đầy tớ quơ
mạng nhện xong, lại đi bắt gián làm đồ ăn cho khướu.
Khi đó, cả họ nhà gián bị bắt gần hết, chỉ còn con gián kia cứ phải
lẩn lút chúi ở dưới hang dưới cống không dám nho nhoe bò lên trên mặt
đất hay mò mẫm ở nơi gậm chạn, đáy nồi nữa.
Một hôm, nhện bắt gặp gián đang tìm đường trốn tránh, nhện liền
giữ lại hỏi : « Ấy kìa chào bác ! Thế nào, độ này bác xem cái thân gián
bác đã khốn khổ hơn cái thân nhện của tôi đây chửa ? Tôi tuy bị nhà chủ
nó phá cái mạng, nhưng không bị nó tìm mà giết chết bao giờ, nhất là
chết ở trong cái miệng của một giống chỉ có nghề tài hót mà thôi. Bác
chúc nó cho nhiều nữa vào, bác cũng được cái tài nghề chúc đấy !… »
Nghe nói xấu hổ, gián tụt ngay xuống miệng cống, không còn nói
năng gì được nữa. Thành tự bấy giờ gián, nhện giận nhau, tuyệt giao hẳn
và coi nhau đã như hằn thù vậy.
6) CON CÓC LÀ CẬU ÔNG TRỜI
Xưa, phải một năm Trời làm hạn hán đã năm sáu tháng không có
một giọt mưa, bao nhiêu đầm, vũng, ao, chuôm đều cạn sạch. Không có
nước, các loài cây cũng khô héo rũ rượi ; không có nước, các loài vật
cũng nhao nhao như muốn làm loạn vậy.
Có một con cóc ở trong hang sâu, nghĩ mình ngắn cổ, kêu chẳng
thấu Trời, nhưng nước không có uống cóc lấy làm tức mình, giận thân,
bỏ hang định lên tận Trời kêu cho Trời biết mới nghe.
Đi được một đoạn, cóc gặp con ong vẽ, nó hỏi đi đâu. Cóc bảo :
« Trời làm hết nước uống. Tao đi kêu Trời đây ».
Ong vẽ nói : « Như loài chúng tôi chỉ sống về hoa, về tổ. Bấy lâu
Trời nắng, đi hái hoa, thì hoa chẳng nở, muốn về tổ, thì nước không có.
Có phải anh đi kêu Trời, thì anh cho tôi đi theo với ».
Cóc bằng lòng. Cóc cùng với ong vẽ cùng đi. Đi một đoạn nữa, hai
con gặp một con gà, nó hỏi : « Hai anh đi đâu ? »
Cóc, ong đáp : « Trời làm đại hạn. Chúng tao đi kêu Trời đây ».
Gà nói : « Như loài chúng tôi chỉ sống về bông lúa, hạt ngô, mà Trời
nắng dữ mất mùa mất màng, muốn ăn không có, hạt nước khô cổ cũng
chẳng tìm ra. Có phải hai anh đi kêu Trời, thì hai anh cho tôi đi theo
với ».
Cóc bằng lòng. Cóc cùng với ong, gà cùng đi. Lại đi một đoạn, ba
con gặp một con cọp, nó hỏi đi đâu. Ba con đáp : « Trời làm tiêu khổ.
Chúng tao đi kêu Trời đây ».
Cọp nói : « Được đấy ! Để tao cùng đi với chúng mày ».
Trời nắng lâu hay mưa dầm, tao chẳng quản ngại gì. Nhưng tao thấy
chúng mày khao khát khốn khổ về nước, tao cũng thương tình, để tao đi
5
với cho thêm bè, thêm cánh. Một đàn bốn con , đi mãi bao lâu mới đến
cửa nhà Trời.
Con cóc dặn ba con kia rằng : « Các anh hãy cứ đợi ngoài này để
một mình tôi vào trước. Bao giờ tôi kêu anh nào vào thì anh ấy hãy vào,
tôi không kêu thì thôi ».
Rồi cóc liền nhảy vào. Cóc thấy Trời đang ngồi đánh tổ tôm
6
với
mấy ông Tiên. Cóc thị võ, giương oai, trợn to hai mắt, phùng to hai má,
nhảy ngay vào giữa đĩa nọc ngồi chồm hổm.
Trời thấy vậy giận lắm, thét lên rằng : « Mi lên đây làm gì mà hỗn
láo dường này ? »
Cóc chẳng nói chẳng rằng, lại càng giương mắt to thêm. Trời liền
cho gọi lính ra đánh cóc. Cóc không hề sợ, ra lệnh cho ong vẽ. Ong vẽ
7
bay vào cắn , bao nhiêu quân lính đau đớn chạy tán loạn cả. Trời càng
8
giận, truyền cho Thần Sấm, Thần Sét ra đánh cóc. Cóc ra lệnh cho gà .
Gà vào gà mổ ; Sấm, Sét hoảng hồn chạy ráo. Trời càng giận, truyền cho
Thần Thiên Cẩu ra đánh cóc. Cóc vẫn cóc sợ gì, ra lệnh cho cọp. Cọp
vào cọp cắn, Thiển Cẩu chạy chí chết…
Trời thấy thế thua không làm gì nổi cóc, phải chịu phép nó và đấu
dịu với nó rằng : « Thưa cậu ! Thế cậu muốn gì, cậu bảo cho biết ».
Cóc nói : « Tôi lên đây chẳng có việc gì. Tôi chỉ muốn hỏi sao đã từ
lâu Trời không mưa để cho mọi loài dưới hạ giới phải chịu khô khan khổ
sở vì không có nước ? »
9
Trời bèn gọi Vũ súy ra hỏi và trách Vũ súy rằng : « Chú giữ việc
làm mưa, mà sao chú không chịu chăm chút để cho muôn vật dưới hạ
giới nó khốn khổ, nó dám lên tận đây làm huyên náo như thế này ! »
Vũ súy quỳ tâu : « Việc là việc chung thiên hạ, không riêng chi một
phương nào. Thiên hạ bao la rộng rãi, mà chúng tôi chỉ có một mình coi
10
không xuể , tất cũng có chỗ sót, xin Trời thẩm xét cho ».
Cóc nghe tâu, gắt lên rằng : « Thôi, tôi không biết đâu cả. Trời đã
chịu phép tôi, thì từ nay hễ khi nào thấy tôi kêu, tôi nghiến răng, thì phải
mưa ngay
11
xuống, kẻo tôi lại lên đây làm loạn chớ chẳng tha ».
Trời bảo : « Vâng, thôi mời cậu cứ về. Từ giờ tôi xin làm theo lời
cậu không hề dám sai ».
12
Bấy giờ cóc mới chịu nhảy ra rủ cả ong vẽ, gà và cọp cùng về. Ngay
hôm ấy, Trời mưa. Bởi sự tích này mới thành có những câu về con cóc
rằng :
« Có cóc khô gì đâu ?
Cóc sợ gì ai !
Con cóc là cậu ông Trời,
Cóc nghiến răng, chuyển động bốn phương Trời ».
7) CON GÀ, CON LỢN VÀ CON CHÓ
Xưa có một nhà thật giàu có, ruộng nhiều, trâu bò lắm. Phải một
hôm đến hơn mười con vừa trâu, vừa bò lạc đi đâu mất cả. Sau nhờ bà
con láng diềng lùng đi tìm mãi mới lại thấy đủ.
Cảm cái ơn to ấy, hai vợ chồng bàn nhau rằng : « Của ta đã mất lại
tìm thấy là nhờ lòng tử tế của bà con xóm diềng cả. Vậy giờ ta phải báo
ơn lại. Nếu bữa nay chưa kịp, thời bữa mai ta phải thịt một con gà, một
con lợn và một con chó, rồi mời những ai đã giúp việc ta đến cơm rượu
cho thật no say ».
Hai vợ chồng bàn xong đi ngủ. Đêm nằm thấy ông Tổ hiện lên báo
mộng rằng : « Tao nghe chúng mày định một bữa mai giết hại những ba
con vật. Tao sợ chúng mầy làm điều thất đức. Vậy chúng mày mà giết
chúng nó, thì phải biết hóa kiếp cho chúng nó, rồi trong nhà mới yên
lành được ».
Vợ chồng nghe nói, kêu với ông Tổ rằng : « Chúng con dương gian
mắt thịt, không biết làm cái gì để hóa kiếp cho chúng nó. Xin cụ dạy
cho… »
Ông Tổ bảo rằng : « Hễ khi làm thịt gà thì phải hái lá chanh, khi làm
thịt lợn thì phải thái củ hành, khi làm thịt chó thì phải giã củ riềng, mà
cho thêm vào, thì hồn các con ấy mới hóa được ».
Hai vợ chồng vâng vâng dạ dạ. Mà khi ông Tổ nói, con gà, con lợn,
con chó, ba con đều nghe thấy tiếng, biết mình không sao tránh khỏi
chết, cũng đành vậy. Nhưng ba con chỉ sợ chủ nhà quên điều ông Tổ dặn
các thứ phải gia thêm vào thịt cho mau hóa kiếp, nên lúc mới sáng tinh
sương, bà con ùa nhau kêu ầm lên :
Gà thì : « Tục tác lá chanh ».
Lợn thì ủn ỉn : « Mua hành cho tôi ».
Chó thì khóc đứng, khóc ngồi : « Mẹ ơi, mẹ hỡi, mua tôi đồng
riềng ».
Vì truyện này mà tự đó ta ăn gà, phải có lá chanh, ăn lợn phải có
hành, ăn chó phải có riềng thì ăn mới ngon mà cũng tức là để chóng hóa
kiếp cho ba con vật rất có ích cho ta vậy.
8) CON CHÈO BẺO
Xưa có một người, về mùa tháng mười, lúa đã gần chín, đêm nào
cũng ra đồng nằm để giữ lúa. Gặp phải một đêm, có hai tên kẻ trộm rủ
nhau đến cắt trộm lúa. Chúng thấy có người nằm giữ đấy rồi, không biết
làm thế nào, mới bảo nhau giết chết đi.
« Than ôi trời cao đất dầy !
Để cho người ấy bị tay tham tàn ! »
Ai ngờ, oan hồn thì hồn hiện, hồn người chết ấy lên Thiên Đình kêu
với Ngọc Hoàng.
Ngọc Hoàng liền sai quỷ sứ xuống bắt hai tên kẻ trộm lên, rồi phán
rằng : « Hai đứa chúng mày siêng ăn, biếng làm chỉ lo trộm cướp của
người, rồi lại còn giết người. Như tội ấy thật là to lắm ! Hai tên bây phải
chết, một tên thì ta bắt làm châu chấu, còn một tên thì ta bắt làm cào
cào ».
Xong, Ngọc Hoàng lại phán rằng : « Còn tên giữ lúa chết oan kia,
thì ta hóa kiếp cho làm con chèo bẻo ».
Tên kia tâu rằng : « Bây giờ con hóa làm chèo bẻo, thì con phải làm
những việc gì ? »
Ngọc Hoàng phán : « Ta cho mày hóa làm chèo bẻo, một là để cho
mày lại theo được cái nghiệp giữ lúa như xưa, hai là để cho mày có dịp
báo thù được hai tên kẻ trộm. Bao giờ lúa chín, có châu chấu, cào cào
đến ăn hại, thì ta cho mày cứ tha hồ tự do bắt nó mà ăn thịt ».
Bởi sự tích này mà hằng năm cứ vào độ tháng mười gần lúa chín, thì
có chim chèo bẻo bay lượn khắp mọi cánh đồng mà bắt châu chấu với
cào cào.
13
9) CON TÔM VÀNG
Đời xưa có người giàu có, nuôi một con mèo cực đẹp. Ông rất cưng
yêu con mèo, mà con mèo cũng hết lòng với ông. Một hôm, ông cho gọi
thợ bạc đến trổ một con tôm bằng vàng để làm đồ chơi. Con tôm vàng
trổ khéo lắm không khác gì con tôm thiệt. Nên ông lấy làm quí mến,
ngồi đứng đâu, thường vẫn đem theo. Phải một khi ông đi chơi vắng, bỏ
quên con tôm vàng ở nhà, lúc trở về tìm, thì con tôm vàng mất đâu, tìm
sao cũng không thấy.
Ông bèn gọi con mèo đến mà bảo rằng : « Mày ở nhà, có biết con
tôm vàng đâu, thì tìm ra cho được. Nếu không tìm thấy, thì tao cứ mày
tao trị tội ».
Con mèo thưa rằng : « Tôm vàng của ông ở đâu thì tôi không biết,
nhưng tôi biết trong nhà có con chuột, tính nó hay gậm, hay tha, để tôi
thử xin tra nó xem sao ».
Rồi con mèo đi tìm con chuột gầm gừ hỏi rằng : « Ông chủ tao đánh
mất con tôm vàng. Mày có tha đi đâu, thì phải đưa trả ngay đây, không
tao cắn chết ».
Con chuột run sợ nói rằng : « Con tôm vàng, thật tôi không lấy.
Nhưng tôi biết, hôm qua lúc ông chủ đi vắng, người thợ bạc lẻn vào nhà
lấy trộm rồi đem đi. Hay bây giờ anh với tôi, ta phải đi lấy tôm vàng về
cho được ». Mèo nghe nói, vui lòng nhận đi ngay…
Nhà người thợ bạc ở cách một con sông, mèo chuột phải lội qua mới
sang đến nơi. Mèo thì ngồi đợi trước cửa, còn chuột chạy vào lục lọi
khắp mọi nơi. Chuột khoét mau thủng một cái hòm, chui vào tìm bới, thì
quả nhiên thấy con tôm vàng trong ấy. Chuột vội cắn đem ra cho mèo.
Mèo lấy làm mừng lắm, ngậm con tôm vàng vào mồm. Hai con lại rủ
nhau lội qua sông để về nhà. Nhưng đang lúc lội, mèo luống cuống làm
sao, để cho tôm vàng sẩy rơi xuống nước.
Mèo lấy làm lo sợ, nói với chuột rằng : « Con tôm vàng ở dưới đáy
sông rồi ! Hai đứa chúng ta cùng không biết lặn cả. Liệu làm thế nào bây
giờ đây ? »
Chuột trách mèo : « Công tôi đã tìm thấy được tôm vàng, anh lại
đem đánh rơi đi. Việc ấy thật là lỗi ở anh, không can gì đến tôi nữa ».
Giữa lúc hai con đang ngồi than thở bàn bạc với nhau, mèo chợt
thấy một con cá tự dưới sông nhảy vào bờ. Mèo nhanh chân chạy lại, bắt
con cá, ngoeo ngoeo nạt nộ rằng : « Tao vừa đánh rơi con tôm vàng
xuống sông. Có phải mày đã ăn mất rồi, thì mày nhả ra trả tao đây.
Không thì tao cắn, tao nuốt ngay bây giờ ».
Cá nghe nói, sợ hãi thưa rằng : « Con tôm vàng, lúc nãy tôi quả có
bắt được ngỡ là tôm thật, tôi đã toan ăn, nhưng đến lúc gậm, thấy nó rắn
quá, tôi lại nhả ra bỏ. Hiện bây giờ nó còn ở dưới đáy sông ».
Con mèo vội bảo : « Thế mày phải mau lặn xuống sông lấy đem lên
đây cho tao, thì tao mới tha mày ».
Cá uốn mình lặn xuống sông lấy ngay được tôm vàng đem lên trả
mèo.
Mèo thấy tôm vàng, chẳng thèm cảm ơn gì cả, đội ngay lên đầu mà
đi, vừa đi vừa bảo chuột rằng : « Tao ngậm tôm vàng vào mồm, tao lại sợ
nó sẩy ra như lúc nãy thì chết. Bây giờ tao đội nó trên đầu vững vàng thế
này, thì thật không còn ngại gì nữa ».
Mèo nói thế, đã tưởng là khôn lắm. Nào ngờ chưa đi được mấy
bước, có con quạ lượn trên không, trông thấy tôm vàng nhấp nhánh ở
dưới tưởng cái gì ăn được, sà ngay xuống đớp, rồi bay lên đậu trên cành
đa cao chót vót.
Mèo thấy tôm vàng lại mất, hoảng hốt vừa giận vừa lo, bàn với
chuột rằng : « Trước tôm vàng rơi xuống nước, ta còn sai cá lặn xuống,
nó lấy lên được. Bây giờ tôm vàng ở trên ngọn cây, ta biết mượn ai bay
lên đó để đem về được cho ta ».
Chuột tán nhảm : « Ừ, quạ nó là loài cầm thì nó bay, mình là loại
thú thì mình bay sao được ! »
Mèo ngồi nghĩ thoáng một lúc, nói
chết bắt quạ ! » Thôi được rồi.
14
rằng : « Giả chết bắt quạ, giả
Rồi mèo chạy lại mé sông, uống thật nhiều nước cho bụng căng ra.
Đoạn đến nằm dưới gốc cây đa, ềnh cái bụng trắng hếu ra giả làm chết.
Quả nhiên con quạ đang đậu trên cao ngậm tôm vàng không nổi, trông
thấy mèo chết dưới gốc cây, vội vàng bay xuống để ăn thịt mèo. Mèo
thấy quạ đến gần nhổm ngay dậy, giơ chân cào một cái thật mạnh, quạ sợ
mất vía, nhả luôn tôm vàng ra bay thẳng một mạch. Mèo lại nhặt lấy tôm
vàng, ngậm thật chắc vào mồm rồi ung dung đưa về cho ông chủ. Ông
chủ lại thấy tôm vàng, lấy làm mừng rỡ vô cùng, và tự đó lại càng cưng
yêu mèo bằng mấy trước.
10) TẠI SAO DƠI ĂN MUỖI
Xưa có con muỗi với con dơi hai con có việc bất bình đi thưa nhau.
Muỗi thì mướn mèo làm thầy kiện, dơi thì cầu chuột
15
làm thầy cãi. Thế
nào thầy kiện mèo xơi quách mất thịt thầy cãi chuột đi. Dơi mất thầy, dơi
thua. Nhưng dơi không chịu, chỉ chực báo thù lại được muỗi mới nghe.
Muỗi sợ, muỗi không dám thò đầu ra ban ngày, cứ đợi lúc nhá nhem tối
mới vo ve bay ra. Dơi biết chừng, cũng không ra ban ngày, đợi lúc nào
muỗi ra dơi cũng mới ra. Dơi ra dơi đớp thật nhiều muỗi. Dơi ăn muỗi,
cái mối oán thù gây ra từ đó.
11) CON THỎ VÀ CON CHÓ
Xưa có con thỏ, một hôm, lạc rừng gặp một con chó săn. Thỏ cắm
đầu chạy. Chó theo vết đuổi. Hai con chạy qua ba quả núi, đến quả núi
thứ tư chạy quanh hơn năm vòng. Hai con cùng mệt nhoài, không con
nào chạy được nữa. Chợt có người đi cày về trông thấy, đến bắt được cả
chó lẫn thỏ. Vì truyện này sau thiên hạ mới đặt câu ca rằng :
« Thỏ liệt, thì chó cũng què ;
Thỏ chết, chó cũng hết nghề chạy rông !
Theo đôi thì cũng uổng công !
Để cho điền phủ ngồi không ăn cùng ».
12) LỪA THI TÀI VỚI NGỰA
Xưa có con lừa, nghe tiếng con ngựa có tài, một hôm, đến chơi với
ngựa, và thách rằng :
- Ta đây một đấng anh hùng ;
Nghe ngươi tài nghệ, thử cùng thi nhau.
Ngựa khinh lừa, không thèm thi, đáp lại rằng :
- Anh hùng chơi với anh hùng ;
Bõ chi cá chậu, chim lồng mà thi.
Lừa giận lắm, cứ thách mãi. Sau ngựa phải ừ chịu. Hai con cùng ra
chạy thi với nhau mấy vòng. Ngựa thì chạy nhanh như mưa tuôn, như
nước chảy. Lừa ta thì lạch đạch theo đã chẳng kịp, lại còn luống cuống
ngã bổ ngửa ra. Ngựa đứng lại, cười rằng :
- Chừa chưa ? Chừa chưa ?
Đã biết chưa lừa !
Trước kia, chỉ biết mặt nhau ;
Bây giờ mới biết tài nhau một lần.
Lừa nín thin thít, ngựa lại nói luôn nữa rằng :
- Ta đây nào có phải như người,
Bấy lâu đánh giặc đông, tây ;
Cuốn mây, thổi gió, ai tầy công ta !
13) TU HÚ GỌI CÔ
Xưa phải một năm Trời làm đói kém lắm, nhà kia có hai cô cháu,
không biết kiếm gì mà ăn cho đủ. Cả nhà chỉ còn được một dúm đỗ. Hai
cô cháu phải đem nấu lên, rồi chia nhau lần lượt ngậm hơi cho đỡ đói.
Ngậm đi ngậm lại đã bao nhiêu ngày, các hột đỗ sau cứ dần dần mòn xác
đi không còn gì nữa. Phải khi cháu ngậm, hột đỗ nó trôi vào cuống họng
không sao móc ra được. Thành cô không còn gì ngậm hơi, cô đói lả ra,
cô chết. Cháu thấy cô chết, sinh ra buồn bực, vả, đói quá, sức đã kiệt
cùng, lăn ra chết nốt. Chết rồi cái hồn hóa ra làm con tu hú.
Cho nên bây giờ khi nào đến tiết mùa hè, cây kê, cây đỗ nở hạt, tu
hú có lắm cái ăn, thì nó lại sực nhớ đến cô nó trước mà nó cứ kêu « cô
nó » :
16
- Cô hố ! Cô hố !
Lúa đã trổ,
Đỗ đã chín ;
Bay về mà ăn !
Và bởi vậy sau mới có câu hát rằng :
« Một miếng khi đói ;
Bằng gói khi no.
Kìa con tu hú :
« Thưa cô »
17
nó gọi hoài ».
Còn có người nói tu hú sau nhớ đến cô quá, có làm bài phụ vong
linh cô nó lên. Bài phụ rằng :
« Hồn vậy ! Hồn vậy !
Hồn ở nơi nào, hồn về.
Hoặc, hồn ở cây xanh,
Hoặc hồn ở lá đỏ,
Xin hồn về áp vào con đồng :
Hoàn phong phát động.
Nhật bất khả quá,
Dạ bất khả tri,
Cấp cấp như luật lệnh ! »
Hồn cô nó lên, nói rằng :
- Cháu ơi ! Cháu ơi !
Cô với cháu là dấu một nhà,
Ai nghĩ khi âm dương bất hòa,
Cơ tạo biến ra dâu bể !
Thôi phải sao, chịu vậy.
Biết nói năng chi nữa ?
Cháu đã có lòng,
Hồn cô đây cũng thỏa.
Sau này cháu cứ nhớ cô,
Đừng có quên cô là được vậy.
14) CHÀO MÀO ĂN TRỘM ĐÀO
Xưa một bà Tiên ở trên trời có một vườn đào đẹp lắm. Chim chào
mào lẻn vào rả rích ăn hết bao nhiêu quả. Đến hôm bà Tiên ra chơi vườn,
thấy mất nhiều đào, bà cho đôi chim khách đến hỏi.
Khách thưa rằng : « Mấy hôm nay, tôi chỉ thấy chào mào nó vơ vẩn
ở đấy. Chắc chỉ nó ăn trộm đào thôi ».
Bà Tiên nghe nói giận lắm, đến thưa với Trời. Trời liền sai cà cưỡng
đi bắt chào mào lại.
Chào mào kêu với Trời rằng : « Con khách nó đặt cho tôi điều gian
xảo. Nó nói bâng quơ, không có bằng chứng gì cả. Nó thật đã vu cáo cho
tôi. Vu phản tội đồng, xin Trời cho xét lại ».
Trời thấy chào mào nói có lý. Mới phán rằng : « Dâm tắc tang, đạo
tắc tích. Nay không ai bắt được nó quả tang ăn trộm đào, thì ta cũng
không tra ra sao được ». Nói đoạn, Trời tha cho chào mào về.
Mùa sau, đào chín, chào mào ăn quen bén mùi, lại lẻn vào vườn đào
ăn trộm quả. Không ngờ bà Tiên đã cho chèo bẻo rình đấy từ trước. Nên
lúc chào mào ta đang ngồi ăn đào, miệng ăn, tay lấy như của nhà mình,
thì chèo bẻo tóm ngay được, nắm đầu lôi đi. Bà Tiên giận quá, liền sai
bắt nó đưa lại cho Trời. Bận này thì chào mào cứ cúi đầu gục mỏ xuống,
không còn dám nỏ mồm như bận trước nữa.
Trời nổi lôi đình quát mắng ầm ầm : « Mày thật là một quân đã đi
làm đĩ lại còn già hàm. Phen này hẳn mày không cãi được nữa. Tao phải
trị cho mày biết tay mới được ».
Trời liền sai con cắt ra đập vào đầu chào mào. Chào mào như không
có ý sợ. Trời điên tiết, đứng phắt dậy đá thốc một cái vào đít, chào mào
ngã lộn xuống hạ giới, máu chảy đỏ lòe loẹt. Bởi vậy mà từ đó chào mào
vẫn còn cái đít đỏ. Nên mới có những câu tục ngữ :
« Chào mào đỏ đít,
Chiêm bao chào mào đỏ đít ».
18
Và bây giờ trẻ con đùa với nhau, có khi cầm hai cẳng dốc đầu
xuống đất mà nói rằng :
« Chào mào, mào chào !
Sao đỏ lỗ đít ».
19
15) CHÀO MÀO VÀ CÚ
Xưa có con chào mào và con cú làm bạn với nhau thân thiết lắm. Hễ
cú đi đâu thì gửi nhà cho chào mào trông hộ, mà chào mào đi đâu cũng
giao nhà cho cú giữ hộ. Hai con giữ nhà giúp lẫn nhau rất cẩn thận không
con nào mất gì bao giờ cả. Phải một khi chào mào đi vắng đâu nhiều
ngày quá, cú giữ nhà hộ, sinh tính tham lam làm sao, chào mào để lại
bao nhiêu hoa quả, của cải gì là cú vét thu sạch. Đến khi chào mào về đã
thấy mất hết cả đồ ăn thức đựng, lại chẳng thấy cú đâu, lấy làm giận lắm
muốn đi tìm cho được. Nhưng cú lỉnh mặt tài, chào mào lùng đâu cũng
không thấy, đành về tổ đứng chửi : « Cha cú ! Cha cú ! »
Rồi tự đó chào mào không chơi với cú nữa. Và thành tự đó chào
mào kiếm ăn đâu, hễ thấy cú mon men lại, là rủ nhau từng đám đến vừa
20
đánh, vừa chửi : « Cha cú ! Cha cú » để chực đòi hỏi những của đã mất
trộm khi xưa. Cú đành chịu không dám chọi lại. Và bởi truyện này, trẻ
mới có câu thường hát rằng :
« Chào mào ơi hỡi chào mào !
Hễ thấy con cú nơi nao đánh liền.
Cú đành ngồi chịu, cú ...
 





