Ý NGHĨA CỦA VIỆC ĐỌC SÁCH
Những ngày thơ ấu

- 0 / 0
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: Phạm Thị Chiêm
Ngày gửi: 21h:43' 05-05-2024
Dung lượng: 575.5 KB
Số lượt tải: 2
Nguồn:
Người gửi: Phạm Thị Chiêm
Ngày gửi: 21h:43' 05-05-2024
Dung lượng: 575.5 KB
Số lượt tải: 2
Số lượt thích:
0 người
Mục lục
§1. Tiếng kèn
§2. Chúa thương xót chúng con
§3. Trụy lạc
§4. Trong lòng mẹ
§5. Đêm Nô-en
§6. Trong đêm đông
§7. Đồng xu cái
§8. Sa ngã
§9. Một bước ngắn
Chú thích
I
Tiếng kèn
hầy tôi làm cai ngục. Mẹ tôi con một nhà buôn bán rau
đậu, trầu cau lần hồi ở các chợ và trên đường sông Nam
Định - Hải Phòng. Tuổi thầy tôi hơn ba mươi, gấp đôi tuổi mẹ tôi.
…T
Hai thân tôi lấy nhau không phải vì quen biết nhau lâu mà
thương yêu nhau. Chỉ vì hai bên cha mẹ, một bên hiếm hoi muộn
cháu và có của; một bên sợ nguy hiểm giữ con gái đẹp đến thì ở
trong nhà và muốn cho người con ấy có chỗ nương tựa chắc
chắn, được cả một dòng họ trọng đãi nếu mắn con.
Thầy tôi làm cai ngục. Mẹ tôi con một nhà buôn bán rau đậu,
trầu cau lần hồi ở các chợ và trên đường sông Nam Định - Hải
Phòng. Tuổi thầy tôi hơn ba mươi, gấp đôi tuổi mẹ tôi. Hai thân
tôi lấy nhau không phải vì quen biết nhau lâu mà thương yêu
nhau. Chỉ vì hai bên cha mẹ, một bên hiếm hoi muộn cháu và có
của; một bên sợ nguy hiểm giữ con gái đẹp đến thì ở trong nhà và
muốn cho người con ấy có chỗ nương tựa chắc chắn, được cả một
dòng họ trọng đãi nếu mắn con… Tôi đẻ ra đã được bao nhiêu
người nhà những tội nhân có máu mặt đến mừng, biết bao nhiêu
kẻ nhờ vả ông bà tôi lại thăm nom. Đồ vàng bạc, các thứ lụa là,
gạo thơm, gà béo, trứng mới, cá biển tươi… từng tráp, từng
thúng, từng bu đã chật ních cả tủ áo và chạn thức ăn. Vú bõ
trong nhà đã hả hê có số tốt được hầu hạ một cửa “quyền quý”.
Sau này, mỗi lần nhắc tới ngày sinh vui vẻ của tôi, trong cái
giọng nói hổn hển thỉnh thoảng lại ngắt quãng với những tiếng
ho khan của bà nội tôi, tôi thấy có nhiều sự cảm động lắm. Cảm
động vì nhớ tiếc, vì đau xót. Thầy mẹ tôi lấy nhau không phải vì
thương yêu nhau, trái ngược cay đắng đó tôi đã hiểu biết rõ rệt
và thấm thía ngay từ năm tôi lên bảy lên tám, ở vào cái tuổi mà
tính tò mò rất dễ bị kích thích và trí ngây thơ trong suốt đã ghi
giữ một hình ảnh gì, một nỗi niềm nào thì ghi giữ mãi mãi.
Những buổi chiều vàng lặng lẽ, lạnh lẽo của mùa đông, những
buổi chiều mà bụi mưa như có một thứ tiếng van lơn thầm thì
trong hơi gió vu vu, lửa lò than rực rỡ vờn lên chân tường những
áng hồng lấp lánh hay rủ rê tâm trí người ta vào những cõi buồn
nhớ, là những buổi chiều làm tê tái mẹ tôi hơn hết. Tuy mẹ tôi có
tôi ngồi trong lòng cười nô với mấy con búp bê, tuy trước mặt mẹ
tôi có cả một bữa cơm thức ăn tỏa mùi thơm ngon lành trong hơi
cơm tám soan bùi ngọt, tuy mẹ tôi vẫn tươi cười và luôn luôn
thưa gửi dịu dàng với thầy tôi và bà tôi.
Lúc bấy giờ, trong đầu óc mẹ tôi quằn quại những hình ảnh,
những ý nghĩ gì, thầy tôi đoán biết sao được. Vẻ mặt xinh tươi
kia, sự thùy mị kính cẩn kia, sao có thể là của một người đàn bà
mà tâm tư hằng giá buốt vì những phiền muộn, những đau đớn
cay chua nhất, tối tăm nhất? Hay thầy tôi cũng như mẹ tôi cả hai
đều thản nhiên và lặng lẽ để che giấu cả một lòng đau đớn? Có lẽ
đúng! Vì thầy tôi, nếu là một người vô ý thức hay là một kẻ xốc
nổi, chỉ biết có sắc đẹp và sự chiều chuộng của mẹ tôi, thì đã
chẳng yên lặng nhìn tôi, miệng hơi nhếch về một bên, khi tôi níu
lấy tay, lay lay hỏi:
- Cậu ơi! Em Quế con không phải là con cậu mà là con cai H.
phải không?
Cùng lúc nghe câu tôi hỏi ấy, mắt mẹ tôi bỗng sáng lên, gò má
hơi ửng hồng. Mẹ tôi nhìn nhanh thầy tôi rồi hoặc quay mặt
nhìn đi chỗ khác, hoặc cúi xuống thẫn thờ nhìn tôi. Trời! Thốt
lên câu hỏi dại dột trên kia nếu tôi là con một người cha độc ác
hay ghen, phát uất ức, và một người mẹ bỗng hổ thẹn, sợ hãi vì
có kẻ mớm lời cho con mình để phá hoại sự thanh khiết của đời
mình, đời phải chung thủy của một người làm vợ, thì cảnh tình
giữa cha tôi và mẹ tôi lúc bấy giờ sẽ ra sao? Nhưng không! Thầy
mẹ tôi chỉ lặng lẽ nhìn nhau và tôi cũng vẫn được nưng niu vỗ về
trên hai đầu gối mẹ tôi ấm áp.
* * *
Quế, em gái tôi, là con một người khác: cai H, sự ngờ vực trong
đầu óc tôi thoát ra với những câu hỏi trên kia không bao giờ được
trả lời cả. Đem hỏi thầy tôi, thầy tôi yên lặng. Ôm ấp trong lòng
mẹ tôi, được mẹ tôi vuốt ve là tôi nhắc đến câu hỏi ấy. Cũng như
thầy tôi, mẹ tôi không đáp. Nhưng hai con mắt sáng ngời trên
nước da mịn màng như trứng gà bóc ấy khác hẳn cặp mắt sâu tối
của thầy tôi. Và, những lúc ấy, mẹ tôi hay áp má lên lùm tóc tôi,
hai ngón tay nhẹ nhẹ vuốt từng sợi một. Không chịu thắc mắc,
tôi còn hỏi cả hai cô tôi, hai anh họ tôi, bà tôi, và những người
hàng xóm. Cô tôi, hai anh họ tôi không trả lời còn có lý chứ bà
nội tôi và những người ở gần nhà tôi thấy tôi hỏi lắm thì hoặc
làm lơ đi, hoặc gắt lên thì thật vô lý quá chừng. Chính mấy người
này đã gieo cái ý nghĩ vẩn vơ ngờ vực vào tâm trí tôi. Đã một lần
bà tôi vẫy tôi lại, ôm tôi vào lòng xoa đầu nói:
- Ai đẻ mày?
Nhìn những miếng bánh kẹo thơm phức trong giấy bóng xanh
đỏ ở tay bà tôi, tôi nũng nịu đáp:
- Bà đẻ con.
Bà tôi lừ mắt, tát vào má tôi:
- Bố mày, chỉ được cái hóm thôi. Không phải!
- Vậy con là con cậu bà nhỉ?
Bà tôi lườm tôi một cái dài, lại hỏi:
- Cậu làm gì?
- Cậu làm ông xếp đề lao.
Bà tôi, vẫn một giọng ngọt ngào:
- Còn cái Quế là con ai?
Tôi đã hơi cáu vì thèm ăn lắm mà chưa được miếng nào, tôi
ngoẹo đầu ngoẹo cổ, phụng phịu:
- Con không biết!
Bà tôi lại tát nhẹ vào má tôi:
- Láo nào! Bố mày! Nói đi rồi bà cho.
Nhưng tôi dại gì chậm nói để chậm ăn, tôi liền kéo tay bà tôi
cầm bánh thấp xuống tí nữa:
- Em Quế cũng là con cậu.
Tôi đã thất vọng. Bà tôi hừ mạnh một tiếng, đổi nét mặt:
- Không phải!
Tôi gắt lên:
- Chả con cậu là con ai? Không cho con thì thôi!
Dứt lời, tôi gỡ tay bà tôi, chực chạy đi chỗ khác. Bà tôi phải bóc
ngay phong bánh, bẻ cho tôi một nửa rồi cặp chặt tôi vào hai đầu
gối:
- Bà bảo không phải là không phải mà.
Tôi không cắn bánh vội, cau mặt nhìn bà tôi:
- Thế nó không phải là con cậu con, sao nó lại được ăn sữa bò,
lại có vú bế?
Tôi lý luận như thế vì tôi cho rằng được vú em chăm bẵm và
ăn sữa bò là một vinh hạnh, một sự biệt đãi. Tôi có biết đâu rằng
bà tôi chẳng muốn mẹ tôi bận bịu vì em gái tôi, để tôi được độc
quyền hưởng sự nuôi nấng chăm bẵm của mẹ tôi. Bà tôi lại xoa
đầu tôi và cười. Nụ cười làm rung động cặp môi rạn nứt, chảy xệ
ấy, tôi vẫn chẳng thấy gì là vui vẻ.
Và nụ cười vừa tắt, bà tôi lặng ngay nét mặt nói:
- Không phải! Cái Quế nó là con thằng cai H.
Tôi mở to mắt, lay mạnh vai bà tôi:
- Bà nói dối để không cho con nốt chỗ bánh kia. Nó cũng là con
cậu.
Cặp mày lơ phơ trên đôi mắt nâu càng chau lại, nhưng giọng
nói bà tôi lại trở lại nhẹ nhàng, ngọt ngào:
- Không! Bà bảo thật mày đấy, nó không phải là con cậu mày
mà là con thằng…
Bà tôi ngừng lại, đăm đăm nhìn vào mặt tôi:
- Mày có biết thằng cai H. không?
Tôi lắc đầu. Bà tôi nghiêm nét mặt:
- Cái thằng buổi chiều nào cũng dẫn lính sang đề lao và thổi
kèn ấy mà.
Tôi reo lên:
- Thế thì con biết rồi!
Nhưng tôi chẳng cần hiểu biết rõ rệt hơn đứa em gái thật là
con thầy tôi hay là con ai cũng được, thấy bà tôi hớ hênh tôi liền
giật phăng cả gói bánh và mấy chiếc kẹo, chạy tót ra đường… Và
một lần, dưới gốc cây xoan tây, trước một cái bếp bằng những
hòn gạch vỡ và đốt bằng những cành xoan và lá vàng khô, tôi
được ẵm trong lòng một người đàn bà vẫn đong gạo và vay tiền
của mẹ tôi. Trước thì tôi mải chơi với một con mèo nhỏ vờn quấn
dưới chân tôi nên tôi không để ý đến chuyện trò của người đàn
bà ấy với một người đàn bà khác, nhiều tuổi hơn, yếm trắng, thắt
lưng xanh, cũng là vợ một người cai lính khố xanh, và cặp mắt vẻ
mày cũng sắc sảo lắm. Khi con mèo bị tôi nắm đuôi chặt quá
chóe lên một tiếng, cào tôi rồi chạy đi chỗ khác, tôi mới bắt đầu
chú ý nghe. Người đàn bà ôm tôi cười toe toét. Người kia lại còn
lắm miệng hơn. Nhiều lúc cả hai cùng nhìn tôi, mắt ánh hẳn lên
rồi cười rũ rượi. Tôi không ngạc nhiên lâu mà liền căm tức. Cái
căm tức dội lên nghẹn ngào. Nhưng tôi phải yên lặng. Không biết
một sức mạnh gì đã giữ riết lấy tôi không cho tôi chồm lên,
không cho tôi văng vào mặt họ mà đấm đá mà chửi rủa. Hai
người đàn bà này chê bai bới móc mọi người hàng xóm chán rồi
lại quay về chuyện nhà tôi. Nào thầy tôi nghiệt ngã, thâm hiểm
lắm. Trái lại, mẹ tôi vừa trai lơ, vừa dễ dãi, và gần như đần độn
nữa ấy, chẳng biết gì cả. Còn bà tôi thì đủ các tính ác, tính xấu,
những cái ác, cái xấu của những người đàn bà từ thuở lọt lòng đã
phải sống với những thành kiến, những lề thói tối tăm cay
nghiệt, rồi phải coi học thức như là một sự quái gở, tự do như là
tội lỗi, và thích thú sự áp chế, hành hạ nếu mình được dịp và có
quyền áp chế, hành hạ kẻ khác. Sau cùng, giọng nói của người
đàn bà nhiều tuổi có cặp mắt sắc sảo bỗng nhỏ đi. Y trỏ một
người trắng trẻo, không phải bồng súng, đương chắp tay sau
lưng đi lại ở cổng đề lao, thì thầm với người đàn bà ôm tôi bỏm
bẻm nhai trầu:
- Con bé em thằng này là con hắn ta đấy!
* * *
Buổi chiều nào cũng vậy, dù nắng nực hay mưa rét, tốp lính
khố xanh ấy cũng phải đi qua nhà tôi. Vừa đúng hai chục người:
mùa hạ, quần áo vải vàng, mùa đông, quần áo dạ tím. Họ đi chân
không, quấn xà cạp, đội nón chóp đồng. Ba người hàng đầu đeo ở
cánh tay áo một chiếc lon màu hoa lý to hơn chiếc đũa. Cùng
hàng với ba người này, ở bên trái, cách chừng một bước là một
người tầm thước, gương mặt trắng hồng, mắt sáng, sống mũi hơi
cao, hai hàm răng trắng phau. Y ăn vận gọn ghẽ hơn cả. Tay y
đeo hai lon vàng đính thêm một đường chỉ đỏ thêu to. Chân y đi
giày vải đen, bít tất bao giờ cũng trắng như mới. Không phải
bồng súng, y ung dung cầm một chiếc kèn đồng có tua đỏ mỗi
lần hoa nhanh lên lại tỏa ra một làn ánh sáng vàng diệp dưới ánh
nắng rực rỡ của chiều hè.
Cứ khi nào tốp lính đến gần nhà tôi ở xế cổng đề lao thì tiếng
kèn vang lên, vui vẻ quá, hùng tráng quá. át cả tiếng vỏ lưỡi lê
đập phanh phách vào đùi và những bước chân xoàn xoạt, tiếng
kèn mỗi giây một dướn cao, một vang to, rung động cả làn không
khí êm ả của một góc trời. Rồi nương tiếng gió lao xao trong
những chòm cây phấp phới, âm thanh nao nức, dồn dập của
tiếng kèn càng cuốn lên cao, tràn ra xa, rất xa, đến những vùng
xa sáng tươi nào đó. Càng về sau tiếng kèn càng niềm nở, ân cần
như những lời thúc giục thống thiết rồi đổ hồi trong giây khắc
đoạn im bặt. Một lúc lâu sau, một tốp lính khác ở cổng đề lao đi
ra, vẫn người thổi kèn ấy. Lần này tiếng kèn nhanh hơn trước,
nhịp với bước chân vội của tốp người nhọc mệt và đói ngấu
mong ngóng sự nghỉ ngơi, no say… Hay bước đi, bước đi, như làn
lá nhỏ bay theo gió… Tiếng kèn vồn vã vẫn rõ ràng, trong sáng,
và bầu trời mở rộng vẫn rung vang. Sau tốp lính, một lũ đàn bà,
trẻ con long tong chạy theo, trên lưng, những đứa bé ngổm lên
ngổm xuống như cưỡi ngựa. Quá nhà tôi một quãng ngắn, tiếng
kèn lại dần dần dướn cao lên. Đến khi tốp lính và lũ đàn bà trẻ
con bị những lớp găng dày của một góc vườn um tùm và một
hàng cây che khuất thì tiếng kèn tắt hẳn. Gió chiều bỗng rít dài
lên, nền mây rung mạnh, khi âm vang của tiếng kèn không còn
một gợn sóng. Đương nắm tay tôi, tự nhiên mẹ tôi buông mạnh
ra bước xô xuống thềm gạch, ra đường. Tôi ngạc nhiên, níu chặt
lấy vạt áo mẹ tôi, cuống quýt:
- Mợ ơi! Chờ con với. Mợ ơi!…
* * *
Bao nhiêu buổi chiều như thế? Đã mấy năm chiều như thế?
Tôi không thể ghi rõ là bao nhiêu mà chỉ nhớ rằng mẹ tôi đã
không biết bao nhiêu lần dắt tôi ra sân trước, đón những tốp lính
kia đi qua với tiếng kèn rộn rã tưng bừng để rồi một lúc lâu sau
chậm chạp dắt tôi trở vào. Mẹ tôi đã đứng trong tươi sáng và ấm
áp ở ngoài trời hay trong gió lạnh, mưa bay ở dưới mái hiên, và,
bao nhiêu buổi chiều êm ả đã qua, óc non nớt của tôi ghi làm sao
được không lầm, không sót những con số nhất định? Nhưng
trong hồn tôi thì mãi mãi rõ ràng thắm nét hình ảnh những con
mắt của mẹ tôi sáng lên nhìn người thổi kèn và hai gò má mẹ tôi
ửng hồng khi gặp cặp mắt long lanh của người đàn ông nọ chiếu
tới. Và cho tới ngày trọn đời, tôi không thể nào quên được cái
cảm giác là lạ do một bàn tay nhỏ nhắn run run bỗng từ đầu tuột
xuống vai tôi, và một màng lành lạnh mong manh vương qua
một cặp mắt lờ đờ nhìn vào mắt tôi chợt làm ngực tôi lạnh dợi
đi… Rồi đến một giọng van lơn khi tôi níu lấy áo mẹ tôi kéo vào
nhà lúc không còn bóng dáng và tiếng kèn của tốp lính nữa.
- Đừng quấn mãi lấy chân mợ mà!… Thôi!… Con đi trước đi
mợ xin theo con…
Rồi một buổi chiều, tôi cũng không thể nhớ rõ là một buổi
chiều rực rỡ hay âm u, mẹ tôi không dắt tôi ra sân nữa. Và từ
buổi ấy trở đi, chỉ có mình tôi lon ton chạy ra đón xem tốp lính đi
qua với một người thổi kèn khác. Lắm lúc thấy tiếng kèn vui quá
tôi chạy vào nhà, nắm tay mẹ tôi, hết sức kéo dậy. Nhưng mẹ tôi
hoặc gỡ tay tôi ra rồi quay mặt vào tường hoặc tiện thể kéo ngả
người tôi vào lòng mà ôm lấy tôi. Bên tai tôi, tiếng ngực mẹ tôi
đập mạnh lạ thường, và từ mảng ngực phập phồng nóng ran lên
đó truyền sang da thịt tôi những cảm giác ấm áp giữ tôi lại rất
lâu trong cánh tay mẹ tôi. Lúc bấy giờ mắt tôi như mờ đi vì hơi
thở nóng sực của mẹ tôi và tôi càng bâng khuâng trong đôi mắt
thẫn thờ như muốn khóc của mẹ tôi.
* * *
Em Quế chính là con “cậu” tôi. Anh họ tôi, các cô tôi, cả bà tôi
và những người hàng xóm dần dần bảo tôi như thế sau ngày
người cai kèn kia đổi đi nơi khác không biết là đóng ở đâu và mẹ
tôi càng kính cẩn hầu hạ bà tôi, càng chiều chuộng thầy tôi và
chăm nom anh em tôi. Nhưng cũng từ ngày ấy tôi càng ít thấy
hai thân tôi trò chuyện vui vẻ với nhau trừ khi ở trước mặt bà tôi
hay những người nào thân thiết nhất. Tới năm em gái tôi khôn
lớn cũng thế, thầy mẹ tôi không bao giờ nhìn thẳng vào nhau mà
hỏi gọi nhau, cười nói với nhau. Trong con mắt, giọng nói và nụ
cười của hai thân tôi bao giờ cũng đượm vẻ trầm lặng, chua chát,
hờn tủi. Sự đau đớn âm thầm ấy theo dõi mãi mãi thầy tôi và mẹ
tôi với cái kỷ niệm sâu sa của mấy đêm kia - tôi tin chắc chỉ mấy
đêm thôi - hai con người đã phải gắng gượng ăn nằm với nhau,
và để khỏi tủi lòng hai đứa con có phúc lọt vào một cửa giàu có
và hiếm hoi, hai người càng cố phải gần gũi nhau trong một sự
êm ấm giả dối vô cùng.
II
Chúa thương xót chúng con
N
hà đã bán mất rồi. Cái nhà gạch hai tầng ở phố Hàng Cau
của bà tôi cố dành dụm bao nhiêu năm và vay mượn bao
nhiêu nơi mới xây được để làm từ đường. Năm ấy là năm 1927,
tôi nhớ rõ như thế, đồng tiền buôn bán còn kiếm được nên nhà
tôi mới bán được giá cao đến thế: một nghìn chín trăm đồng. Và
cũng vì ở giữa phố sầm uất, có nhà cầm đồ, có hiệu khách xuất
cảng và nhập cảng gạo, có nhiều hàng cơm đông người ăn nhất,
nếu không nhà tôi sẽ bị dìm giá, chầy chật mới bán được. Bởi nhà
đất vừa hẹp, đằng sau không có, cầu rửa và bể nước ở ngay trong
nhà, lan can lại bằng gỗ, và chủ nó đương cuống vó, mất ăn mất
ngủ vì các món nợ ghê gớm, văn tự viết cầm nhà thì đã đến hạn
đoạn mại. ông tôi mất sớm, năm thầy tôi chưa lấy mẹ tôi. Bà tôi
cũng sinh nở mười tám bận. Nhưng các cô, các chú tôi đều chết
dần chết mòn gần hết, kẻ ngay khi lọt lòng mẹ, kẻ mới bập bẹ nói,
kẻ còn trần truồng chạy nhông ngoài đường. Trong sự nuôi nấng
cẩu thả và mê muội của một người mẹ luộm thuộm suốt ngày
đầu tắt mặt tối, đàn con đông hơn đàn vịt kia sống sót ba người:
thầy tôi và một người chị gái thầy tôi, một người em thầy tôi.
Công việc mua bán chỉ đi lại trong có nửa tháng là nhà tôi đã về
chủ khác.
Tuy vậy, trước ngày mà hai cô tôi ký tên vào giấy bán nhà
cùng với bà tôi ở tòa án rồi nhận trước viên lục sự mỗi người một
trăm rưởi đồng, gia đình tôi cũng chẳng ổn thỏa nào. Thầy tôi
cười một tiếng nói với bà tôi:
- Hai con ấy chính là hai con quỷ. Chúng nó là con gái may
sinh vào cái buổi tây tàu này, tôi đã phải cho mỗi đứa một trăm
bạc, hỏi còn bất công gì mà chúng nó oẻ họe dọa không ký.
Chúng nó mà cao kỳ quá thì tôi để toàn quyền cho tòa án.
Bà tôi chỉ chép miệng:
- Đấy tùy anh, anh muốn làm thế nào cho tôi nhờ thì làm. Hai
con kia nó đã được nhờ chồng, thằng làm thông phán, đứa cửa
hàng đồ gỗ tiền nghìn, chúng nó cần gì hai trăm bạc của anh chia
cho chúng nó một cách xử đối khinh rẻ như thế. Muốn cho
chúng nó ký nhận tiền, anh phải nói năng với chúng nó ra nhời
ra nhẽ, chúng nó đã vậy, nhưng còn chồng chúng nó. Thôi tôi
xin anh, anh đừng cậy mình là ông trưởng, mà giở trò nhờ quan
tòa, nhờ thầy kiện. Tôi bảo thật chỉ đục nước béo cò, chia năm sẻ
bẩy, rồi cái nhà này đến mất không thôi.
Nghe bà tôi nói, thầy tôi càng tím mặt lại.
- Anh sức dài vai rộng, anh thông thạo chữ nghĩa, anh thừa
sức làm công nọ việc kia để kiếm miếng đổ vào miệng anh, vợ
anh, con anh. Chứ tôi đây đã ngoài bảy mươi tuổi đầu, mấy năm
trước Chúa cho còn mạnh chân khỏe tay, còn buôn bán, còn làm
cái hàng cái họ được, nhưng từ nay trở đi thì còn làm gì nảy ra
tiền nữa. ăn uống, thuốc thang, đóng góp hội hè giỗ tết, một
năm, hai năm nếu Chúa còn để tôi sống được ngày nào nữa, và
ma chay sau này, nếu không được nhờ cậy các anh các chị thì
thôi. Thiệt một xu tôi khổ vì một xu, thiệt một đồng tôi đứt ruột
vì một đồng, thiệt hàng chục hàng trăm thì anh cứ cầm dao thí
ngay cho tôi một nhát còn hơn.
Bà tôi nức lên rồi ôm mặt khóc:
- Anh làm khổ tôi vừa vừa chứ! Anh ỷ mình vừa vừa chứ!
Đương nhiên anh bỏ việc nhà nước. Đương nhiên anh vác bàn
đèn về nhà, hút ngày hút đêm… Rồi bỗng dưng anh đem văn tự
địa đồ đi cầm lấy hàng năm bảy trăm bạc, chịu lãi mười phân để
về Sài gòn, Sài chéo, cậy cục hàng trăm bạc để lấy sổ đi làm tàu
tây tàu Nhật, tưởng nên vương tướng gì hay đâu không việc
hoàn không việc, nghiện ngập hoàn nghiện ngập.
Tiếng khóc càng to, và từ trong hai hốc mắt tối những giọt
nước mắt tràn ra lai láng trên gò má hóp răn reo, như một đập
nước đương khô cạn bỗng đầy ứ đến vỡ lở. Vừa khóc bà tôi vừa
réo tên tục của ông tôi và thầy tôi mà kể lể oán trách. Một đời tối
tăm của người đàn bà thường dân, nhanh chóng nhưng thấm
thía và rõ rệt, đã kêu lên bằng cái giọng khàn khàn rền rĩ của bà
tôi. Ngay khi lọt lòng mẹ, người đàn bà ấy đã phải chịu ngay cái
cảnh bất công trong sự chăm nuôi cùng các anh trai, em trai, lớn
lên một chút choáng váng u mê vì sự dạy bảo sai khiến của ông
bà, cha mẹ và họ hàng… mười bảy mười tám tuổi đã thành một
người con gái cằn cỗi, lúc nào cũng khép nép, lo sợ, rồi thì về nhà
chồng với một lòng nhẫn nhục ngày càng dạn dày, một tính
khiếp phục ngày càng mạnh mẽ…
Hàng ba bốn mươi năm sau thời kỳ làm dâu con, bước lên địa
vị làm mẹ rồi làm bà. Tuổi già kém sút đến. Nhưng rồi ra, cũng
được hơi yên ổn, vui sướng. Sự sống thảnh thơi và già cỗi ấy ở
giữa những sự sống mê muội tối tăm khác của những lớp con
cháu cứ thế kéo dài cho đến phút cuối cùng. Người đàn bà ấy
chết. Chết bên một cỗ áo quan thật tốt đóng sẵn từ mươi năm
trước để một góc buồng, bên một đống quần áo lành lạnh thơm
tho giữ y nguyên những nếp là từ thuở mới bước chân về nhà
chồng… chết trong những tiếng khóc rền rĩ của con gái, con dâu,
chị em xa gần mượn dịp này để đay nghiến lẫn nhau, khóc mà
tưởng như hát lên những khổ cực đau tủi mình đã phải chịu.
Thầy tôi đã lạnh lùng đứng dậy, đi vào nhà trong mặc bà tôi
ngồi kể lể. Tôi nhìn nét mặt thầy tôi, thấy sao mà dữ, mà sợ. Chờ
thầy tôi khuất hẳn, tôi vội trèo lên giường bà tôi, lay vai bà tôi,
rơm rớm nước mắt nói:
- Bà! Bà đừng khóc nữa. Cậu bán nhà này của bà đi rồi làm nhà
khác mà.
Một giọng mếu máo đáp:
- Có làm thêm mấy cái bàn đèn nữa đấy! Bố mẹ mày giết tao…
Hồng ơi!..
Tôi càng lay mạnh vai bà tôi:
- Cậu con không làm được thì lớn lên con đi học con làm cho
bà. Bà nín đi…
Bà tôi ngước mắt lên, hai bàn tay chỉ còn xương bọc da khô
róc, hất nhanh mớ tóc điểm bạc ra đằng sau. Những giọt nước
mắt đổ dồn về hai thái dương, ròng ròng rớt xuống gáy. Một
tháng sau, hết hạn ở lưu, nhà tôi phải dọn đi nơi khác. Hôm đó
hai mươi ba hay hai mươi bốn tháng chạp. Một buổi sáng lạnh
lẽo tuy khô ráo. Suốt hai dãy phố trừ mấy hàng cau và hiệu cầm
đồ là tấp nập còn nhà nào cũng quét rửa xong, bàn thờ hoa cúc,
cành đào, chân nến đỉnh đồng bày biện đâu đấy, và bắt đầu cửa
đóng, dán giấy hồng điều và tranh rồi. Những năm xưa thái bình
ăn tết sớm lắm!
* * *
Một sáng sớm tôi bỗng thức giấc thì thấy lạnh và chân tay nhẹ
bẫng đi. Tôi bò nhổm dậy, dụi mắt trông: màn đã vắt, chiếc chăn
bông cuộn lệch lạc đùn về một góc giường, thầy tôi khi ngủ bao
giờ cũng phải cho tôi gác và ủ tay vào nách không thấy nằm bên
nữa.
- Cậu ơi! Cậu ơi!
Tiếng kêu gọi của tôi đã thành tiếng hét làm rát cả cổ. Bà tôi và
mẹ tôi tung màn chạy theo tôi ra vườn. Cả con bé em tôi nữa.
- Làm sao thế? Làm sao thế?
Tôi mếu máo nhìn bà tôi:
- Cậu con đi đâu rồi?
Bà tôi quát:
- Cậu mày đi sau chứ đi đâu mà phải khóc?
Tôi liền chạy vào đạp tung cửa nhà xí.
- Bà ơi! Đâu nào?
Bà tôi nắm tay tôi lôi sềnh sệch vào nhà:
- Hay cậu mày đi mua thuốc?
Tôi lại vội chạy vào buồng. Không thấy cái bàn đèn để trên
mặt bàn kê ở cuối giường và tìm đâu cũng không ra, tôi nức nở:
- Mất bàn đèn rồi!
Nhận ra chỗ thầy tôi nằm không bao giờ xếp dọn sớm như thế
và quần áo vắt trên màn không còn cái nào lành, bà tôi hốt
hoảng hỏi mẹ tôi:
- Mẹ mày có biết bố nó đâu không?
Mẹ tôi nhìn bà tôi, không đáp! Bà tôi càng cuống quít:
- Lạ thật! Lạ thật!…
Bữa trưa hôm ấy cơm và thức ăn nuốt vào thấy khô đắng quá!
Nước canh thịt hòa với nước mắt tôi. Thấy tôi khóc nhiều quá và
dỗ mãi cũng không nín, bà tôi cũng khóc theo:
- Mợ Vui - gọi theo tên tục thầy tôi - thằng Vui nó vào nhà
chung lấy cả năm trăm bạc của tao gửi cha xứ rồi. Cha xứ hỏi nó,
nó bảo lấy tiền để làm vốn sang Lào buôn bán. Vậy mợ mày bây
giờ nghĩ sao?
Mẹ tôi vẫn yên lặng. Một hồi lâu, mẹ tôi mới cúi đầu đáp:
- Thưa mẹ, con chẳng biết nghĩ sao cả.
Bà tôi “hừ” một cái thật dài rồi đổi giọng:
- Mợ mày nói lạ! Trước khi đi cũng phải dặn dò mợ điều gì chứ?
Mẹ tôi quay nhìn cái gian buồng lúc nào cũng mờ tối giường
quanh năm màn chỉ vén lên, trong đó thầy tôi hết nằm lại ngồi,
hút chán lại ngủ, không bao giờ đi chơi đâu và chẳng bao giờ hỏi
đến mẹ tôi. Mẹ tôi nhẹ thở dài. Hai mắt mẹ tôi vẫn lờ đờ mệt mỏi
như giọng nói:
- Thưa mẹ không! Cậu nó đi là đi, có dặn gì con đâu.
* * *
Mùa thu ngắn quá, tiếp ngay đến mùa đông dài và buồn. Mùa
đông năm ấy mưa phùn liên miên như không bao giờ hết trong
cái lạnh lẽo tê buốt của những luồng gió lộng. Người ta như đặc
cả phổi dưới làn không khí ướt át của vòm trời thấp tối. Nhà tôi ở
chung với nhà bán hàng sũ. Trong nhà, trừ gian bày bàn thờ, còn
đâu đâu cũng xếp đầy gỗ phiến, gỗ tấm, gỗ bắp và các thứ săng
ván. Quanh năm, mùi gỗ vàng tâm và gỗ dẻ thơm nức không khí.
Những ngày mưa gió, khách mua hàng ắng, chủ nhà và thợ đều
rỗi. Trưa đến, thợ mộc và thợ xẻ đều chui vào những chỗ trống ở
hai chồng ván, kéo những giấc ngủ kỳ no chán. Về những ngày
vắng lặng đó, đi học về, ăn cơm xong, mở sách ra học, tôi thấy
tâm trí vơ vẩn như muốn bay đi những đâu đâu, mặc dầu ở trong
lớp tôi đã lơ đãng nhiều rồi. Nhất là những giờ tập đọc và làm
tính, tôi chẳng để ý nghe nghĩa lấy một phút. Một tay khoanh lên
bàn để che, một tay tôi vân vê hai mảnh vỏ lạc tây đã tỉa hết
nhân và cọ sát rất nhẵn của thầy tôi bỏ lại. Tôi và em gái tôi gọi là
hai mảnh gỗ rùa. Tôi còn đặt thêm cho cái tên là “rùa thần” vì
đêm ngày chầu chực ở hai bên ngọn đèn dầu lạc của thầy tôi. Trí
tưởng tượng non nớt của tôi đã dàn xếp ra những cảnh rất kỳ dị
trong những giờ yên lặng nhất của buổi học chiều.
Mặt bàn gỗ lim nhẵn bóng là tầng mây xán lạn, mênh mông
trên đó là hai “rùa thần vỏ lạc tây” kia bơi theo chiều gió. Ngón
tay giữa và ngón tay trỏ của tôi đặt lên hai vị tiên đồng: tôi và em
gái tôi, cưỡi linh quá bay trên tầng không, hai tiên đồng kia đã
bao nhiêu năm tháng tìm kiếm các phương trời một người cha
thân yêu bỗng dưng lìa bỏ hai con mà không bảo cho chúng tôi
biết chỗ mình ở, ngày mình về. Rồi càng bay xa, càng bay lâu, chỉ
càng thấy ruộng nương, sông hồ, rừng núi và biển cả mịt
mùng…
Nhưng ở nhà trường, giữa những vui chơi của các bạn nhỏ, tôi
không thấy sự buồn nhớ thấm thía quá mỗi khi chợt nhớ đến
thầy tôi. Về đến nhà, ngồi trên cái giường mọi khi có ngọn đèn
vàng ngà ngà im lặng trong cái chụp trong suốt luôn luôn vương
vấn làn khói mong manh thơm phức, người tôi càng nao nao cồn
cào như sau mấy bữa chỉ ăn có cháo loãng. Những ngày mưa,
từng giọt nước lạnh từ ống máng rơi xuống chiếc thau đồng đã
thấm từng chút khí lạnh vào lòng tôi; từng tiếng kêu chiêm
chiếp của con sẻ lẻ loi rũ lông trên mái ngói đã quyện đi từng hơi
êm ấm của hồn tôi. Và những ngày nắng, mây trời xanh bát ngát,
mái ngói xanh rêu, tường vôi trắng xóa vẫn cứ vương qua mắt tôi
một màng mong manh lạnh lạnh. Tôi buồn ngủ lắm rồi! Không
sao học bài được nữa. Vì mỗi câu đọc xong, tôi chưa ôn lại thì
những chữ muốn gợi ra trong trí tưởng đã biến đi đâu hết. Não
cân tôi tê dại vì nhớ thương đã trở thành như bằng chất sắt,
không thể ghi nhớ các bài học dù chỉ rất ngắn, rất dễ học kia.
Ngồi xếp bằng giữa giường trên đệm bông có lò than tàu đỏ
rực, bà tôi im lặng trước cây thánh giá bằng đồng treo giữa hai
chậu huệ trắng và hai chân nến sơn son thếp vàng. Không có
những tiếng lâm râm như tiếng nói của một người gần hấp hối
ấy, không có những đầu ngón tay khô róc lẩy bẩy lần chuỗi tràng
hạt ấy, bà tôi sẽ thành một pho tượng mà tất cả cái tinh thần
chuyên chế và sức đè nén tối tăm của các thành kiến hiện cả lên
trên cái gương mặt hốc hác nhăn nheo và trong hai quầng mắt
sâu thẳm.
- Chúa tha tội chúng tôi!
- Chúa thương xót chúng tôi!
Lời van xin càng rền rĩ.
- Chúa nhận lời chúng tôi!
- Chúa phá mọi sự dữ, ban mọi sự lành cho chúng tôi!!!
Bao nhiêu tia sáng trong cặp mắt bao lâu nay không còn ánh
một vẻ vui sướng gì của bà tôi dần tắt đi…
Bà tôi nhìn Chúa Giê-su rầu rĩ mệt lả dang hai cánh tay rỉ máu
trên cây thánh giá hồi lâu rồi từ từ cúi xuống hôn mẫu ảnh nhỏ,
tròn bằng bạc ở tràng hạt. Tiếng nói lào thào càng run run:
- Chúa tha tội chúng tôi! Chúa thương xót chúng tôi!
- Chúa phá mọi sự dữ, ban mọi sự lành cho chúng tôi!
Nhiều lần nữa bà tôi rền rĩ nhắc lại mấy câu trên kia mà từ khi
tôi bắt đầu nói sõi bà tôi bắt tôi đọc đi đọc lại không biết bao
nhiêu vạn lần.
III
Trụy lạc
T
rừ chiếc tủ chè bằng gỗ gụ, tuy không đẹp nhưng chắc
chắn, nhà tôi không còn một đồ đạc gì đáng tiền nữa. Tủ áo,
trường kỷ, án thư, sập sơn lần lượt bán đi. Cả những đồ đồng và
đồ sứ: chậu, mâm, độc bình, bát đĩa. Sự túng bấn còn cướp nốt
một đồ vật quý nhất của nhà tôi: cái đồng hồ quả lắc. Tôi không
rõ trước ngày đẻ tôi bao nhiêu năm, nhà tôi đã sắm cái đồng hồ
treo ấy. Chỉ biết hộp gỗ đã đen bóng, mặt sơn trắng trở nên vàng
khè, lắm nét chữ mất đi cụt ngủn, quả lắc dù lau chùi và đánh
thuốc thế nào cũng chỉ khỏi xám xám.
Người anh họ tôi đã nhiều lần vác nó đi chữa, nhưng giờ giấc
chỉ đều được vài tuần, rồi ngày một chậm, sau cùng máy lại liệt,
tuy các chốt, các đanh ốc và bánh xe vẫn nhẫy dầu. Đáng lẽ cái
đồng hồ ấy bán đi từ bao giờ. Chỉ vì mỗi lần người mua đến, bà
tôi lại chép miệng thở dài, thấy thế thầy tôi lại phải thôi. Đôi mắt
nâu của bà tôi lờ đờ nhìn cái đồng hồ treo ở đầu giường mình cái đồ vật mà khi ông tôi còn sống sau những trận cờ bạc thua
tháy và say rượu trở về đánh chửi bà tôi cũng đã mấy lần đem đi
cầm, bán ấy, - tỏ rằng lúc bấy giờ cõi lòng già lại đã thắt lại thêm
vì nhiều nỗi cơ cực. Cả tôi cũng phải buồn rầu.
Tôi không biết chép miệng, tôi không biết thở dài, không có
những giọt nước long lanh khóe mắt, nhưng vẻ mặt ngơ ngác
của tôi đủ chứng tỏ rằng tôi cũng cùng một cảm tưởng với bà tôi.
Lần nào cũng vậy khi người mua đến khuân đồ đi, tôi lại thần
người ra hồi lâu, rồi vẩn vơ tìm một vật gì để thay vào. Và khi tôi
đã ghen cuồng lên chỉ muốn cướp lấy, muốn đập phá, khi thấy
các đồ đạc nọ được người mua mang về lau chùi bóng bẩy trông
như mới. Theo liền với sự nghiện ngập mỗi ngày một nặng và sự
ốm yếu rũ rượi của thầy tôi, sự buôn bán của mẹ tôi cũng mỗi
ngày một kém mãi. Trên những vòng kê ở chợ, không còn những
thúng táo tây khoe màu đỏ thắm hay vàng tươi, những rổ đào
Vân Nam rực rỡ trong màu hoàng yến và lá trắc bách diệp xanh
đậm, những lồng cam Hoa Kỳ mọng nước óng ả, những bắp cải
nõn nà, và những mớ cà rốt, đậu Hòa Lan, cần, hẹ tươi ngon bày
từng đống cao chấm bụng…
Hoa tai và nhẫn vàng, mẹ tôi tháo bán đi lúc nào không rõ. Cái
thúng thanh con trước kia, hễ tan chợ là đầy xu hào, nay chỉ
hàng ngày loáng thoáng mấy đồng hào con và tiền trinh. Lắm
bận, chờ mẹ tôi quay đi chỗ khác, tôi lẻn đến, khẽ nhấc vỉ buồm
lên, định ăn cắp tiền để đi đánh đáo và ăn quà thì chỉ thấy thúng
không. Bao nhiêu năm qua, nhưng tôi không thể quên được
những buổi chiều hè ấy. Hơn ba giờ chợ vẫn còn nhiều hàng
đông người mua bán, mẹ tôi đã cắp thúng lủi thủi về. Trên bờ đê,
dưới những chòm xoan tây lấp loáng hoa đỏ, mẹ tôi mặt rầu rầu,
đầu hơi cúi, mắt nhìn như không thấy gì, đi rất chậm. Qua
những lớp người dồn dập, huyên...
§1. Tiếng kèn
§2. Chúa thương xót chúng con
§3. Trụy lạc
§4. Trong lòng mẹ
§5. Đêm Nô-en
§6. Trong đêm đông
§7. Đồng xu cái
§8. Sa ngã
§9. Một bước ngắn
Chú thích
I
Tiếng kèn
hầy tôi làm cai ngục. Mẹ tôi con một nhà buôn bán rau
đậu, trầu cau lần hồi ở các chợ và trên đường sông Nam
Định - Hải Phòng. Tuổi thầy tôi hơn ba mươi, gấp đôi tuổi mẹ tôi.
…T
Hai thân tôi lấy nhau không phải vì quen biết nhau lâu mà
thương yêu nhau. Chỉ vì hai bên cha mẹ, một bên hiếm hoi muộn
cháu và có của; một bên sợ nguy hiểm giữ con gái đẹp đến thì ở
trong nhà và muốn cho người con ấy có chỗ nương tựa chắc
chắn, được cả một dòng họ trọng đãi nếu mắn con.
Thầy tôi làm cai ngục. Mẹ tôi con một nhà buôn bán rau đậu,
trầu cau lần hồi ở các chợ và trên đường sông Nam Định - Hải
Phòng. Tuổi thầy tôi hơn ba mươi, gấp đôi tuổi mẹ tôi. Hai thân
tôi lấy nhau không phải vì quen biết nhau lâu mà thương yêu
nhau. Chỉ vì hai bên cha mẹ, một bên hiếm hoi muộn cháu và có
của; một bên sợ nguy hiểm giữ con gái đẹp đến thì ở trong nhà và
muốn cho người con ấy có chỗ nương tựa chắc chắn, được cả một
dòng họ trọng đãi nếu mắn con… Tôi đẻ ra đã được bao nhiêu
người nhà những tội nhân có máu mặt đến mừng, biết bao nhiêu
kẻ nhờ vả ông bà tôi lại thăm nom. Đồ vàng bạc, các thứ lụa là,
gạo thơm, gà béo, trứng mới, cá biển tươi… từng tráp, từng
thúng, từng bu đã chật ních cả tủ áo và chạn thức ăn. Vú bõ
trong nhà đã hả hê có số tốt được hầu hạ một cửa “quyền quý”.
Sau này, mỗi lần nhắc tới ngày sinh vui vẻ của tôi, trong cái
giọng nói hổn hển thỉnh thoảng lại ngắt quãng với những tiếng
ho khan của bà nội tôi, tôi thấy có nhiều sự cảm động lắm. Cảm
động vì nhớ tiếc, vì đau xót. Thầy mẹ tôi lấy nhau không phải vì
thương yêu nhau, trái ngược cay đắng đó tôi đã hiểu biết rõ rệt
và thấm thía ngay từ năm tôi lên bảy lên tám, ở vào cái tuổi mà
tính tò mò rất dễ bị kích thích và trí ngây thơ trong suốt đã ghi
giữ một hình ảnh gì, một nỗi niềm nào thì ghi giữ mãi mãi.
Những buổi chiều vàng lặng lẽ, lạnh lẽo của mùa đông, những
buổi chiều mà bụi mưa như có một thứ tiếng van lơn thầm thì
trong hơi gió vu vu, lửa lò than rực rỡ vờn lên chân tường những
áng hồng lấp lánh hay rủ rê tâm trí người ta vào những cõi buồn
nhớ, là những buổi chiều làm tê tái mẹ tôi hơn hết. Tuy mẹ tôi có
tôi ngồi trong lòng cười nô với mấy con búp bê, tuy trước mặt mẹ
tôi có cả một bữa cơm thức ăn tỏa mùi thơm ngon lành trong hơi
cơm tám soan bùi ngọt, tuy mẹ tôi vẫn tươi cười và luôn luôn
thưa gửi dịu dàng với thầy tôi và bà tôi.
Lúc bấy giờ, trong đầu óc mẹ tôi quằn quại những hình ảnh,
những ý nghĩ gì, thầy tôi đoán biết sao được. Vẻ mặt xinh tươi
kia, sự thùy mị kính cẩn kia, sao có thể là của một người đàn bà
mà tâm tư hằng giá buốt vì những phiền muộn, những đau đớn
cay chua nhất, tối tăm nhất? Hay thầy tôi cũng như mẹ tôi cả hai
đều thản nhiên và lặng lẽ để che giấu cả một lòng đau đớn? Có lẽ
đúng! Vì thầy tôi, nếu là một người vô ý thức hay là một kẻ xốc
nổi, chỉ biết có sắc đẹp và sự chiều chuộng của mẹ tôi, thì đã
chẳng yên lặng nhìn tôi, miệng hơi nhếch về một bên, khi tôi níu
lấy tay, lay lay hỏi:
- Cậu ơi! Em Quế con không phải là con cậu mà là con cai H.
phải không?
Cùng lúc nghe câu tôi hỏi ấy, mắt mẹ tôi bỗng sáng lên, gò má
hơi ửng hồng. Mẹ tôi nhìn nhanh thầy tôi rồi hoặc quay mặt
nhìn đi chỗ khác, hoặc cúi xuống thẫn thờ nhìn tôi. Trời! Thốt
lên câu hỏi dại dột trên kia nếu tôi là con một người cha độc ác
hay ghen, phát uất ức, và một người mẹ bỗng hổ thẹn, sợ hãi vì
có kẻ mớm lời cho con mình để phá hoại sự thanh khiết của đời
mình, đời phải chung thủy của một người làm vợ, thì cảnh tình
giữa cha tôi và mẹ tôi lúc bấy giờ sẽ ra sao? Nhưng không! Thầy
mẹ tôi chỉ lặng lẽ nhìn nhau và tôi cũng vẫn được nưng niu vỗ về
trên hai đầu gối mẹ tôi ấm áp.
* * *
Quế, em gái tôi, là con một người khác: cai H, sự ngờ vực trong
đầu óc tôi thoát ra với những câu hỏi trên kia không bao giờ được
trả lời cả. Đem hỏi thầy tôi, thầy tôi yên lặng. Ôm ấp trong lòng
mẹ tôi, được mẹ tôi vuốt ve là tôi nhắc đến câu hỏi ấy. Cũng như
thầy tôi, mẹ tôi không đáp. Nhưng hai con mắt sáng ngời trên
nước da mịn màng như trứng gà bóc ấy khác hẳn cặp mắt sâu tối
của thầy tôi. Và, những lúc ấy, mẹ tôi hay áp má lên lùm tóc tôi,
hai ngón tay nhẹ nhẹ vuốt từng sợi một. Không chịu thắc mắc,
tôi còn hỏi cả hai cô tôi, hai anh họ tôi, bà tôi, và những người
hàng xóm. Cô tôi, hai anh họ tôi không trả lời còn có lý chứ bà
nội tôi và những người ở gần nhà tôi thấy tôi hỏi lắm thì hoặc
làm lơ đi, hoặc gắt lên thì thật vô lý quá chừng. Chính mấy người
này đã gieo cái ý nghĩ vẩn vơ ngờ vực vào tâm trí tôi. Đã một lần
bà tôi vẫy tôi lại, ôm tôi vào lòng xoa đầu nói:
- Ai đẻ mày?
Nhìn những miếng bánh kẹo thơm phức trong giấy bóng xanh
đỏ ở tay bà tôi, tôi nũng nịu đáp:
- Bà đẻ con.
Bà tôi lừ mắt, tát vào má tôi:
- Bố mày, chỉ được cái hóm thôi. Không phải!
- Vậy con là con cậu bà nhỉ?
Bà tôi lườm tôi một cái dài, lại hỏi:
- Cậu làm gì?
- Cậu làm ông xếp đề lao.
Bà tôi, vẫn một giọng ngọt ngào:
- Còn cái Quế là con ai?
Tôi đã hơi cáu vì thèm ăn lắm mà chưa được miếng nào, tôi
ngoẹo đầu ngoẹo cổ, phụng phịu:
- Con không biết!
Bà tôi lại tát nhẹ vào má tôi:
- Láo nào! Bố mày! Nói đi rồi bà cho.
Nhưng tôi dại gì chậm nói để chậm ăn, tôi liền kéo tay bà tôi
cầm bánh thấp xuống tí nữa:
- Em Quế cũng là con cậu.
Tôi đã thất vọng. Bà tôi hừ mạnh một tiếng, đổi nét mặt:
- Không phải!
Tôi gắt lên:
- Chả con cậu là con ai? Không cho con thì thôi!
Dứt lời, tôi gỡ tay bà tôi, chực chạy đi chỗ khác. Bà tôi phải bóc
ngay phong bánh, bẻ cho tôi một nửa rồi cặp chặt tôi vào hai đầu
gối:
- Bà bảo không phải là không phải mà.
Tôi không cắn bánh vội, cau mặt nhìn bà tôi:
- Thế nó không phải là con cậu con, sao nó lại được ăn sữa bò,
lại có vú bế?
Tôi lý luận như thế vì tôi cho rằng được vú em chăm bẵm và
ăn sữa bò là một vinh hạnh, một sự biệt đãi. Tôi có biết đâu rằng
bà tôi chẳng muốn mẹ tôi bận bịu vì em gái tôi, để tôi được độc
quyền hưởng sự nuôi nấng chăm bẵm của mẹ tôi. Bà tôi lại xoa
đầu tôi và cười. Nụ cười làm rung động cặp môi rạn nứt, chảy xệ
ấy, tôi vẫn chẳng thấy gì là vui vẻ.
Và nụ cười vừa tắt, bà tôi lặng ngay nét mặt nói:
- Không phải! Cái Quế nó là con thằng cai H.
Tôi mở to mắt, lay mạnh vai bà tôi:
- Bà nói dối để không cho con nốt chỗ bánh kia. Nó cũng là con
cậu.
Cặp mày lơ phơ trên đôi mắt nâu càng chau lại, nhưng giọng
nói bà tôi lại trở lại nhẹ nhàng, ngọt ngào:
- Không! Bà bảo thật mày đấy, nó không phải là con cậu mày
mà là con thằng…
Bà tôi ngừng lại, đăm đăm nhìn vào mặt tôi:
- Mày có biết thằng cai H. không?
Tôi lắc đầu. Bà tôi nghiêm nét mặt:
- Cái thằng buổi chiều nào cũng dẫn lính sang đề lao và thổi
kèn ấy mà.
Tôi reo lên:
- Thế thì con biết rồi!
Nhưng tôi chẳng cần hiểu biết rõ rệt hơn đứa em gái thật là
con thầy tôi hay là con ai cũng được, thấy bà tôi hớ hênh tôi liền
giật phăng cả gói bánh và mấy chiếc kẹo, chạy tót ra đường… Và
một lần, dưới gốc cây xoan tây, trước một cái bếp bằng những
hòn gạch vỡ và đốt bằng những cành xoan và lá vàng khô, tôi
được ẵm trong lòng một người đàn bà vẫn đong gạo và vay tiền
của mẹ tôi. Trước thì tôi mải chơi với một con mèo nhỏ vờn quấn
dưới chân tôi nên tôi không để ý đến chuyện trò của người đàn
bà ấy với một người đàn bà khác, nhiều tuổi hơn, yếm trắng, thắt
lưng xanh, cũng là vợ một người cai lính khố xanh, và cặp mắt vẻ
mày cũng sắc sảo lắm. Khi con mèo bị tôi nắm đuôi chặt quá
chóe lên một tiếng, cào tôi rồi chạy đi chỗ khác, tôi mới bắt đầu
chú ý nghe. Người đàn bà ôm tôi cười toe toét. Người kia lại còn
lắm miệng hơn. Nhiều lúc cả hai cùng nhìn tôi, mắt ánh hẳn lên
rồi cười rũ rượi. Tôi không ngạc nhiên lâu mà liền căm tức. Cái
căm tức dội lên nghẹn ngào. Nhưng tôi phải yên lặng. Không biết
một sức mạnh gì đã giữ riết lấy tôi không cho tôi chồm lên,
không cho tôi văng vào mặt họ mà đấm đá mà chửi rủa. Hai
người đàn bà này chê bai bới móc mọi người hàng xóm chán rồi
lại quay về chuyện nhà tôi. Nào thầy tôi nghiệt ngã, thâm hiểm
lắm. Trái lại, mẹ tôi vừa trai lơ, vừa dễ dãi, và gần như đần độn
nữa ấy, chẳng biết gì cả. Còn bà tôi thì đủ các tính ác, tính xấu,
những cái ác, cái xấu của những người đàn bà từ thuở lọt lòng đã
phải sống với những thành kiến, những lề thói tối tăm cay
nghiệt, rồi phải coi học thức như là một sự quái gở, tự do như là
tội lỗi, và thích thú sự áp chế, hành hạ nếu mình được dịp và có
quyền áp chế, hành hạ kẻ khác. Sau cùng, giọng nói của người
đàn bà nhiều tuổi có cặp mắt sắc sảo bỗng nhỏ đi. Y trỏ một
người trắng trẻo, không phải bồng súng, đương chắp tay sau
lưng đi lại ở cổng đề lao, thì thầm với người đàn bà ôm tôi bỏm
bẻm nhai trầu:
- Con bé em thằng này là con hắn ta đấy!
* * *
Buổi chiều nào cũng vậy, dù nắng nực hay mưa rét, tốp lính
khố xanh ấy cũng phải đi qua nhà tôi. Vừa đúng hai chục người:
mùa hạ, quần áo vải vàng, mùa đông, quần áo dạ tím. Họ đi chân
không, quấn xà cạp, đội nón chóp đồng. Ba người hàng đầu đeo ở
cánh tay áo một chiếc lon màu hoa lý to hơn chiếc đũa. Cùng
hàng với ba người này, ở bên trái, cách chừng một bước là một
người tầm thước, gương mặt trắng hồng, mắt sáng, sống mũi hơi
cao, hai hàm răng trắng phau. Y ăn vận gọn ghẽ hơn cả. Tay y
đeo hai lon vàng đính thêm một đường chỉ đỏ thêu to. Chân y đi
giày vải đen, bít tất bao giờ cũng trắng như mới. Không phải
bồng súng, y ung dung cầm một chiếc kèn đồng có tua đỏ mỗi
lần hoa nhanh lên lại tỏa ra một làn ánh sáng vàng diệp dưới ánh
nắng rực rỡ của chiều hè.
Cứ khi nào tốp lính đến gần nhà tôi ở xế cổng đề lao thì tiếng
kèn vang lên, vui vẻ quá, hùng tráng quá. át cả tiếng vỏ lưỡi lê
đập phanh phách vào đùi và những bước chân xoàn xoạt, tiếng
kèn mỗi giây một dướn cao, một vang to, rung động cả làn không
khí êm ả của một góc trời. Rồi nương tiếng gió lao xao trong
những chòm cây phấp phới, âm thanh nao nức, dồn dập của
tiếng kèn càng cuốn lên cao, tràn ra xa, rất xa, đến những vùng
xa sáng tươi nào đó. Càng về sau tiếng kèn càng niềm nở, ân cần
như những lời thúc giục thống thiết rồi đổ hồi trong giây khắc
đoạn im bặt. Một lúc lâu sau, một tốp lính khác ở cổng đề lao đi
ra, vẫn người thổi kèn ấy. Lần này tiếng kèn nhanh hơn trước,
nhịp với bước chân vội của tốp người nhọc mệt và đói ngấu
mong ngóng sự nghỉ ngơi, no say… Hay bước đi, bước đi, như làn
lá nhỏ bay theo gió… Tiếng kèn vồn vã vẫn rõ ràng, trong sáng,
và bầu trời mở rộng vẫn rung vang. Sau tốp lính, một lũ đàn bà,
trẻ con long tong chạy theo, trên lưng, những đứa bé ngổm lên
ngổm xuống như cưỡi ngựa. Quá nhà tôi một quãng ngắn, tiếng
kèn lại dần dần dướn cao lên. Đến khi tốp lính và lũ đàn bà trẻ
con bị những lớp găng dày của một góc vườn um tùm và một
hàng cây che khuất thì tiếng kèn tắt hẳn. Gió chiều bỗng rít dài
lên, nền mây rung mạnh, khi âm vang của tiếng kèn không còn
một gợn sóng. Đương nắm tay tôi, tự nhiên mẹ tôi buông mạnh
ra bước xô xuống thềm gạch, ra đường. Tôi ngạc nhiên, níu chặt
lấy vạt áo mẹ tôi, cuống quýt:
- Mợ ơi! Chờ con với. Mợ ơi!…
* * *
Bao nhiêu buổi chiều như thế? Đã mấy năm chiều như thế?
Tôi không thể ghi rõ là bao nhiêu mà chỉ nhớ rằng mẹ tôi đã
không biết bao nhiêu lần dắt tôi ra sân trước, đón những tốp lính
kia đi qua với tiếng kèn rộn rã tưng bừng để rồi một lúc lâu sau
chậm chạp dắt tôi trở vào. Mẹ tôi đã đứng trong tươi sáng và ấm
áp ở ngoài trời hay trong gió lạnh, mưa bay ở dưới mái hiên, và,
bao nhiêu buổi chiều êm ả đã qua, óc non nớt của tôi ghi làm sao
được không lầm, không sót những con số nhất định? Nhưng
trong hồn tôi thì mãi mãi rõ ràng thắm nét hình ảnh những con
mắt của mẹ tôi sáng lên nhìn người thổi kèn và hai gò má mẹ tôi
ửng hồng khi gặp cặp mắt long lanh của người đàn ông nọ chiếu
tới. Và cho tới ngày trọn đời, tôi không thể nào quên được cái
cảm giác là lạ do một bàn tay nhỏ nhắn run run bỗng từ đầu tuột
xuống vai tôi, và một màng lành lạnh mong manh vương qua
một cặp mắt lờ đờ nhìn vào mắt tôi chợt làm ngực tôi lạnh dợi
đi… Rồi đến một giọng van lơn khi tôi níu lấy áo mẹ tôi kéo vào
nhà lúc không còn bóng dáng và tiếng kèn của tốp lính nữa.
- Đừng quấn mãi lấy chân mợ mà!… Thôi!… Con đi trước đi
mợ xin theo con…
Rồi một buổi chiều, tôi cũng không thể nhớ rõ là một buổi
chiều rực rỡ hay âm u, mẹ tôi không dắt tôi ra sân nữa. Và từ
buổi ấy trở đi, chỉ có mình tôi lon ton chạy ra đón xem tốp lính đi
qua với một người thổi kèn khác. Lắm lúc thấy tiếng kèn vui quá
tôi chạy vào nhà, nắm tay mẹ tôi, hết sức kéo dậy. Nhưng mẹ tôi
hoặc gỡ tay tôi ra rồi quay mặt vào tường hoặc tiện thể kéo ngả
người tôi vào lòng mà ôm lấy tôi. Bên tai tôi, tiếng ngực mẹ tôi
đập mạnh lạ thường, và từ mảng ngực phập phồng nóng ran lên
đó truyền sang da thịt tôi những cảm giác ấm áp giữ tôi lại rất
lâu trong cánh tay mẹ tôi. Lúc bấy giờ mắt tôi như mờ đi vì hơi
thở nóng sực của mẹ tôi và tôi càng bâng khuâng trong đôi mắt
thẫn thờ như muốn khóc của mẹ tôi.
* * *
Em Quế chính là con “cậu” tôi. Anh họ tôi, các cô tôi, cả bà tôi
và những người hàng xóm dần dần bảo tôi như thế sau ngày
người cai kèn kia đổi đi nơi khác không biết là đóng ở đâu và mẹ
tôi càng kính cẩn hầu hạ bà tôi, càng chiều chuộng thầy tôi và
chăm nom anh em tôi. Nhưng cũng từ ngày ấy tôi càng ít thấy
hai thân tôi trò chuyện vui vẻ với nhau trừ khi ở trước mặt bà tôi
hay những người nào thân thiết nhất. Tới năm em gái tôi khôn
lớn cũng thế, thầy mẹ tôi không bao giờ nhìn thẳng vào nhau mà
hỏi gọi nhau, cười nói với nhau. Trong con mắt, giọng nói và nụ
cười của hai thân tôi bao giờ cũng đượm vẻ trầm lặng, chua chát,
hờn tủi. Sự đau đớn âm thầm ấy theo dõi mãi mãi thầy tôi và mẹ
tôi với cái kỷ niệm sâu sa của mấy đêm kia - tôi tin chắc chỉ mấy
đêm thôi - hai con người đã phải gắng gượng ăn nằm với nhau,
và để khỏi tủi lòng hai đứa con có phúc lọt vào một cửa giàu có
và hiếm hoi, hai người càng cố phải gần gũi nhau trong một sự
êm ấm giả dối vô cùng.
II
Chúa thương xót chúng con
N
hà đã bán mất rồi. Cái nhà gạch hai tầng ở phố Hàng Cau
của bà tôi cố dành dụm bao nhiêu năm và vay mượn bao
nhiêu nơi mới xây được để làm từ đường. Năm ấy là năm 1927,
tôi nhớ rõ như thế, đồng tiền buôn bán còn kiếm được nên nhà
tôi mới bán được giá cao đến thế: một nghìn chín trăm đồng. Và
cũng vì ở giữa phố sầm uất, có nhà cầm đồ, có hiệu khách xuất
cảng và nhập cảng gạo, có nhiều hàng cơm đông người ăn nhất,
nếu không nhà tôi sẽ bị dìm giá, chầy chật mới bán được. Bởi nhà
đất vừa hẹp, đằng sau không có, cầu rửa và bể nước ở ngay trong
nhà, lan can lại bằng gỗ, và chủ nó đương cuống vó, mất ăn mất
ngủ vì các món nợ ghê gớm, văn tự viết cầm nhà thì đã đến hạn
đoạn mại. ông tôi mất sớm, năm thầy tôi chưa lấy mẹ tôi. Bà tôi
cũng sinh nở mười tám bận. Nhưng các cô, các chú tôi đều chết
dần chết mòn gần hết, kẻ ngay khi lọt lòng mẹ, kẻ mới bập bẹ nói,
kẻ còn trần truồng chạy nhông ngoài đường. Trong sự nuôi nấng
cẩu thả và mê muội của một người mẹ luộm thuộm suốt ngày
đầu tắt mặt tối, đàn con đông hơn đàn vịt kia sống sót ba người:
thầy tôi và một người chị gái thầy tôi, một người em thầy tôi.
Công việc mua bán chỉ đi lại trong có nửa tháng là nhà tôi đã về
chủ khác.
Tuy vậy, trước ngày mà hai cô tôi ký tên vào giấy bán nhà
cùng với bà tôi ở tòa án rồi nhận trước viên lục sự mỗi người một
trăm rưởi đồng, gia đình tôi cũng chẳng ổn thỏa nào. Thầy tôi
cười một tiếng nói với bà tôi:
- Hai con ấy chính là hai con quỷ. Chúng nó là con gái may
sinh vào cái buổi tây tàu này, tôi đã phải cho mỗi đứa một trăm
bạc, hỏi còn bất công gì mà chúng nó oẻ họe dọa không ký.
Chúng nó mà cao kỳ quá thì tôi để toàn quyền cho tòa án.
Bà tôi chỉ chép miệng:
- Đấy tùy anh, anh muốn làm thế nào cho tôi nhờ thì làm. Hai
con kia nó đã được nhờ chồng, thằng làm thông phán, đứa cửa
hàng đồ gỗ tiền nghìn, chúng nó cần gì hai trăm bạc của anh chia
cho chúng nó một cách xử đối khinh rẻ như thế. Muốn cho
chúng nó ký nhận tiền, anh phải nói năng với chúng nó ra nhời
ra nhẽ, chúng nó đã vậy, nhưng còn chồng chúng nó. Thôi tôi
xin anh, anh đừng cậy mình là ông trưởng, mà giở trò nhờ quan
tòa, nhờ thầy kiện. Tôi bảo thật chỉ đục nước béo cò, chia năm sẻ
bẩy, rồi cái nhà này đến mất không thôi.
Nghe bà tôi nói, thầy tôi càng tím mặt lại.
- Anh sức dài vai rộng, anh thông thạo chữ nghĩa, anh thừa
sức làm công nọ việc kia để kiếm miếng đổ vào miệng anh, vợ
anh, con anh. Chứ tôi đây đã ngoài bảy mươi tuổi đầu, mấy năm
trước Chúa cho còn mạnh chân khỏe tay, còn buôn bán, còn làm
cái hàng cái họ được, nhưng từ nay trở đi thì còn làm gì nảy ra
tiền nữa. ăn uống, thuốc thang, đóng góp hội hè giỗ tết, một
năm, hai năm nếu Chúa còn để tôi sống được ngày nào nữa, và
ma chay sau này, nếu không được nhờ cậy các anh các chị thì
thôi. Thiệt một xu tôi khổ vì một xu, thiệt một đồng tôi đứt ruột
vì một đồng, thiệt hàng chục hàng trăm thì anh cứ cầm dao thí
ngay cho tôi một nhát còn hơn.
Bà tôi nức lên rồi ôm mặt khóc:
- Anh làm khổ tôi vừa vừa chứ! Anh ỷ mình vừa vừa chứ!
Đương nhiên anh bỏ việc nhà nước. Đương nhiên anh vác bàn
đèn về nhà, hút ngày hút đêm… Rồi bỗng dưng anh đem văn tự
địa đồ đi cầm lấy hàng năm bảy trăm bạc, chịu lãi mười phân để
về Sài gòn, Sài chéo, cậy cục hàng trăm bạc để lấy sổ đi làm tàu
tây tàu Nhật, tưởng nên vương tướng gì hay đâu không việc
hoàn không việc, nghiện ngập hoàn nghiện ngập.
Tiếng khóc càng to, và từ trong hai hốc mắt tối những giọt
nước mắt tràn ra lai láng trên gò má hóp răn reo, như một đập
nước đương khô cạn bỗng đầy ứ đến vỡ lở. Vừa khóc bà tôi vừa
réo tên tục của ông tôi và thầy tôi mà kể lể oán trách. Một đời tối
tăm của người đàn bà thường dân, nhanh chóng nhưng thấm
thía và rõ rệt, đã kêu lên bằng cái giọng khàn khàn rền rĩ của bà
tôi. Ngay khi lọt lòng mẹ, người đàn bà ấy đã phải chịu ngay cái
cảnh bất công trong sự chăm nuôi cùng các anh trai, em trai, lớn
lên một chút choáng váng u mê vì sự dạy bảo sai khiến của ông
bà, cha mẹ và họ hàng… mười bảy mười tám tuổi đã thành một
người con gái cằn cỗi, lúc nào cũng khép nép, lo sợ, rồi thì về nhà
chồng với một lòng nhẫn nhục ngày càng dạn dày, một tính
khiếp phục ngày càng mạnh mẽ…
Hàng ba bốn mươi năm sau thời kỳ làm dâu con, bước lên địa
vị làm mẹ rồi làm bà. Tuổi già kém sút đến. Nhưng rồi ra, cũng
được hơi yên ổn, vui sướng. Sự sống thảnh thơi và già cỗi ấy ở
giữa những sự sống mê muội tối tăm khác của những lớp con
cháu cứ thế kéo dài cho đến phút cuối cùng. Người đàn bà ấy
chết. Chết bên một cỗ áo quan thật tốt đóng sẵn từ mươi năm
trước để một góc buồng, bên một đống quần áo lành lạnh thơm
tho giữ y nguyên những nếp là từ thuở mới bước chân về nhà
chồng… chết trong những tiếng khóc rền rĩ của con gái, con dâu,
chị em xa gần mượn dịp này để đay nghiến lẫn nhau, khóc mà
tưởng như hát lên những khổ cực đau tủi mình đã phải chịu.
Thầy tôi đã lạnh lùng đứng dậy, đi vào nhà trong mặc bà tôi
ngồi kể lể. Tôi nhìn nét mặt thầy tôi, thấy sao mà dữ, mà sợ. Chờ
thầy tôi khuất hẳn, tôi vội trèo lên giường bà tôi, lay vai bà tôi,
rơm rớm nước mắt nói:
- Bà! Bà đừng khóc nữa. Cậu bán nhà này của bà đi rồi làm nhà
khác mà.
Một giọng mếu máo đáp:
- Có làm thêm mấy cái bàn đèn nữa đấy! Bố mẹ mày giết tao…
Hồng ơi!..
Tôi càng lay mạnh vai bà tôi:
- Cậu con không làm được thì lớn lên con đi học con làm cho
bà. Bà nín đi…
Bà tôi ngước mắt lên, hai bàn tay chỉ còn xương bọc da khô
róc, hất nhanh mớ tóc điểm bạc ra đằng sau. Những giọt nước
mắt đổ dồn về hai thái dương, ròng ròng rớt xuống gáy. Một
tháng sau, hết hạn ở lưu, nhà tôi phải dọn đi nơi khác. Hôm đó
hai mươi ba hay hai mươi bốn tháng chạp. Một buổi sáng lạnh
lẽo tuy khô ráo. Suốt hai dãy phố trừ mấy hàng cau và hiệu cầm
đồ là tấp nập còn nhà nào cũng quét rửa xong, bàn thờ hoa cúc,
cành đào, chân nến đỉnh đồng bày biện đâu đấy, và bắt đầu cửa
đóng, dán giấy hồng điều và tranh rồi. Những năm xưa thái bình
ăn tết sớm lắm!
* * *
Một sáng sớm tôi bỗng thức giấc thì thấy lạnh và chân tay nhẹ
bẫng đi. Tôi bò nhổm dậy, dụi mắt trông: màn đã vắt, chiếc chăn
bông cuộn lệch lạc đùn về một góc giường, thầy tôi khi ngủ bao
giờ cũng phải cho tôi gác và ủ tay vào nách không thấy nằm bên
nữa.
- Cậu ơi! Cậu ơi!
Tiếng kêu gọi của tôi đã thành tiếng hét làm rát cả cổ. Bà tôi và
mẹ tôi tung màn chạy theo tôi ra vườn. Cả con bé em tôi nữa.
- Làm sao thế? Làm sao thế?
Tôi mếu máo nhìn bà tôi:
- Cậu con đi đâu rồi?
Bà tôi quát:
- Cậu mày đi sau chứ đi đâu mà phải khóc?
Tôi liền chạy vào đạp tung cửa nhà xí.
- Bà ơi! Đâu nào?
Bà tôi nắm tay tôi lôi sềnh sệch vào nhà:
- Hay cậu mày đi mua thuốc?
Tôi lại vội chạy vào buồng. Không thấy cái bàn đèn để trên
mặt bàn kê ở cuối giường và tìm đâu cũng không ra, tôi nức nở:
- Mất bàn đèn rồi!
Nhận ra chỗ thầy tôi nằm không bao giờ xếp dọn sớm như thế
và quần áo vắt trên màn không còn cái nào lành, bà tôi hốt
hoảng hỏi mẹ tôi:
- Mẹ mày có biết bố nó đâu không?
Mẹ tôi nhìn bà tôi, không đáp! Bà tôi càng cuống quít:
- Lạ thật! Lạ thật!…
Bữa trưa hôm ấy cơm và thức ăn nuốt vào thấy khô đắng quá!
Nước canh thịt hòa với nước mắt tôi. Thấy tôi khóc nhiều quá và
dỗ mãi cũng không nín, bà tôi cũng khóc theo:
- Mợ Vui - gọi theo tên tục thầy tôi - thằng Vui nó vào nhà
chung lấy cả năm trăm bạc của tao gửi cha xứ rồi. Cha xứ hỏi nó,
nó bảo lấy tiền để làm vốn sang Lào buôn bán. Vậy mợ mày bây
giờ nghĩ sao?
Mẹ tôi vẫn yên lặng. Một hồi lâu, mẹ tôi mới cúi đầu đáp:
- Thưa mẹ, con chẳng biết nghĩ sao cả.
Bà tôi “hừ” một cái thật dài rồi đổi giọng:
- Mợ mày nói lạ! Trước khi đi cũng phải dặn dò mợ điều gì chứ?
Mẹ tôi quay nhìn cái gian buồng lúc nào cũng mờ tối giường
quanh năm màn chỉ vén lên, trong đó thầy tôi hết nằm lại ngồi,
hút chán lại ngủ, không bao giờ đi chơi đâu và chẳng bao giờ hỏi
đến mẹ tôi. Mẹ tôi nhẹ thở dài. Hai mắt mẹ tôi vẫn lờ đờ mệt mỏi
như giọng nói:
- Thưa mẹ không! Cậu nó đi là đi, có dặn gì con đâu.
* * *
Mùa thu ngắn quá, tiếp ngay đến mùa đông dài và buồn. Mùa
đông năm ấy mưa phùn liên miên như không bao giờ hết trong
cái lạnh lẽo tê buốt của những luồng gió lộng. Người ta như đặc
cả phổi dưới làn không khí ướt át của vòm trời thấp tối. Nhà tôi ở
chung với nhà bán hàng sũ. Trong nhà, trừ gian bày bàn thờ, còn
đâu đâu cũng xếp đầy gỗ phiến, gỗ tấm, gỗ bắp và các thứ săng
ván. Quanh năm, mùi gỗ vàng tâm và gỗ dẻ thơm nức không khí.
Những ngày mưa gió, khách mua hàng ắng, chủ nhà và thợ đều
rỗi. Trưa đến, thợ mộc và thợ xẻ đều chui vào những chỗ trống ở
hai chồng ván, kéo những giấc ngủ kỳ no chán. Về những ngày
vắng lặng đó, đi học về, ăn cơm xong, mở sách ra học, tôi thấy
tâm trí vơ vẩn như muốn bay đi những đâu đâu, mặc dầu ở trong
lớp tôi đã lơ đãng nhiều rồi. Nhất là những giờ tập đọc và làm
tính, tôi chẳng để ý nghe nghĩa lấy một phút. Một tay khoanh lên
bàn để che, một tay tôi vân vê hai mảnh vỏ lạc tây đã tỉa hết
nhân và cọ sát rất nhẵn của thầy tôi bỏ lại. Tôi và em gái tôi gọi là
hai mảnh gỗ rùa. Tôi còn đặt thêm cho cái tên là “rùa thần” vì
đêm ngày chầu chực ở hai bên ngọn đèn dầu lạc của thầy tôi. Trí
tưởng tượng non nớt của tôi đã dàn xếp ra những cảnh rất kỳ dị
trong những giờ yên lặng nhất của buổi học chiều.
Mặt bàn gỗ lim nhẵn bóng là tầng mây xán lạn, mênh mông
trên đó là hai “rùa thần vỏ lạc tây” kia bơi theo chiều gió. Ngón
tay giữa và ngón tay trỏ của tôi đặt lên hai vị tiên đồng: tôi và em
gái tôi, cưỡi linh quá bay trên tầng không, hai tiên đồng kia đã
bao nhiêu năm tháng tìm kiếm các phương trời một người cha
thân yêu bỗng dưng lìa bỏ hai con mà không bảo cho chúng tôi
biết chỗ mình ở, ngày mình về. Rồi càng bay xa, càng bay lâu, chỉ
càng thấy ruộng nương, sông hồ, rừng núi và biển cả mịt
mùng…
Nhưng ở nhà trường, giữa những vui chơi của các bạn nhỏ, tôi
không thấy sự buồn nhớ thấm thía quá mỗi khi chợt nhớ đến
thầy tôi. Về đến nhà, ngồi trên cái giường mọi khi có ngọn đèn
vàng ngà ngà im lặng trong cái chụp trong suốt luôn luôn vương
vấn làn khói mong manh thơm phức, người tôi càng nao nao cồn
cào như sau mấy bữa chỉ ăn có cháo loãng. Những ngày mưa,
từng giọt nước lạnh từ ống máng rơi xuống chiếc thau đồng đã
thấm từng chút khí lạnh vào lòng tôi; từng tiếng kêu chiêm
chiếp của con sẻ lẻ loi rũ lông trên mái ngói đã quyện đi từng hơi
êm ấm của hồn tôi. Và những ngày nắng, mây trời xanh bát ngát,
mái ngói xanh rêu, tường vôi trắng xóa vẫn cứ vương qua mắt tôi
một màng mong manh lạnh lạnh. Tôi buồn ngủ lắm rồi! Không
sao học bài được nữa. Vì mỗi câu đọc xong, tôi chưa ôn lại thì
những chữ muốn gợi ra trong trí tưởng đã biến đi đâu hết. Não
cân tôi tê dại vì nhớ thương đã trở thành như bằng chất sắt,
không thể ghi nhớ các bài học dù chỉ rất ngắn, rất dễ học kia.
Ngồi xếp bằng giữa giường trên đệm bông có lò than tàu đỏ
rực, bà tôi im lặng trước cây thánh giá bằng đồng treo giữa hai
chậu huệ trắng và hai chân nến sơn son thếp vàng. Không có
những tiếng lâm râm như tiếng nói của một người gần hấp hối
ấy, không có những đầu ngón tay khô róc lẩy bẩy lần chuỗi tràng
hạt ấy, bà tôi sẽ thành một pho tượng mà tất cả cái tinh thần
chuyên chế và sức đè nén tối tăm của các thành kiến hiện cả lên
trên cái gương mặt hốc hác nhăn nheo và trong hai quầng mắt
sâu thẳm.
- Chúa tha tội chúng tôi!
- Chúa thương xót chúng tôi!
Lời van xin càng rền rĩ.
- Chúa nhận lời chúng tôi!
- Chúa phá mọi sự dữ, ban mọi sự lành cho chúng tôi!!!
Bao nhiêu tia sáng trong cặp mắt bao lâu nay không còn ánh
một vẻ vui sướng gì của bà tôi dần tắt đi…
Bà tôi nhìn Chúa Giê-su rầu rĩ mệt lả dang hai cánh tay rỉ máu
trên cây thánh giá hồi lâu rồi từ từ cúi xuống hôn mẫu ảnh nhỏ,
tròn bằng bạc ở tràng hạt. Tiếng nói lào thào càng run run:
- Chúa tha tội chúng tôi! Chúa thương xót chúng tôi!
- Chúa phá mọi sự dữ, ban mọi sự lành cho chúng tôi!
Nhiều lần nữa bà tôi rền rĩ nhắc lại mấy câu trên kia mà từ khi
tôi bắt đầu nói sõi bà tôi bắt tôi đọc đi đọc lại không biết bao
nhiêu vạn lần.
III
Trụy lạc
T
rừ chiếc tủ chè bằng gỗ gụ, tuy không đẹp nhưng chắc
chắn, nhà tôi không còn một đồ đạc gì đáng tiền nữa. Tủ áo,
trường kỷ, án thư, sập sơn lần lượt bán đi. Cả những đồ đồng và
đồ sứ: chậu, mâm, độc bình, bát đĩa. Sự túng bấn còn cướp nốt
một đồ vật quý nhất của nhà tôi: cái đồng hồ quả lắc. Tôi không
rõ trước ngày đẻ tôi bao nhiêu năm, nhà tôi đã sắm cái đồng hồ
treo ấy. Chỉ biết hộp gỗ đã đen bóng, mặt sơn trắng trở nên vàng
khè, lắm nét chữ mất đi cụt ngủn, quả lắc dù lau chùi và đánh
thuốc thế nào cũng chỉ khỏi xám xám.
Người anh họ tôi đã nhiều lần vác nó đi chữa, nhưng giờ giấc
chỉ đều được vài tuần, rồi ngày một chậm, sau cùng máy lại liệt,
tuy các chốt, các đanh ốc và bánh xe vẫn nhẫy dầu. Đáng lẽ cái
đồng hồ ấy bán đi từ bao giờ. Chỉ vì mỗi lần người mua đến, bà
tôi lại chép miệng thở dài, thấy thế thầy tôi lại phải thôi. Đôi mắt
nâu của bà tôi lờ đờ nhìn cái đồng hồ treo ở đầu giường mình cái đồ vật mà khi ông tôi còn sống sau những trận cờ bạc thua
tháy và say rượu trở về đánh chửi bà tôi cũng đã mấy lần đem đi
cầm, bán ấy, - tỏ rằng lúc bấy giờ cõi lòng già lại đã thắt lại thêm
vì nhiều nỗi cơ cực. Cả tôi cũng phải buồn rầu.
Tôi không biết chép miệng, tôi không biết thở dài, không có
những giọt nước long lanh khóe mắt, nhưng vẻ mặt ngơ ngác
của tôi đủ chứng tỏ rằng tôi cũng cùng một cảm tưởng với bà tôi.
Lần nào cũng vậy khi người mua đến khuân đồ đi, tôi lại thần
người ra hồi lâu, rồi vẩn vơ tìm một vật gì để thay vào. Và khi tôi
đã ghen cuồng lên chỉ muốn cướp lấy, muốn đập phá, khi thấy
các đồ đạc nọ được người mua mang về lau chùi bóng bẩy trông
như mới. Theo liền với sự nghiện ngập mỗi ngày một nặng và sự
ốm yếu rũ rượi của thầy tôi, sự buôn bán của mẹ tôi cũng mỗi
ngày một kém mãi. Trên những vòng kê ở chợ, không còn những
thúng táo tây khoe màu đỏ thắm hay vàng tươi, những rổ đào
Vân Nam rực rỡ trong màu hoàng yến và lá trắc bách diệp xanh
đậm, những lồng cam Hoa Kỳ mọng nước óng ả, những bắp cải
nõn nà, và những mớ cà rốt, đậu Hòa Lan, cần, hẹ tươi ngon bày
từng đống cao chấm bụng…
Hoa tai và nhẫn vàng, mẹ tôi tháo bán đi lúc nào không rõ. Cái
thúng thanh con trước kia, hễ tan chợ là đầy xu hào, nay chỉ
hàng ngày loáng thoáng mấy đồng hào con và tiền trinh. Lắm
bận, chờ mẹ tôi quay đi chỗ khác, tôi lẻn đến, khẽ nhấc vỉ buồm
lên, định ăn cắp tiền để đi đánh đáo và ăn quà thì chỉ thấy thúng
không. Bao nhiêu năm qua, nhưng tôi không thể quên được
những buổi chiều hè ấy. Hơn ba giờ chợ vẫn còn nhiều hàng
đông người mua bán, mẹ tôi đã cắp thúng lủi thủi về. Trên bờ đê,
dưới những chòm xoan tây lấp loáng hoa đỏ, mẹ tôi mặt rầu rầu,
đầu hơi cúi, mắt nhìn như không thấy gì, đi rất chậm. Qua
những lớp người dồn dập, huyên...
 





