Ý NGHĨA CỦA VIỆC ĐỌC SÁCH
Thoi Quen Xau Oi Chao Mi

- 0 / 0
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: Lê Thị Minh Hiền
Ngày gửi: 15h:17' 11-03-2024
Dung lượng: 667.4 KB
Số lượt tải: 6
Nguồn:
Người gửi: Lê Thị Minh Hiền
Ngày gửi: 15h:17' 11-03-2024
Dung lượng: 667.4 KB
Số lượt tải: 6
Số lượt thích:
0 người
Thói Quen Xấu Ơi Chào Mi
Koike Ryunosuke
Nhà xuất bản Thời đại
Lời nói đầu
Một người trông bề ngoài có vẻ hạnh
phúc đến đâu đi chăng nữa thì trong sâu
thẳm con người ấy ít hay nhiều vẫn có
những “thói xấu” mà người khác không
nhìn thấy. Đó là sự do dự không quyết
đoán, sự so đo tính toán, cảm giác khó
chịu khi so bì với người khác, cảm giác
lo lắng sợ người khác nói xấu, hay sự
kiêu căng ngạo mạn (sợ người khác
không đánh giá cao mình) v.v…
Khi bị chi phối bởi những “thói xấu” =
“tính xấu” ấy tâm trạng, cách nói chuyện,
cử chỉ của chúng ta không có sự thoải
mái và dễ trở nên bức bối, khó chịu mà
chúng ta không hề hay biết.
Những “thói xấu” đó không chỉ đơn thuần
khiến chính bản thân chúng ta khó chịu
mà còn ảnh hưởng tiêu cực đến cả người
khác.
Nếu ta cứ để mặc cho những “thói xấu”
đó tự do phát triển thì không chỉ bản thân
chúng ta khổ sở đánh mất sức hấp dẫn
của bản thân mà còn khiến cho tình cảm
giữa con người và con người xa cách
hơn.
Nói cách khác, nếu chúng ta rèn luyện để
“tạm biệt” được những “thói xấu = tính
xấu” để sống thoải mái hơn thì không chỉ
bản thân chúng ta cảm thấy vui sướng mà
sức ảnh hưởng của nó lan tỏa ra cả
những người xung quanh. Chỉ với điều
đơn giản như vậy thôi chúng ta sẽ trở
thành người có sức hấp dẫn hơn.
Nào, ngay bây giờ chúng ta hãy nói lời
tạm biệt với những “thói xấu”.
Koike Ryunosuke
Chƣơng I: “CON NGƢỜI
VỚI NHỮNG THÓI
XẤU” “CON NGƢỜI
TUYỆT VỜI”
Ngƣời có bản tính tốt là ngƣời nhƣ thế
nào?
Khi nghe những khẩu hiệu như “Hãy nuôi
dưỡng tính cách tốt”, “Hãy đối tốt với
mọi người” không ai phản đối cả. Nhưng
thực tế rất khó để thực hiện điều đó.
Người ta thường cho rằng “người tốt”
“là người luôn cống hiến hết mình vì
người khác”, “là người luôn đối xử tốt
với người khác”, họ không biết làm
người tốt thì có lợi gì cho bản thân.
Nói một cách thẳng thắn thì con người
hành động vì người khác.
Tuy nhiên, theo đạo Phật “trở thành
người có tính cách tốt” không có nghĩa là
phải làm một cái gì đó cho người khác
hay ban ơn cho ai đó. Thực sự điều đạo
Phật muốn hướng đến chính là sự thanh
lọc tâm hồn, làm tan biến những ham
muốn trần tục dễ khiến người ta bị căng
thẳng như “dục, nộ, mê”. Để biết được
lợi ích của việc trở thành “người có tính
cách tốt” thì chúng ta cần phải biết đến
điểm bất lợi khi là “người có tính cách
xấu”. Một người khoe khoang, khoác lác
sẽ khiến những người xung quanh cảm
thấy ngột ngạt, một người suốt ngày than
vãn sẽ khiến người khác phải lo lắng.
Hoặc một người luôn so bì, ghen tị với
người khác trong thâm tâm sẽ luôn thấy
bức bối không yên và điều đó thể hiện
lên sắc mặt, biểu cảm, ảnh hưởng đến
việc tạo dựng mối quan hệ trong giao
tiếp.
“Người có tính cách xấu” trước tiên
khiến bản thân chịu thiệt thòi đồng thời
cũng mang áp lực, căng thẳng đến cho
người khác. Ngược lại “người có tính
cách tốt” không những không khiến bản
thân thiệt thòi mà cũng không hề gây áp
lực, căng thẳng cho người khác. Nhờ vậy
sẽ có mối quan hệ xã hội rộng rãi và tốt
đẹp.
“Cả nể” có phải là tính cách tốt?
Người ta thường hay nói rằng “tốt quá sẽ
bị thiệt” hay “người tốt dễ bị lợi dụng”.
Trong trường hợp này người ta muốn ám
chỉ đối phương là người “cả nể”. Mặc
dù họ cũng đang bận rộn với công việc
của mình nhưng vẫn không thể từ chối sự
nhờ vả của người khác.
Người “cả nể” không phải là “người có
tính cách tốt” mà chỉ do họ thiếu dũng
cảm để từ chối hay ngại từ chối. Sự ái
ngại ấy bắt nguồn từ cảm giác lo sợ
“không muốn bị đối phương ghét”,
“không muốn bị đối phương bài trừ”.
Phân tích theo đạo Phật thì sự lo sợ ấy
chính là một tâm trạng trong “nộ” (giận
dữ). Mặc dù có từ chối việc được nhờ
vả đi chăng nữa cũng chưa chắc đã bị
đối phương ghét nhưng bản thân họ lại lo
sợ rằng “nếu mình không làm có lẽ họ sẽ
giận”. Chính vì lo ngại cảm giác “giận
dữ” của đối phương khiến tâm trạng luôn
nặng nề, ủ rũ cho nên Phật giáo mới cho
rằng đó là một loại “tính cách xấu”. Có
lẽ một trong những lí do khiến người ta
không thể từ chối lời yêu cầu của người
khác là do người ta xuề xòa. Tương tự
như vậy đạo Phật gọi việc không thể
phán đoán rõ ràng sự vật sự việc là “vô
tri”. Hơn nữa, “vô tri” cũng là trạng thái
đánh mất kiểm soát bản thân nên không
thể nói rằng đó là “tính cách tốt”.
Thông thường, khi quá bận rộn hoặc có
áp lực lớn người ta chấp nhận “tính cách
xấu”, ngược lại thì cho rằng đó là “tính
cách tốt”, đó là một định kiến sai lầm.
“Người có tính cách tốt” có sự minh
bạch và điềm đạm sẽ không tạo cơ hội
để người khác nghĩ rằng “tôi sẽ lợi dụng
anh”. Nếu bản thân thực sự thấy thoải
mái khi nhận làm công việc của mọi
người thì đó là điều đáng khâm phục.
Tuy nhiên, nếu trong lòng không thực sự
thấy thoải mái, “nếu không bắt buộc phải
làm thì tôi cũng không muốn làm” thì bạn
cần có dũng khí để từ chối.
“Do dự” cũng là một loại tính cách xấu
Tôi đã từng trải qua cảm giác khó chịu
khi người bạn thân đi mua đồ mà mãi
không quyết định được sẽ mua cái nào.
Cô ấy luôn miệng nói những câu như
“A… cái váy kia đẹp đấy. Nhưng phần
gấu áo hơi rộng nên nhìn có vẻ béo. Ồ…
cái này trông cũng được nhưng màu này
thì không thích lắm. Nếu không mua gì thì
không có cái mặc nhưng quần áo của năm
nay thật là... mãi mà chưa chọn được”.
Nếu khi bạn lựa chọn một cái gì đó mà
lại nghĩ là “muốn có cái tốt hơn” hoặc
“không muốn bị thiệt” sẽ dễ rơi vào ngõ
cụt của sự phân vân “do dự”. Sự sốt
ruột, bực tức của những người xung
quanh đối với những người luôn “do dự”
là do bộ cảm ứng của trái tim rất nhạy
cảm với “tham vọng”. Con người thường
dễ dãi với những “tham vọng” của bản
thân nhưng lại khắt khe với “tham vọng”
của người khác.
Điều tồi tệ hơn bất cứ điều gì của sự “do
dự” chính là nó mang lại sự bất lợi cho
chính bản thân người do dự. Nhìn bề
ngoài có vẻ như họ phân vân, do dự vì
thích vậy nhưng sự phân vân tiêu hao
nguồn năng lượng lớn để đắn đo “giữa
cái này và cái kia, nên chọn cái nào?”
nên trong lòng sẽ không thoải mái, dần
dần tạo thành căng thẳng, áp lực mà bản
thân người đó không hề hay biết.
Hầu như các trường hợp phân vân là do
chưa có cái nào đủ điều kiện để họ đưa
ra quyết định. Cũng có nghĩa là cái nào
cũng được. Nếu như vậy thì “do dự”
mang lại ảnh hưởng xấu. Trước tiên,
chúng ta phải sáng suốt đưa ra quyết định
là “chọn cái này” hoặc từ bỏ cả hai
không lựa chọn cái nào cả.
Hơn nữa, một khi đã quyết định thì hãy
cố gắng để không cảm thấy hối hận là
“nếu mua cái kia thì tốt hơn” hoặc “giá
mà cứ mua thì tốt”. Tôi muốn nhấn mạnh
rằng dù chọn cái nào đi chăng nữa thì rốt
cục cũng không khác nhau là mấy.
Lắng nghe ngƣời khác than thở không
phải là tính cách tốt
A i cũng có những lúc muốn nói với
người khác rằng “này, này nghe tớ
này…” để than thở chuyện gì đó. Nhưng
nếu cứ lặp đi lặp lại một câu chuyện hay
than thở đến hai, ba tiếng trên điện thoại
thì như thế nào? Người phải nghe những
câu chuyện ấy sẽ cảm thấy nhàm chán.
Ngay cả người nói cũng vậy, lúc đầu có
thể cảm thấy rất dễ chịu vì như trút được
gánh nặng trong lòng nhưng nếu cứ than
phiền suốt sẽ càng cảm thấy phiền não
hơn, làm tăng cảm giác tiêu cực và để lại
dư vị không tốt.
Chắc chắn là như vậy. Khi than vãn sự
giận dữ chỉ làm khơi gợi cảm giác “buồn
chán”. Sự “giận dữ” giống như một loại
độc dược khiến cả người nói và người
nghe đều mệt mỏi. Hơn nữa, người nghe
những than thở ấy sẽ tiếp tục than phiền
với một ai đó rằng “tôi thật mệt mỏi khi
phải nghe những câu chuyện như vậy” vô
hình trung đã làm lan rộng các tác động
xấu.
Để tránh điều đó xảy ra thì bản thân
người nghe cũng không cần cố gắng nghe
một cách nghiêm túc nếu như những điều
đối phương nói khiến mình không thoải
mái. Tuy nhiên, nếu nói thẳng ra là
“những than phiền của bạn thật vô nghĩa”
hay “nếu cứ than thở mãi sẽ bị căng
thẳng đấy” thì đối phương sẽ cảm thấy bị
từ chối. Cho nên, bí quyết để tránh sự bất
đồng là ý thức được việc đối phương chỉ
muốn “thay đổi tâm trạng” để lảng tránh
câu chuyện. Khi nghe câu chuyện nên sử
dụng những cách nói phụ họa qua loa như
“à thế à…” hoặc thay đổi chủ đề câu
chuyện của đối phương bằng cách đưa ra
những gợi ý khác như “nếu vậy tuần này
đi xem ca nhạc thì thế nào?” để lôi kéo
sự quan tâm của đối phương sang hướng
khác. Như vậy, câu chuyện có vẻ sẽ bớt
nhàm chán hơn. Nếu là mối quan hệ thân
tình hơn thì có thể nói một cách bông đùa
như “thôi chuyện đó chán lắm” để giảm
nhẹ tâm trạng của đối phương. Nếu làm
được như vậy không những không làm
ảnh hưởng đến mối quan hệ giữa hai
người mà bạn còn cảm thấy rất thoải mái.
Điều quan trọng là cả hai bên phải nhận
thức được rằng việc than thở dài dòng
khiến cả hai bên đều cảm thấy không dễ
chịu.
Có phải “Khuôn mặt tƣơi cƣời tƣợng
trƣng cho tính cách tốt?”
Khuôn mặt tươi cười là dấu hiệu cho
rằng “tôi chấp nhận bạn đấy” hay “tôi
chấp thuận đấy”. Nếu được đối phương
mỉm cười, mình sẽ rất an tâm. Mặt khác,
nhiều khi không cần nói ra người ta cũng
cảm nhận được một áp lực rất lớn qua
một “nụ cười gượng”.
Giả sử khi năm, sáu người ngồi nói
chuyện và ai đó làm trò hề khiến mọi
người cười. Lúc đó rất khó để một người
làm ra vẻ mặt nghiêm nghị. Khi có một
yêu cầu là “bây giờ là lúc cười” mà chỉ
mình bạn không cười, thì bạn sẽ cảm thấy
lạc lõng.
Người ta cho rằng “khuôn mặt tươi cười
chính là chất dầu bôi trơn cho mối quan
hệ giữa con người với con người” và
người ta sẽ cười cho đến khi không còn
muốn cười nữa. Khuôn mặt cười căng
thẳng sẽ trở nên méo mó và giả tạo rất dễ
khiến đối phương cảm thấy khó chịu.
Người ta rất sợ nụ cười giả tạo khi ai đó
định nhờ vả một điều gì đó vô lí.
Nụ cười được sử dụng như một thứ vũ
khí tấn công kiêm phòng vệ nhưng đôi
lúc còn là tín hiệu của sự khước từ. Cái
này người ta gọi chung là “nụ cười giả
tạo”. Người Nhật không thể nào dịch cái
gọi là “cười xòa” sang tiếng Anh được
mà chỉ vừa nói “I'm sorry”…vừa cười.
Họ cười như muốn gửi một thông điệp
tới đối phương “thôi không có gì nhé
chúng ta vẫn là bạn tốt” khi bản thân họ
làm điều gì đó không phải để tránh đối
phương phật ý nhưng thực ra lại tạo nên
một bức tường ngăn cách với người
khác.
Chúng ta nên cố gắng tránh nụ cười giả
tạo hay những nụ cười tạo nên rào cản.
Nó mang lại sự khó chịu đôi khi là sự uy
hiếp cho đối phương trong khi bản thân
mình lại cảm thấy mệt mỏi. Nụ cười
không thật lòng sẽ để lại trên khuôn mặt
những nếp nhăn. Khi cười mà phải kéo
dãn các cơ trên khuôn mặt ra thì đó là
bằng chứng cho việc cười không đúng
chỗ. Bạn nên sớm từ bỏ cách cười như
vậy.
Ở nơi làm việc, tính cách cũng là một
trong những năng lực
Có lẽ có những người làm việc mà luôn
bất mãn “Tại sao mình làm việc nhanh
và chính xác hơn mà chỉ toàn phải làm
những việc vặt vãnh?” hay luôn ghen tị
rằng “Chỉ mỗi anh ta được thăng chức…
đúng là giỏi nịnh bợ trong khi thành tích
kinh doanh của mình hơn hẳn…”.
Tuy nhiên, con người thường không đánh
giá đúng với những gì mình có. Trong
công việc còn đòi hỏi loại năng lực tiềm
ẩn, khó có thể nhìn thấy trên bề nổi như
khả năng khiến cho không khí làm việc
hăng hái hơn, khả năng cung cấp nhiều
thông tin cho những người xung quanh
một cách hấp dẫn… Cho dù nhìn bề
ngoài đồng nghiệp được đánh giá cao, có
vẻ “khôn khéo, giỏi nịnh bợ” nhưng ở
một khía cạnh khác họ cũng có thể được
đánh giá tốt vì họ luôn nỗ lực xây dựng
mối quan hệ tốt với mọi người xung
quanh.
Mặt khác, giả sử bạn cảm thấy rằng năng
lực xử lí công việc của mình rất tốt
nhưng không được giao cho những công
việc phù hợp với năng lực đó, thì dù bạn
có đầy đủ năng lực để thành thục công
việc bạn cũng không có khả năng để
khiến cấp trên nghĩ rằng “tôi sẽ giao cho
cô công việc tốt”. Vì bản thân mình
không có khả năng đưa ra những ý kiến
làm cho người khác ấn tượng nên đã
ghen tị. Có nghĩa là có thể nói rằng trái
tim và tính cách cũng là một năng lực rất
quan trọng.
Không có gì tồi tệ hơn nếu biết “mình
không được đánh giá tốt”. Tuy nhiên, nếu
vì vậy mà hạ thấp người khác thì bạn sẽ
bị mọi người xa lánh. Đôi khi vì chính
điều đó sẽ khiến bản thân bị đánh giá
thấp hơn nữa.
Vì vậy, nếu cảm thấy “mình bị đánh giá
chưa thỏa đáng” thì bạn hãy bình tĩnh
chấp nhận với suy nghĩ rằng “đối với
mọi người bây giờ đây là vị trí của
mình” và dồn tâm huyết để hoàn thành
các công việc hiện tại. Nếu làm được
như vậy chắc chắn đánh giá của mọi
người xung quanh về bạn sẽ thay đổi.
Huyễn hoặc bản thân bằng hạnh phúc
ảo
“Mình muốn có được tình yêu của anh
ấy”, “Dù chưa có người yêu nhưng tôi
muốn kết hôn”, “Mình muốn ăn cả cái
bánh đó”... Những ham muốn của con
người không bao giờ cạn nhưng không
thể nào đáp ứng được tất cả những mong
muốn đó. Khi những mong muốn không
được đáp ứng người ta than thở rằng “tôi
vô cùng mong mỏi điều đó mà tại sao
không có được?”. Nhưng ngày nào cũng
nghĩ như thế người ta sẽ thấy đau đớn
đến mức không chịu đựng được, cho nên
hầu hết mọi người lờ nó đi, không để ý
đến những tiếng kêu than này nữa và ảo
tưởng rằng mình hạnh phúc.
Giả sử có một người rất mong muốn
“được anh ấy yêu” nên cái gì cũng lo
lắng, chăm sóc cho anh ấy thì đó cũng
không thể nói là hạnh phúc. Bởi vì đó là
lừa dối đối phương và tự lừa dối chính
mình. Tuy nhiên, rất khó khăn để thừa
nhận rằng mình “không hạnh phúc” nên
người ta tự vẽ ra trong đầu mình một
hạnh phúc ảo. Đó là tự an ủi mình bằng
suy nghĩ “mình thật giỏi vì đã lo lắng
được cho anh ấy”, “chỉ cần anh ấy hạnh
phúc là được”. Họ lại tự lừa dối mình
rằng việc lo lắng, quan tâm cho anh ấy
và coi việc anh ấy hạnh phúc là “hạnh
phúc” của mình mặc dù trong lòng đang
rất đau khổ bởi mong muốn “được anh ấy
yêu”.
Vấn đề lớn nhất ở đây chính là việc
người ta cho rằng điều bất hạnh này là
hạnh phúc đối với mình. Điều đó khiến
trái tim họ bị tổn thương mà không hề
hay biết. Thậm chí, hạnh phúc ảo đó còn
làm tê liệt trái tim, khiến người ta áp đặt
đối phương và đôi khi còn gây rắc rối
cho người khác bằng chính ham muốn
ngu xuẩn đó.
Nếu đặt chân chạm đất không ảo vọng và
không chốn chạy trong cái bóng của hạnh
phúc ảo ảnh, người ta sẽ nhận ra sự tiêu
cực trong nguyện vọng của mình. Tuy
nhiên từ thời Jomon xa xưa - thời kì
người ta coi việc có nhiều sừng voi
mamut là tượng trưng cho địa vị - con
người đã thích những điều không có thực.
Trong xã hội hiện đại, hệ thống xã hội
ngày càng được ảo hóa bằng sự phát
triển của khoa học kỹ thuật và máy tính,
người ta càng cần phải cẩn trọng hơn bởi
chỉ cần lơ đễnh một chút thôi cũng dễ sa
ngã, đánh mất bản thân.
Phƣơng pháp để biết “trái tim sai
lệch”
Mặc dù nói con người thích sự ảo tưởng
nhưng theo đạo Phật thì việc biến hiện
thực thành giả tạo chính là do sự “vô
tri”. Có lẽ từ “vô tri” tạo cảm giác không
mấy thân thiện nhưng thực ra hoàn toàn
ngược lại. Việc biến hiện thực “đang đau
khổ” trong nháy mắt thành cảm giác hạnh
phúc giả tạo chính là phản ứng quá nhanh
nhạy, làm sai lệch trái tim một cách tùy
tiện.
Tuy nhiên “sự vô tri” một cách nhanh
nhạy này không đủ sức để đánh lừa cảm
nhận về hiện thực của cơ thể. Nếu trong
trái tim có một phản ứng không thoải mái
nào đó thì cơ thể sẽ có những phản ứng
như ngực quặn lại, cảm giác đau xé lòng,
mặt nhăn nhó… Tất cả đều là dấu hiệu
SOS thông báo rằng “nếu cứ tiếp tục đau
khổ như thế thì bạn sẽ hủy hoại chính
mình, nên hãy thôi đi”.
Thực ra, ngay cả khi muốn nói xấu người
khác hay khi tự nói với chính mình thì
trong cơ thể bạn sẽ phát ra phản ứng
“thôi đi”. Đây là dấu hiệu SOS. Với
những người có tính cách xấu sẽ rất kém
để nhận biết dấu hiệu SOS này của cơ
thể nên không nhận ra rằng trong cơ thể
họ đang diễn ra một sự hủy hoại. Ví dụ
khi nói xấu ai đó, bản thân người nói xấu
cũng cảm thấy không dễ chịu chút nào
nhưng cơ thể lại phản ứng một cách ngớ
ngẩn nhầm thành “lồng ngực tôi cảm thấy
rất dễ chịu”.
Một lời khuyên để không rơi vào cảm
giác ngớ ngẩn như vậy đó là mỗi ngày
một lần bạn phải tổng kiểm điểm bản
thân mình một cách nghiêm túc. Kiểm
điểm xem tâm trạng, diện mạo của mình
như thế nào? Chỉ cần không bỏ qua, dù
chỉ là một cái nhăn trán xuất hiện trên
gương chắc chắn bạn sẽ uốn nắn được
trái tim sai lệch của mình.
Thay đổi tính cách – Có thể rèn luyện
Từ xa xưa, người ta đã nói rằng “Giang
sơn dễ đổi, bản tính khó rời” nên nhiều
người nghĩ rằng tính cách là cái có sẵn từ
khi sinh ra nên không thể thay đổi. Nhưng
thực ra không phải như vậy.
Hồi còn trẻ, lúc nào tôi cũng nóng vội
hay giận dữ và sự bực tức ấy đôi khi
khiến cả bản thân tôi cũng như những
người xung quanh đau khổ. Tuy nhiên khi
nhận ra điều đó, tôi bị sốc vì cảm thấy
hổ thẹn và bắt đầu có suy nghĩ rằng “nếu
không vứt bỏ những tính xấu và thay đổi
thì…”.
Mặc dù nói như vậy, nhưng tính cách
không phải thứ nói thay đổi là có thể thay
đổi một cách dễ dàng.
Điều trước tiên tôi cố gắng làm đó là tìm
ra những tính cách không tốt của bản thân
và dần dần gột sạch chúng giống như bóc
từng lớp vỏ mỏng một. Đó là những ngày
vô cùng vất vả và cần sự bền bỉ nhưng
bù lại sự u ám trong tâm hồn tôi dần tan
biến để tôi có được cảm giác bình yên
đến mức khiến bạn bè trước kia của tôi
phải ngạc nhiên thốt lên “không thể nghĩ
rằng đó là cùng một người”. Điều đó
chứng tỏ rằng nếu chú tâm rèn luyện, con
người sẽ thay đổi được tính cách của
mình.
Mục đích của đạo Phật cũng chính là cải
thiện tính cách. Điều cốt lõi của đạo Phật
nằm ở lời dạy:
“Chư ác mạc tác
Chúng thiện phụng hành
Tự tịnh kỳ ý
Thị chư Phật giáo”.
Nghĩa là:
“Không làm các điều ác
Hãy làm các hạnh lành
Giữ tâm ý thanh tịnh
Là lời chư Phật dạy”.
Diễn giải ra có nghĩa là “Cố gắng không
tạo ra những điều ác như dục vọng, phẫn
nộ, mê muội mà tạo ra tâm tốt, giữ tâm ý
thanh tịnh. Đó chính là những điều Phật
dạy”. Hơn nữa giữ tâm thanh tịnh là
thanh lọc tính cách tức có ý ám chỉ việc
rèn giũa tính cách tốt.
Chúng ta phải thừa nhận rằng luyện tập
cho tâm thanh tịnh có thể rèn giũa được
tính cách.
Thay đổi tính cách – Loại bỏ sự bế tắc
Khi con người lo lắng thường hay đổ lỗi
là do người khác không tốt. Ví dụ như
“Vì đứa kia xấu tính” hay “Không thể tha
thứ được việc anh đã lợi dụng tôi” hay
“Tại sao phải tức giận với việc cỏn con
ấy nhỉ” v.v…
Nhưng thực ra, nếu chúng ta chỉ tập trung
vào tính cách xấu của người khác thì
điều khơi gợi ra nguồn năng lượng xấu
ấy chính là cái xấu trong tính cách của
chính bản thân chúng ta. Nói như vậy có
người sẽ nói rằng “Sao lại thế được???
Không phải như vậy đâu!!!”.
Nếu không chuyên tâm tu hành để có thể
kiểm soát được bản thân thì con người ai
cũng có những tính xấu. Ai cũng sẽ có
những điểm không phải hoặc sự tự mãn
hoặc sợ người khác ghét bỏ nên luôn e
ngại và cả nể. Phần không tốt trong bản
thân con người này sẽ tác động, kích
thích và khơi gợi ra những phần không
tốt của người khác. Cho nên việc bạn lo
lắng, bất an sẽ làm cho sự việc tồi tệ
hơn. Nếu cứ tiếp tục khơi gợi những điều
xấu đó trong con người mình thì người
khác lại tiếp tục bị nhấn chìm trong nó.
Kết cục là những bế tắc vẫn cứ tiếp tục
tồn tại.
Để loại bỏ sự bế tắc đó, trước hết bạn
phải hiểu cơ chế “Tính cách xấu của bản
thân mình sẽ khơi gợi tính cách xấu của
người khác”. Như vậy, bạn có thể không
bận tâm, lo lắng đến những hành vi của
người khác. Tiếp theo bạn chuẩn bị tâm
lí là dù có bị nói là hâm, là điên khùng
cũng sẽ bỏ ngoài tai để thử thay đổi một
cái gì đó cố hữu trong con người mình.
Điều quan trọng ở đây là ghi nhớ rõ tâm
trạng khổ sở trước khi thử nghiệm và
cảm giác thanh bình có được sau khi thử
nghiệm. Nếu lặp đi lặp lại cách làm như
vậy, tính cách sẽ dần dần thay đổi. Dần
dần những tính cách xấu sẽ mờ nhạt đi và
trái tim sẽ trở nên trong sáng. Lúc đó bạn
sẽ cảm thấy rằng “À người ta có thể
thanh thản đến mức này”. Trong quá trình
lặp đi lặp lại như vậy bạn sẽ thấy “trong
lòng đã cạn kiệt những ý nghĩ xấu đối
với người khác”.
Làm như vậy bạn sẽ ít bất an, lo lắng và
để ý đến người khác đồng thời cũng có
thể khơi gợi được nguồn năng lượng tốt
của đối phương. Lúc đó không chỉ bản
thân mình cảm thấy thoải mái hơn mà sự
quan tâm, hỏi han đến những người xung
quanh sẽ khiến mọi người đánh giá tốt
hơn về mình. Cách ứng xử như vậy khiến
cho mối quan hệ giữa con người và con
người tốt đẹp hơn. Kết quả là có được
sự bình yên và thanh thản.
Bắt đầu từ việc nhận ra những điều
chƣa tốt của bản thân
Cho dù khi đọc cuốn sách này bạn có hạ
quyết tâm rằng “do dự là tính cách không
tốt nên phải bỏ nó” hay “không được nói
xấu người khác” hay “hôm nay chắc chắn
sẽ dịu dàng với người yêu”… thì chắc
chắn sẽ có lúc bạn phá vỡ quyết tâm đó.
Việc bản thân mình nghĩ trong đầu rằng
“phải làm thế này”, “phải làm thế kia”
cũng chỉ là do “ý chí” chứ không phải do
tự đáy lòng bạn cảm thấy thuyết phục nên
sẽ khó lòng thực hiện. Đạo Phật gọi việc
nhận biết một cách chắc chắn dấu hiệu
SOS về sự đau khổ là “trí tuệ”. Giả sử
bạn đang tập trung toàn bộ ý thức của
mình vào trái tim và nhận ra rằng việc
khắt khe với người yêu là “điều xấu” là
“không tốt”. Ngược lại lúc đó bạn cũng
sẽ cảm nhận được rằng những ngày cùng
người yêu uống trà một cách yên bình
“thật hạnh phúc, thật thích thú”.
Nếu làm được như vậy thì tự nhiên bạn
sẽ dịu dàng được với người yêu. Điều
này là do bạn đã hiểu rõ trái tim mình
nên một chương trình ý thức tiềm ẩn đã
hoạt động để xử lí thông tin một cách tự
động như “không được làm bởi vì như
thế là không phải” hay “vì rất thích nên
phải tìm hiểu thôi”. Đây chính là năng
lực của “trí tuệ”.
Tuy nhiên để năng lực “trí tuệ” đó hoạt
động bạn phải bắt đầu từ việc nhận thức
bản thân mà không lảng tránh những phần
chưa tốt. Đây là việc không hề dễ dàng
nên con người thường làm ra vẻ không
biết rằng “đối xử không tốt với người
yêu thì đối phương cũng cảm thấy tồi tệ”.
Đây chính là nguyên nhân cản trở việc
lưu thông máu gây đau đầu mà người ta
vẫn tự đánh lừa mình tạm thời bằng thuốc
giảm đau. Cách trị liệu này không phải là
triệt để. Mặt dù rất đau khổ nhưng nếu
không thẳng thắn đối diện với nó để nhận
ra một thông điệp của trái tim là “không
phải đau ở đây mà hãy tìm ở chỗ khác”
thì mãi mãi không thể chữa được tận gốc.
Mất bao nhiêu năm cũng chưa chắc có
thể thay đổi được tính cách. Nhưng nếu
để sống phần đời còn lại một cách thanh
thản, yên bình thì nỗ lực đó chẳng phải
cũng đáng lắm sao?
Koike Ryunosuke
Nhà xuất bản Thời đại
Lời nói đầu
Một người trông bề ngoài có vẻ hạnh
phúc đến đâu đi chăng nữa thì trong sâu
thẳm con người ấy ít hay nhiều vẫn có
những “thói xấu” mà người khác không
nhìn thấy. Đó là sự do dự không quyết
đoán, sự so đo tính toán, cảm giác khó
chịu khi so bì với người khác, cảm giác
lo lắng sợ người khác nói xấu, hay sự
kiêu căng ngạo mạn (sợ người khác
không đánh giá cao mình) v.v…
Khi bị chi phối bởi những “thói xấu” =
“tính xấu” ấy tâm trạng, cách nói chuyện,
cử chỉ của chúng ta không có sự thoải
mái và dễ trở nên bức bối, khó chịu mà
chúng ta không hề hay biết.
Những “thói xấu” đó không chỉ đơn thuần
khiến chính bản thân chúng ta khó chịu
mà còn ảnh hưởng tiêu cực đến cả người
khác.
Nếu ta cứ để mặc cho những “thói xấu”
đó tự do phát triển thì không chỉ bản thân
chúng ta khổ sở đánh mất sức hấp dẫn
của bản thân mà còn khiến cho tình cảm
giữa con người và con người xa cách
hơn.
Nói cách khác, nếu chúng ta rèn luyện để
“tạm biệt” được những “thói xấu = tính
xấu” để sống thoải mái hơn thì không chỉ
bản thân chúng ta cảm thấy vui sướng mà
sức ảnh hưởng của nó lan tỏa ra cả
những người xung quanh. Chỉ với điều
đơn giản như vậy thôi chúng ta sẽ trở
thành người có sức hấp dẫn hơn.
Nào, ngay bây giờ chúng ta hãy nói lời
tạm biệt với những “thói xấu”.
Koike Ryunosuke
Chƣơng I: “CON NGƢỜI
VỚI NHỮNG THÓI
XẤU” “CON NGƢỜI
TUYỆT VỜI”
Ngƣời có bản tính tốt là ngƣời nhƣ thế
nào?
Khi nghe những khẩu hiệu như “Hãy nuôi
dưỡng tính cách tốt”, “Hãy đối tốt với
mọi người” không ai phản đối cả. Nhưng
thực tế rất khó để thực hiện điều đó.
Người ta thường cho rằng “người tốt”
“là người luôn cống hiến hết mình vì
người khác”, “là người luôn đối xử tốt
với người khác”, họ không biết làm
người tốt thì có lợi gì cho bản thân.
Nói một cách thẳng thắn thì con người
hành động vì người khác.
Tuy nhiên, theo đạo Phật “trở thành
người có tính cách tốt” không có nghĩa là
phải làm một cái gì đó cho người khác
hay ban ơn cho ai đó. Thực sự điều đạo
Phật muốn hướng đến chính là sự thanh
lọc tâm hồn, làm tan biến những ham
muốn trần tục dễ khiến người ta bị căng
thẳng như “dục, nộ, mê”. Để biết được
lợi ích của việc trở thành “người có tính
cách tốt” thì chúng ta cần phải biết đến
điểm bất lợi khi là “người có tính cách
xấu”. Một người khoe khoang, khoác lác
sẽ khiến những người xung quanh cảm
thấy ngột ngạt, một người suốt ngày than
vãn sẽ khiến người khác phải lo lắng.
Hoặc một người luôn so bì, ghen tị với
người khác trong thâm tâm sẽ luôn thấy
bức bối không yên và điều đó thể hiện
lên sắc mặt, biểu cảm, ảnh hưởng đến
việc tạo dựng mối quan hệ trong giao
tiếp.
“Người có tính cách xấu” trước tiên
khiến bản thân chịu thiệt thòi đồng thời
cũng mang áp lực, căng thẳng đến cho
người khác. Ngược lại “người có tính
cách tốt” không những không khiến bản
thân thiệt thòi mà cũng không hề gây áp
lực, căng thẳng cho người khác. Nhờ vậy
sẽ có mối quan hệ xã hội rộng rãi và tốt
đẹp.
“Cả nể” có phải là tính cách tốt?
Người ta thường hay nói rằng “tốt quá sẽ
bị thiệt” hay “người tốt dễ bị lợi dụng”.
Trong trường hợp này người ta muốn ám
chỉ đối phương là người “cả nể”. Mặc
dù họ cũng đang bận rộn với công việc
của mình nhưng vẫn không thể từ chối sự
nhờ vả của người khác.
Người “cả nể” không phải là “người có
tính cách tốt” mà chỉ do họ thiếu dũng
cảm để từ chối hay ngại từ chối. Sự ái
ngại ấy bắt nguồn từ cảm giác lo sợ
“không muốn bị đối phương ghét”,
“không muốn bị đối phương bài trừ”.
Phân tích theo đạo Phật thì sự lo sợ ấy
chính là một tâm trạng trong “nộ” (giận
dữ). Mặc dù có từ chối việc được nhờ
vả đi chăng nữa cũng chưa chắc đã bị
đối phương ghét nhưng bản thân họ lại lo
sợ rằng “nếu mình không làm có lẽ họ sẽ
giận”. Chính vì lo ngại cảm giác “giận
dữ” của đối phương khiến tâm trạng luôn
nặng nề, ủ rũ cho nên Phật giáo mới cho
rằng đó là một loại “tính cách xấu”. Có
lẽ một trong những lí do khiến người ta
không thể từ chối lời yêu cầu của người
khác là do người ta xuề xòa. Tương tự
như vậy đạo Phật gọi việc không thể
phán đoán rõ ràng sự vật sự việc là “vô
tri”. Hơn nữa, “vô tri” cũng là trạng thái
đánh mất kiểm soát bản thân nên không
thể nói rằng đó là “tính cách tốt”.
Thông thường, khi quá bận rộn hoặc có
áp lực lớn người ta chấp nhận “tính cách
xấu”, ngược lại thì cho rằng đó là “tính
cách tốt”, đó là một định kiến sai lầm.
“Người có tính cách tốt” có sự minh
bạch và điềm đạm sẽ không tạo cơ hội
để người khác nghĩ rằng “tôi sẽ lợi dụng
anh”. Nếu bản thân thực sự thấy thoải
mái khi nhận làm công việc của mọi
người thì đó là điều đáng khâm phục.
Tuy nhiên, nếu trong lòng không thực sự
thấy thoải mái, “nếu không bắt buộc phải
làm thì tôi cũng không muốn làm” thì bạn
cần có dũng khí để từ chối.
“Do dự” cũng là một loại tính cách xấu
Tôi đã từng trải qua cảm giác khó chịu
khi người bạn thân đi mua đồ mà mãi
không quyết định được sẽ mua cái nào.
Cô ấy luôn miệng nói những câu như
“A… cái váy kia đẹp đấy. Nhưng phần
gấu áo hơi rộng nên nhìn có vẻ béo. Ồ…
cái này trông cũng được nhưng màu này
thì không thích lắm. Nếu không mua gì thì
không có cái mặc nhưng quần áo của năm
nay thật là... mãi mà chưa chọn được”.
Nếu khi bạn lựa chọn một cái gì đó mà
lại nghĩ là “muốn có cái tốt hơn” hoặc
“không muốn bị thiệt” sẽ dễ rơi vào ngõ
cụt của sự phân vân “do dự”. Sự sốt
ruột, bực tức của những người xung
quanh đối với những người luôn “do dự”
là do bộ cảm ứng của trái tim rất nhạy
cảm với “tham vọng”. Con người thường
dễ dãi với những “tham vọng” của bản
thân nhưng lại khắt khe với “tham vọng”
của người khác.
Điều tồi tệ hơn bất cứ điều gì của sự “do
dự” chính là nó mang lại sự bất lợi cho
chính bản thân người do dự. Nhìn bề
ngoài có vẻ như họ phân vân, do dự vì
thích vậy nhưng sự phân vân tiêu hao
nguồn năng lượng lớn để đắn đo “giữa
cái này và cái kia, nên chọn cái nào?”
nên trong lòng sẽ không thoải mái, dần
dần tạo thành căng thẳng, áp lực mà bản
thân người đó không hề hay biết.
Hầu như các trường hợp phân vân là do
chưa có cái nào đủ điều kiện để họ đưa
ra quyết định. Cũng có nghĩa là cái nào
cũng được. Nếu như vậy thì “do dự”
mang lại ảnh hưởng xấu. Trước tiên,
chúng ta phải sáng suốt đưa ra quyết định
là “chọn cái này” hoặc từ bỏ cả hai
không lựa chọn cái nào cả.
Hơn nữa, một khi đã quyết định thì hãy
cố gắng để không cảm thấy hối hận là
“nếu mua cái kia thì tốt hơn” hoặc “giá
mà cứ mua thì tốt”. Tôi muốn nhấn mạnh
rằng dù chọn cái nào đi chăng nữa thì rốt
cục cũng không khác nhau là mấy.
Lắng nghe ngƣời khác than thở không
phải là tính cách tốt
A i cũng có những lúc muốn nói với
người khác rằng “này, này nghe tớ
này…” để than thở chuyện gì đó. Nhưng
nếu cứ lặp đi lặp lại một câu chuyện hay
than thở đến hai, ba tiếng trên điện thoại
thì như thế nào? Người phải nghe những
câu chuyện ấy sẽ cảm thấy nhàm chán.
Ngay cả người nói cũng vậy, lúc đầu có
thể cảm thấy rất dễ chịu vì như trút được
gánh nặng trong lòng nhưng nếu cứ than
phiền suốt sẽ càng cảm thấy phiền não
hơn, làm tăng cảm giác tiêu cực và để lại
dư vị không tốt.
Chắc chắn là như vậy. Khi than vãn sự
giận dữ chỉ làm khơi gợi cảm giác “buồn
chán”. Sự “giận dữ” giống như một loại
độc dược khiến cả người nói và người
nghe đều mệt mỏi. Hơn nữa, người nghe
những than thở ấy sẽ tiếp tục than phiền
với một ai đó rằng “tôi thật mệt mỏi khi
phải nghe những câu chuyện như vậy” vô
hình trung đã làm lan rộng các tác động
xấu.
Để tránh điều đó xảy ra thì bản thân
người nghe cũng không cần cố gắng nghe
một cách nghiêm túc nếu như những điều
đối phương nói khiến mình không thoải
mái. Tuy nhiên, nếu nói thẳng ra là
“những than phiền của bạn thật vô nghĩa”
hay “nếu cứ than thở mãi sẽ bị căng
thẳng đấy” thì đối phương sẽ cảm thấy bị
từ chối. Cho nên, bí quyết để tránh sự bất
đồng là ý thức được việc đối phương chỉ
muốn “thay đổi tâm trạng” để lảng tránh
câu chuyện. Khi nghe câu chuyện nên sử
dụng những cách nói phụ họa qua loa như
“à thế à…” hoặc thay đổi chủ đề câu
chuyện của đối phương bằng cách đưa ra
những gợi ý khác như “nếu vậy tuần này
đi xem ca nhạc thì thế nào?” để lôi kéo
sự quan tâm của đối phương sang hướng
khác. Như vậy, câu chuyện có vẻ sẽ bớt
nhàm chán hơn. Nếu là mối quan hệ thân
tình hơn thì có thể nói một cách bông đùa
như “thôi chuyện đó chán lắm” để giảm
nhẹ tâm trạng của đối phương. Nếu làm
được như vậy không những không làm
ảnh hưởng đến mối quan hệ giữa hai
người mà bạn còn cảm thấy rất thoải mái.
Điều quan trọng là cả hai bên phải nhận
thức được rằng việc than thở dài dòng
khiến cả hai bên đều cảm thấy không dễ
chịu.
Có phải “Khuôn mặt tƣơi cƣời tƣợng
trƣng cho tính cách tốt?”
Khuôn mặt tươi cười là dấu hiệu cho
rằng “tôi chấp nhận bạn đấy” hay “tôi
chấp thuận đấy”. Nếu được đối phương
mỉm cười, mình sẽ rất an tâm. Mặt khác,
nhiều khi không cần nói ra người ta cũng
cảm nhận được một áp lực rất lớn qua
một “nụ cười gượng”.
Giả sử khi năm, sáu người ngồi nói
chuyện và ai đó làm trò hề khiến mọi
người cười. Lúc đó rất khó để một người
làm ra vẻ mặt nghiêm nghị. Khi có một
yêu cầu là “bây giờ là lúc cười” mà chỉ
mình bạn không cười, thì bạn sẽ cảm thấy
lạc lõng.
Người ta cho rằng “khuôn mặt tươi cười
chính là chất dầu bôi trơn cho mối quan
hệ giữa con người với con người” và
người ta sẽ cười cho đến khi không còn
muốn cười nữa. Khuôn mặt cười căng
thẳng sẽ trở nên méo mó và giả tạo rất dễ
khiến đối phương cảm thấy khó chịu.
Người ta rất sợ nụ cười giả tạo khi ai đó
định nhờ vả một điều gì đó vô lí.
Nụ cười được sử dụng như một thứ vũ
khí tấn công kiêm phòng vệ nhưng đôi
lúc còn là tín hiệu của sự khước từ. Cái
này người ta gọi chung là “nụ cười giả
tạo”. Người Nhật không thể nào dịch cái
gọi là “cười xòa” sang tiếng Anh được
mà chỉ vừa nói “I'm sorry”…vừa cười.
Họ cười như muốn gửi một thông điệp
tới đối phương “thôi không có gì nhé
chúng ta vẫn là bạn tốt” khi bản thân họ
làm điều gì đó không phải để tránh đối
phương phật ý nhưng thực ra lại tạo nên
một bức tường ngăn cách với người
khác.
Chúng ta nên cố gắng tránh nụ cười giả
tạo hay những nụ cười tạo nên rào cản.
Nó mang lại sự khó chịu đôi khi là sự uy
hiếp cho đối phương trong khi bản thân
mình lại cảm thấy mệt mỏi. Nụ cười
không thật lòng sẽ để lại trên khuôn mặt
những nếp nhăn. Khi cười mà phải kéo
dãn các cơ trên khuôn mặt ra thì đó là
bằng chứng cho việc cười không đúng
chỗ. Bạn nên sớm từ bỏ cách cười như
vậy.
Ở nơi làm việc, tính cách cũng là một
trong những năng lực
Có lẽ có những người làm việc mà luôn
bất mãn “Tại sao mình làm việc nhanh
và chính xác hơn mà chỉ toàn phải làm
những việc vặt vãnh?” hay luôn ghen tị
rằng “Chỉ mỗi anh ta được thăng chức…
đúng là giỏi nịnh bợ trong khi thành tích
kinh doanh của mình hơn hẳn…”.
Tuy nhiên, con người thường không đánh
giá đúng với những gì mình có. Trong
công việc còn đòi hỏi loại năng lực tiềm
ẩn, khó có thể nhìn thấy trên bề nổi như
khả năng khiến cho không khí làm việc
hăng hái hơn, khả năng cung cấp nhiều
thông tin cho những người xung quanh
một cách hấp dẫn… Cho dù nhìn bề
ngoài đồng nghiệp được đánh giá cao, có
vẻ “khôn khéo, giỏi nịnh bợ” nhưng ở
một khía cạnh khác họ cũng có thể được
đánh giá tốt vì họ luôn nỗ lực xây dựng
mối quan hệ tốt với mọi người xung
quanh.
Mặt khác, giả sử bạn cảm thấy rằng năng
lực xử lí công việc của mình rất tốt
nhưng không được giao cho những công
việc phù hợp với năng lực đó, thì dù bạn
có đầy đủ năng lực để thành thục công
việc bạn cũng không có khả năng để
khiến cấp trên nghĩ rằng “tôi sẽ giao cho
cô công việc tốt”. Vì bản thân mình
không có khả năng đưa ra những ý kiến
làm cho người khác ấn tượng nên đã
ghen tị. Có nghĩa là có thể nói rằng trái
tim và tính cách cũng là một năng lực rất
quan trọng.
Không có gì tồi tệ hơn nếu biết “mình
không được đánh giá tốt”. Tuy nhiên, nếu
vì vậy mà hạ thấp người khác thì bạn sẽ
bị mọi người xa lánh. Đôi khi vì chính
điều đó sẽ khiến bản thân bị đánh giá
thấp hơn nữa.
Vì vậy, nếu cảm thấy “mình bị đánh giá
chưa thỏa đáng” thì bạn hãy bình tĩnh
chấp nhận với suy nghĩ rằng “đối với
mọi người bây giờ đây là vị trí của
mình” và dồn tâm huyết để hoàn thành
các công việc hiện tại. Nếu làm được
như vậy chắc chắn đánh giá của mọi
người xung quanh về bạn sẽ thay đổi.
Huyễn hoặc bản thân bằng hạnh phúc
ảo
“Mình muốn có được tình yêu của anh
ấy”, “Dù chưa có người yêu nhưng tôi
muốn kết hôn”, “Mình muốn ăn cả cái
bánh đó”... Những ham muốn của con
người không bao giờ cạn nhưng không
thể nào đáp ứng được tất cả những mong
muốn đó. Khi những mong muốn không
được đáp ứng người ta than thở rằng “tôi
vô cùng mong mỏi điều đó mà tại sao
không có được?”. Nhưng ngày nào cũng
nghĩ như thế người ta sẽ thấy đau đớn
đến mức không chịu đựng được, cho nên
hầu hết mọi người lờ nó đi, không để ý
đến những tiếng kêu than này nữa và ảo
tưởng rằng mình hạnh phúc.
Giả sử có một người rất mong muốn
“được anh ấy yêu” nên cái gì cũng lo
lắng, chăm sóc cho anh ấy thì đó cũng
không thể nói là hạnh phúc. Bởi vì đó là
lừa dối đối phương và tự lừa dối chính
mình. Tuy nhiên, rất khó khăn để thừa
nhận rằng mình “không hạnh phúc” nên
người ta tự vẽ ra trong đầu mình một
hạnh phúc ảo. Đó là tự an ủi mình bằng
suy nghĩ “mình thật giỏi vì đã lo lắng
được cho anh ấy”, “chỉ cần anh ấy hạnh
phúc là được”. Họ lại tự lừa dối mình
rằng việc lo lắng, quan tâm cho anh ấy
và coi việc anh ấy hạnh phúc là “hạnh
phúc” của mình mặc dù trong lòng đang
rất đau khổ bởi mong muốn “được anh ấy
yêu”.
Vấn đề lớn nhất ở đây chính là việc
người ta cho rằng điều bất hạnh này là
hạnh phúc đối với mình. Điều đó khiến
trái tim họ bị tổn thương mà không hề
hay biết. Thậm chí, hạnh phúc ảo đó còn
làm tê liệt trái tim, khiến người ta áp đặt
đối phương và đôi khi còn gây rắc rối
cho người khác bằng chính ham muốn
ngu xuẩn đó.
Nếu đặt chân chạm đất không ảo vọng và
không chốn chạy trong cái bóng của hạnh
phúc ảo ảnh, người ta sẽ nhận ra sự tiêu
cực trong nguyện vọng của mình. Tuy
nhiên từ thời Jomon xa xưa - thời kì
người ta coi việc có nhiều sừng voi
mamut là tượng trưng cho địa vị - con
người đã thích những điều không có thực.
Trong xã hội hiện đại, hệ thống xã hội
ngày càng được ảo hóa bằng sự phát
triển của khoa học kỹ thuật và máy tính,
người ta càng cần phải cẩn trọng hơn bởi
chỉ cần lơ đễnh một chút thôi cũng dễ sa
ngã, đánh mất bản thân.
Phƣơng pháp để biết “trái tim sai
lệch”
Mặc dù nói con người thích sự ảo tưởng
nhưng theo đạo Phật thì việc biến hiện
thực thành giả tạo chính là do sự “vô
tri”. Có lẽ từ “vô tri” tạo cảm giác không
mấy thân thiện nhưng thực ra hoàn toàn
ngược lại. Việc biến hiện thực “đang đau
khổ” trong nháy mắt thành cảm giác hạnh
phúc giả tạo chính là phản ứng quá nhanh
nhạy, làm sai lệch trái tim một cách tùy
tiện.
Tuy nhiên “sự vô tri” một cách nhanh
nhạy này không đủ sức để đánh lừa cảm
nhận về hiện thực của cơ thể. Nếu trong
trái tim có một phản ứng không thoải mái
nào đó thì cơ thể sẽ có những phản ứng
như ngực quặn lại, cảm giác đau xé lòng,
mặt nhăn nhó… Tất cả đều là dấu hiệu
SOS thông báo rằng “nếu cứ tiếp tục đau
khổ như thế thì bạn sẽ hủy hoại chính
mình, nên hãy thôi đi”.
Thực ra, ngay cả khi muốn nói xấu người
khác hay khi tự nói với chính mình thì
trong cơ thể bạn sẽ phát ra phản ứng
“thôi đi”. Đây là dấu hiệu SOS. Với
những người có tính cách xấu sẽ rất kém
để nhận biết dấu hiệu SOS này của cơ
thể nên không nhận ra rằng trong cơ thể
họ đang diễn ra một sự hủy hoại. Ví dụ
khi nói xấu ai đó, bản thân người nói xấu
cũng cảm thấy không dễ chịu chút nào
nhưng cơ thể lại phản ứng một cách ngớ
ngẩn nhầm thành “lồng ngực tôi cảm thấy
rất dễ chịu”.
Một lời khuyên để không rơi vào cảm
giác ngớ ngẩn như vậy đó là mỗi ngày
một lần bạn phải tổng kiểm điểm bản
thân mình một cách nghiêm túc. Kiểm
điểm xem tâm trạng, diện mạo của mình
như thế nào? Chỉ cần không bỏ qua, dù
chỉ là một cái nhăn trán xuất hiện trên
gương chắc chắn bạn sẽ uốn nắn được
trái tim sai lệch của mình.
Thay đổi tính cách – Có thể rèn luyện
Từ xa xưa, người ta đã nói rằng “Giang
sơn dễ đổi, bản tính khó rời” nên nhiều
người nghĩ rằng tính cách là cái có sẵn từ
khi sinh ra nên không thể thay đổi. Nhưng
thực ra không phải như vậy.
Hồi còn trẻ, lúc nào tôi cũng nóng vội
hay giận dữ và sự bực tức ấy đôi khi
khiến cả bản thân tôi cũng như những
người xung quanh đau khổ. Tuy nhiên khi
nhận ra điều đó, tôi bị sốc vì cảm thấy
hổ thẹn và bắt đầu có suy nghĩ rằng “nếu
không vứt bỏ những tính xấu và thay đổi
thì…”.
Mặc dù nói như vậy, nhưng tính cách
không phải thứ nói thay đổi là có thể thay
đổi một cách dễ dàng.
Điều trước tiên tôi cố gắng làm đó là tìm
ra những tính cách không tốt của bản thân
và dần dần gột sạch chúng giống như bóc
từng lớp vỏ mỏng một. Đó là những ngày
vô cùng vất vả và cần sự bền bỉ nhưng
bù lại sự u ám trong tâm hồn tôi dần tan
biến để tôi có được cảm giác bình yên
đến mức khiến bạn bè trước kia của tôi
phải ngạc nhiên thốt lên “không thể nghĩ
rằng đó là cùng một người”. Điều đó
chứng tỏ rằng nếu chú tâm rèn luyện, con
người sẽ thay đổi được tính cách của
mình.
Mục đích của đạo Phật cũng chính là cải
thiện tính cách. Điều cốt lõi của đạo Phật
nằm ở lời dạy:
“Chư ác mạc tác
Chúng thiện phụng hành
Tự tịnh kỳ ý
Thị chư Phật giáo”.
Nghĩa là:
“Không làm các điều ác
Hãy làm các hạnh lành
Giữ tâm ý thanh tịnh
Là lời chư Phật dạy”.
Diễn giải ra có nghĩa là “Cố gắng không
tạo ra những điều ác như dục vọng, phẫn
nộ, mê muội mà tạo ra tâm tốt, giữ tâm ý
thanh tịnh. Đó chính là những điều Phật
dạy”. Hơn nữa giữ tâm thanh tịnh là
thanh lọc tính cách tức có ý ám chỉ việc
rèn giũa tính cách tốt.
Chúng ta phải thừa nhận rằng luyện tập
cho tâm thanh tịnh có thể rèn giũa được
tính cách.
Thay đổi tính cách – Loại bỏ sự bế tắc
Khi con người lo lắng thường hay đổ lỗi
là do người khác không tốt. Ví dụ như
“Vì đứa kia xấu tính” hay “Không thể tha
thứ được việc anh đã lợi dụng tôi” hay
“Tại sao phải tức giận với việc cỏn con
ấy nhỉ” v.v…
Nhưng thực ra, nếu chúng ta chỉ tập trung
vào tính cách xấu của người khác thì
điều khơi gợi ra nguồn năng lượng xấu
ấy chính là cái xấu trong tính cách của
chính bản thân chúng ta. Nói như vậy có
người sẽ nói rằng “Sao lại thế được???
Không phải như vậy đâu!!!”.
Nếu không chuyên tâm tu hành để có thể
kiểm soát được bản thân thì con người ai
cũng có những tính xấu. Ai cũng sẽ có
những điểm không phải hoặc sự tự mãn
hoặc sợ người khác ghét bỏ nên luôn e
ngại và cả nể. Phần không tốt trong bản
thân con người này sẽ tác động, kích
thích và khơi gợi ra những phần không
tốt của người khác. Cho nên việc bạn lo
lắng, bất an sẽ làm cho sự việc tồi tệ
hơn. Nếu cứ tiếp tục khơi gợi những điều
xấu đó trong con người mình thì người
khác lại tiếp tục bị nhấn chìm trong nó.
Kết cục là những bế tắc vẫn cứ tiếp tục
tồn tại.
Để loại bỏ sự bế tắc đó, trước hết bạn
phải hiểu cơ chế “Tính cách xấu của bản
thân mình sẽ khơi gợi tính cách xấu của
người khác”. Như vậy, bạn có thể không
bận tâm, lo lắng đến những hành vi của
người khác. Tiếp theo bạn chuẩn bị tâm
lí là dù có bị nói là hâm, là điên khùng
cũng sẽ bỏ ngoài tai để thử thay đổi một
cái gì đó cố hữu trong con người mình.
Điều quan trọng ở đây là ghi nhớ rõ tâm
trạng khổ sở trước khi thử nghiệm và
cảm giác thanh bình có được sau khi thử
nghiệm. Nếu lặp đi lặp lại cách làm như
vậy, tính cách sẽ dần dần thay đổi. Dần
dần những tính cách xấu sẽ mờ nhạt đi và
trái tim sẽ trở nên trong sáng. Lúc đó bạn
sẽ cảm thấy rằng “À người ta có thể
thanh thản đến mức này”. Trong quá trình
lặp đi lặp lại như vậy bạn sẽ thấy “trong
lòng đã cạn kiệt những ý nghĩ xấu đối
với người khác”.
Làm như vậy bạn sẽ ít bất an, lo lắng và
để ý đến người khác đồng thời cũng có
thể khơi gợi được nguồn năng lượng tốt
của đối phương. Lúc đó không chỉ bản
thân mình cảm thấy thoải mái hơn mà sự
quan tâm, hỏi han đến những người xung
quanh sẽ khiến mọi người đánh giá tốt
hơn về mình. Cách ứng xử như vậy khiến
cho mối quan hệ giữa con người và con
người tốt đẹp hơn. Kết quả là có được
sự bình yên và thanh thản.
Bắt đầu từ việc nhận ra những điều
chƣa tốt của bản thân
Cho dù khi đọc cuốn sách này bạn có hạ
quyết tâm rằng “do dự là tính cách không
tốt nên phải bỏ nó” hay “không được nói
xấu người khác” hay “hôm nay chắc chắn
sẽ dịu dàng với người yêu”… thì chắc
chắn sẽ có lúc bạn phá vỡ quyết tâm đó.
Việc bản thân mình nghĩ trong đầu rằng
“phải làm thế này”, “phải làm thế kia”
cũng chỉ là do “ý chí” chứ không phải do
tự đáy lòng bạn cảm thấy thuyết phục nên
sẽ khó lòng thực hiện. Đạo Phật gọi việc
nhận biết một cách chắc chắn dấu hiệu
SOS về sự đau khổ là “trí tuệ”. Giả sử
bạn đang tập trung toàn bộ ý thức của
mình vào trái tim và nhận ra rằng việc
khắt khe với người yêu là “điều xấu” là
“không tốt”. Ngược lại lúc đó bạn cũng
sẽ cảm nhận được rằng những ngày cùng
người yêu uống trà một cách yên bình
“thật hạnh phúc, thật thích thú”.
Nếu làm được như vậy thì tự nhiên bạn
sẽ dịu dàng được với người yêu. Điều
này là do bạn đã hiểu rõ trái tim mình
nên một chương trình ý thức tiềm ẩn đã
hoạt động để xử lí thông tin một cách tự
động như “không được làm bởi vì như
thế là không phải” hay “vì rất thích nên
phải tìm hiểu thôi”. Đây chính là năng
lực của “trí tuệ”.
Tuy nhiên để năng lực “trí tuệ” đó hoạt
động bạn phải bắt đầu từ việc nhận thức
bản thân mà không lảng tránh những phần
chưa tốt. Đây là việc không hề dễ dàng
nên con người thường làm ra vẻ không
biết rằng “đối xử không tốt với người
yêu thì đối phương cũng cảm thấy tồi tệ”.
Đây chính là nguyên nhân cản trở việc
lưu thông máu gây đau đầu mà người ta
vẫn tự đánh lừa mình tạm thời bằng thuốc
giảm đau. Cách trị liệu này không phải là
triệt để. Mặt dù rất đau khổ nhưng nếu
không thẳng thắn đối diện với nó để nhận
ra một thông điệp của trái tim là “không
phải đau ở đây mà hãy tìm ở chỗ khác”
thì mãi mãi không thể chữa được tận gốc.
Mất bao nhiêu năm cũng chưa chắc có
thể thay đổi được tính cách. Nhưng nếu
để sống phần đời còn lại một cách thanh
thản, yên bình thì nỗ lực đó chẳng phải
cũng đáng lắm sao?
 





