BẢN TIN HÔM NAY

Sách như một cánh cổng diệu kỳ đưa ta đến những chân trời của lý tưởng, khát vọng và bình yên. Cuộc đời ta thay đổi theo hai cách: Qua những người ta gặp và qua những cuốn sách ta đọc. Đọc sách là nếp sống, là một nét đẹp văn hóa và là nguồn sống bất diệt. Việc đọc cũng giống như việc học. Có đọc, có học thì mới có nhân. Thói quen đọc sách chỉ được hình thành và duy trì khi chữ tâm và sách hòa quện làm một. Người đọc sách là người biết yêu thương bản thân mình và là người biết trân trọng cuộc sống. Việc đọc một cuốn sách có đem lại cho bạn lợi ích hay không, phụ thuộc vào thái độ và tâm thế của bạn khi đọc.

NƠI ẤY LÀ TÌNH YÊU

VIDEO GIỚI THIỆU SÁCH CỦA THƯ VIỆN

Thống kê

  • truy cập   (chi tiết)
    trong hôm nay
  • lượt xem
    trong hôm nay
  • thành viên
  • Thành viên trực tuyến

    2 khách và 0 thành viên

    CHÂM NGÔN HAY

    Những gì sách dạy chúng ta cũng giống như lửa. Chúng ta lấy nó từ nhà hàng xóm, thắp nó trong nhà ra, đem nó truyền cho người khác và nó trở thành tài sản của tất cả mọi người. - Voltaire Đọc sách có thể không giàu, nhưng không đọc, chắc chắn nghèo! Một cuốn sách hay thực sự hay dạy tôi nhiều điều hơn là đọc nó, Tôi phải nhanh chóng đặt nó xuống, bắt đầu sống theo những điều nó chỉ dẫn. Điều tôi bắt đầu bằng cách đọc, tôi phải kết thúc bằng hành động - Henry David Thoreau Đằng sau thành công của một con người không thể thiếu một cuốn sách gối đầu. Sách là kho báu tri thức của cả nhân loại, là kết tinh trí tuệ qua bao thế hệ con người. Một cuốn sách hay chính là chìa khóa quan trọng để mỗi con người có thể chinh phục mọi khó khăn và chạm đến thành công. Để cho con một hòm vàng không bằng dạy cho con một quyển sách hay. Lựa sách mà đọc cũng như lựa bạn mà chơi. Hãy coi chừng bạn giả.

    Ảnh ngẫu nhiên

    Anh_phong_thu_vien.jpg Toan5KetnoiBai1OntapsotunhienTiet1trang6.jpg Toan5KetnoiBai9LuyentapchungTiet2Trang30.jpg Toan5KetnoiBai9LuyentapchungTiet3Trang31.jpg IMG20240223151732.jpg IMG20240103091955.jpg IMG20240223144040.jpg IMG20240223140316.jpg Xep_sach_nghe_thuat_bac_giap.jpg 9ad2f57a8ea52ffb76b4.jpg 3f5be303b0dc118248cd.jpg 0145e51db6c2179c4ed3.jpg 3f5be303b0dc118248cd.jpg IMG20231129152201.jpg Bo_tri_sap_xep_sach_trong_TV_3.jpg Doc_sach_trong_thu_vien.flv Phong_thu_vien.flv Co_so_vat_chat_trong_thu_vien_4.jpg Co_so_vat_chat_trong_thu_vien_1.jpg Co_so_vat_chat_trong_thu_vien_2.jpg

    SÁCH ĐIỆN TỬ SGK, SGV

    HÌNH ẢNH TIÊU BIỂU

    Day la tieu de

    Day la dau de

    Phan noi dung cua tai lieu ...

    Thư viện là kho tàng tri thức của nhân loại

    Ý NGHĨA CỦA VIỆC ĐỌC SÁCH

    nGUYÊN TẮC TRÌNH TỰ PL

    Wait
    • Begin_button
    • Prev_button
    • Play_button
    • Stop_button
    • Next_button
    • End_button
    • 0 / 0
    • Loading_status
    Nhấn vào đây để tải về
    Báo tài liệu có sai sót
    Nhắn tin cho tác giả
    (Tài liệu chưa được thẩm định)
    Nguồn:
    Người gửi: Hoàng Thị Tuyết Trinh (trang riêng)
    Ngày gửi: 15h:22' 04-05-2024
    Dung lượng: 9.2 MB
    Số lượt tải: 9
    Số lượt thích: 0 người
    Chịu trách nhiệm xuất bản
    GIÁM ĐỐC - TỔNG BIÊN TẬP
    PGS.TS. PHẠM MINH TUẤN
    Chịu trách nhiệm nội dung
    ỦY VIÊN HỘI ĐỒNG BIÊN TẬP - XUẤT BẢN
    TS. VÕ VĂN BÉ

    Biên tập nội dung: ThS. VĂN THỊ THANH HƯƠNG
    ThS. NGUYỄN THỊ HẢI BÌNH
    ThS. TRẦN KHÁNH LY
    ThS. NGUYỄN VIỆT HÀ
    Trình bày bìa:

    NGUYỄN VIỆT THẮNG

    Chế bản vi tính:

    NGUYỄN THỊ VÂN HÀ

    Đọc sách mẫu:

    TRẦN KHÁNH LY
    BÙI BỘI THU

    _______________________________________________
    Số đăng ký kế hoạch xuất bản: 2650-2022/CXBIPH/30-106/CTQG.
    Số quyết định xuất bản: 1560-QĐ/NXBCTQG, ngày 09/8/2022.
    Nộp lưu chiểu: tháng 8 năm 2022.
    Mã ISBN: 978-604-57-7958-3.

    TẬP THỂ TÁC GIẢ
    PGS.TS. NGUYỄN HOÀNG ANH

    Khoa Luật, Đại học Quốc gia Hà Nội

    GS.TS. NGUYỄN ĐĂNG DUNG

    Khoa Luật, Đại học Quốc gia Hà Nội

    TS. BÙI TIẾN ĐẠT

    Khoa Luật, Đại học Quốc gia Hà Nội

    PGS.TS. BÙI XUÂN ĐỨC

    Khoa Luật, Trường Đại học Đại Nam

    PGS.TS. VŨ CÔNG GIAO

    Khoa Luật, Đại học Quốc gia Hà Nội

    TS. ĐINH THẾ HƯNG

    Viện Nhà nước và Pháp luật, Viện Hàn
    lâm Khoa học xã hội Việt Nam

    TS. NGUYỄN VĂN QUÂN

    Khoa Luật, Đại học Quốc gia Hà Nội

    TS. NGUYỄN MINH TÂM

    Khoa Luật, Đại học Quốc gia Hà Nội

    GS.TS. PHẠM HỒNG THÁI

    Khoa Luật, Đại học Quốc gia Hà Nội

    TS. NGUYỄN BÍCH THẢO

    Khoa Luật, Đại học Quốc gia Hà Nội

    TS. MAI VĂN THẮNG

    Khoa Luật, Đại học Quốc gia Hà Nội

    PGS.TS. ĐẶNG MINH TUẤN

    Khoa Luật, Đại học Quốc gia Hà Nội

    PGS.TS. NGUYỄN MINH TUẤN Khoa Luật, Đại học Quốc gia Hà Nội
    TS. TRẦN ANH TÚ

    Khoa Luật, Đại học Quốc gia Hà Nội

    ThS. NINH VIẾT TÙNG

    Tòa án nhân dân thành phố Hòa Bình,
    tỉnh Hòa Bình

    5

    LỜI NHÀ XUẤT BẢN

    T

    rên thế giới, nguyên tắc trình tự pháp luật công bằng,
    hợp lý đã xuất hiện từ năm 1215 tại Vương quốc Anh

    và sau đó lan tỏa ra rất nhiều quốc gia khác. Nguyên tắc này đã
    đóng một vai trò vô cùng quan trọng trong sự hình thành và
    phát triển việc bảo vệ các quyền con người của pháp luật quốc
    tế. Theo đó, “Mọi người sinh ra tự do và bình đẳng về phẩm
    cách và quyền lợi, có lý trí và lương tri, và phải đối xử với nhau
    trong tình bác ái” (Điều 1 Tuyên ngôn quốc tế về nhân quyền
    năm 1948). Mặc dù không thực sự được nhắc đến theo đúng tên
    nguyên gốc, nhưng nguyên tắc trình tự pháp luật công bằng,
    hợp lý đã được pháp luật nước ta đề cập tại Hiến pháp năm
    2013 và một số văn bản quy phạm pháp luật khác. Tuy nhiên,
    việc thực thi những quy định của pháp luật liên quan đến
    nguyên tắc trình tự công bằng, hợp lý vẫn chưa thực sự đạt
    được như mong đợi.
    Đáp ứng nhu cầu tìm hiểu và áp dụng nguyên tắc trình tự
    công bằng, hợp lý trong lĩnh vực phi hình sự (tố tụng dân sự, tố
    tụng hành chính) và trong thủ tục hành chính đang ngày càng
    cao, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia Sự thật xuất bản cuốn
    sách Nguyên tắc trình tự pháp luật công bằng, hợp lý và
    vai trò bảo vệ quyền con người (Sách chuyên khảo) do
    TS. Bùi Tiến Đạt, giảng viên Khoa Luật, Đại học Quốc gia Hà Nội

    6

    NGUYÊN TẮC TRÌNH TỰ PHÁP LUẬT CÔNG BẰNG, HỢP LÝ...

    làm chủ biên. Cuốn sách gồm 12 chương, chia làm 4 phần, đề
    cập những nghiên cứu của các tác giả về nguyên tắc trình tự
    pháp luật công bằng, hợp lý và việc áp dụng các nguyên tắc này
    trên thực tiễn thi hành pháp luật ở Việt Nam. Cuốn sách là một
    tài liệu hữu ích cho các nhà lập pháp, các cơ quan tư pháp, các
    cơ quan hành chính nhà nước, các nhà khoa học, giảng viên, học
    viên và sinh viên ngành luật trong việc nghiên cứu, tìm hiểu và
    áp dụng pháp luật trong lĩnh vực này.
    Xin trân trọng giới thiệu cuốn sách cùng bạn đọc.
    Tháng 5 năm 2021
    NHÀ XUẤT BẢN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA SỰ THẬT

    7

    LỜI GIỚI THIỆU

    N

    guyên tắc trình tự pháp luật công bằng, hợp lý (due
    process1 of law) - thường được gọi ngắn gọn là trình tự
    công bằng (due process) - là nền tảng của các hiến pháp hiện
    đại vì nó đảm bảo những giá trị của nhà nước pháp quyền.
    Nghiên cứu về học thuyết trình tự pháp luật công bằng luôn là
    một lĩnh vực quan trọng trong khoa học pháp lý trên thế giới.
    Những công trình nghiên cứu về chủ đề này đặc biệt sâu và
    rộng ở các nền luật học phát triển như châu Âu và Anh - Mỹ.
    Tuy nhiên, vẫn còn thiếu vắng những nghiên cứu sâu và toàn
    diện về nhu cầu và khả năng áp dụng học thuyết này cho những
    quốc gia đang trong quá trình cải cách pháp luật và xây dựng
    nhà nước pháp quyền như Việt Nam.
    Hiện nay, học thuyết về trình tự công bằng thường được thảo
    luận theo nghĩa hẹp của nó, tức gắn với các quyền xét xử công
    bằng trong tố tụng hình sự (criminal fair trial rights), vốn được
    khẳng định trong các bộ luật quốc tế về quyền con người cũng như
    hiến pháp của nhiều quốc gia (trong đó có Việt Nam). Điều này có
    vẻ thể hiện sự tương thích cao giữa nguyên tắc trình tự công bằng
    _______________
    1. Từ “due” phản ánh nghĩa rất rộng, gồm các ngữ nghĩa như công
    bằng, hợp lý, đúng đắn, chuẩn, chặt chẽ... Trong cuốn sách chuyên khảo
    này, ở nhiều chỗ các tác giả chọn cách dịch khái quát, ngắn gọn là “công
    bằng, hợp lý” hoặc gọn hơn nữa là “công bằng” nhằm phản ánh từ “due”.
    Bên cạnh đó, các thuật ngữ “đúng đắn”, “chuẩn”, “chặt chẽ” cũng được sử
    dụng rải rác trong cuốn sách này với ý nghĩa tương đồng. Còn từ
    “process” được dịch là “trình tự” hoặc “thủ tục”.

    8

    NGUYÊN TẮC TRÌNH TỰ PHÁP LUẬT CÔNG BẰNG, HỢP LÝ...

    khởi nguồn từ Đại Hiến chương về tự do năm 1215 - Magna Carta
    Libertatum (Đại Hiến chương Magna Carta) và quan niệm về
    nguyên tắc xét xử công bằng trong thời hiện đại. Tuy nhiên,
    nguyên tắc trình tự pháp luật công bằng có nội hàm rộng hơn rất
    nhiều so với quyền xét xử công bằng trong tố tụng hình sự.
    Học thuyết trình tự pháp luật công bằng khởi nguồn từ Đại
    Hiến chương Magna Carta, sau đó được phát triển mạnh mẽ
    trong nền luật học Anh - Mỹ và lan tỏa ở phạm vi toàn cầu.
    Trong các hiến pháp đương đại, một số quốc gia (nổi bật là Hoa
    Kỳ) đã long trọng ghi nhận trình tự công bằng là một nguyên
    tắc cốt lõi. Cụ thể, Tu chính án thứ 5 (năm 1791) của Hiến pháp
    Hoa Kỳ tuyên bố: “Không ai bị... tước bỏ tính mạng, tự do và tài
    sản mà không dựa trên trình tự pháp luật công bằng”. Tu chính
    án thứ 14 (năm 1868) một lần nữa khẳng định: “không bang
    nào được tước bỏ tính mạng, tự do và tài sản của bất kỳ ai mà
    không dựa trên trình tự pháp luật công bằng”. Các văn kiện
    quốc tế về quyền con người tuy không trực tiếp đề cập thuật
    ngữ “due process”, nhưng vẫn thể hiện rõ tinh thần của học
    thuyết trình tự công bằng thông qua các quy định về quyền xét
    xử công bằng và nguyên tắc giới hạn quyền con người.
    Trong khi các nghiên cứu về thủ tục pháp lý chặt chẽ (trình tự
    pháp luật công bằng) trên thế giới rất đồ sộ, ở Việt Nam chủ đề
    này chưa được quan tâm đúng mức và chỉ mới được khởi xướng
    gần đây. Các thuật ngữ mô tả khái niệm “due process” hiếm khi
    xuất hiện trong các diễn đàn luật học ở Việt Nam. Hiến pháp Việt
    Nam năm 2013 (Hiến pháp năm 2013) đã có những tiến bộ đáng
    kể khi lần đầu tiên hiến định trình tự công bằng nội dung thông
    qua nguyên tắc hạn chế quyền con người. Hiến pháp cũng thể
    hiện sự ghi nhận đầy đủ hơn các quyền xét xử công bằng, vốn
    phản ánh công bằng thủ tục. Có thể nói Hiến pháp năm 2013 đã
    thiết lập cơ sở hiến định quan trọng cho sự tiếp nhận toàn diện

    LỜI GIỚI THIỆU

    9

    học thuyết trình tự công bằng (cũng chính là nguyên tắc thủ tục
    pháp lý chặt chẽ) ở Việt Nam. Nghiên cứu nhu cầu, thuận lợi và
    thách thức của sự tiếp nhận này sẽ giúp đề ra định hướng, giải
    pháp nhằm nâng cao hiệu lực của Hiến pháp và về lâu dài đóng
    góp cho việc sửa đổi Hiến pháp trong tương lai.
    Với mục tiêu đánh giá việc áp dụng nguyên tắc thủ tục pháp
    lý chặt chẽ trong cơ chế kiểm soát quyền lực nhà nước, bảo vệ
    quyền con người, xây dựng pháp luật hợp hiến và đảm bảo thủ
    tục pháp lý công bằng, chủ đề của sách chuyên khảo này thuộc
    lĩnh vực trọng điểm quốc gia. Cuốn sách góp phần đề xuất “... cơ
    sở khoa học và thực tiễn để đổi mới hệ thống chính trị, đổi mới
    phương thức lãnh đạo của Đảng, đổi mới quản lý nhà nước, phát
    huy mạnh mẽ quyền làm chủ của nhân dân, đẩy mạnh cải cách
    hành chính, cải cách tư pháp, xây dựng và hoàn thiện Nhà nước
    pháp quyền Việt Nam xã hội chủ nghĩa” và “đổi mới, tăng cường
    vai trò, trách nhiệm của các tổ chức trong hệ thống chính trị;
    tăng cường hiệu lực pháp luật, pháp chế xã hội chủ nghĩa; bảo
    đảm quyền con người, quyền công dân”1.
    Cuốn sách chuyên khảo này sẽ mở ra hướng nghiên cứu mới
    nhằm đưa ra luận cứ khoa học cho việc xây dựng nhà nước pháp
    quyền ở Việt Nam hiện nay, thể hiện ở những khía cạnh sau:
    Thứ nhất, nguyên tắc trình tự pháp luật công bằng, hợp lý là
    một cách tiếp cận mới về luật hiến pháp và luật nhân quyền
    trong nền luật học Việt Nam, đồng thời cũng là cách tiếp cận
    mang tính tổng thể nhằm kết hợp đánh giá cơ chế kiểm soát
    quyền lực nhà nước và cơ chế bảo vệ quyền con người. Thứ hai,
    góp phần đẩy mạnh hướng tiếp cận trình tự công bằng, hợp lý
    _______________
    1. Mục III.3.a Quyết định số 418/QĐ-TTg ngày 11/4/2012 của Thủ
    tướng Chính phủ phê duyệt Chiến lược phát triển khoa học và công nghệ
    giai đoạn 2011 - 2020.

    10

    NGUYÊN TẮC TRÌNH TỰ PHÁP LUẬT CÔNG BẰNG, HỢP LÝ...

    trong việc nghiên cứu các lĩnh vực khác của khoa học pháp lý như
    Luật Tố tụng hình sự, Luật Tố tụng dân sự, Luật Tố tụng hành
    chính, Luật Hành chính và các lĩnh vực luật thủ tục khác. Do đó,
    cuốn sách chuyên khảo này là tài liệu học tập, nghiên cứu cho các
    chương trình đào tạo tiến sĩ, thạc sĩ, cử nhân của Khoa Luật, Đại
    học Quốc gia Hà Nội và các cơ sở đào tạo, nghiên cứu khác.
    Cuốn sách gồm 12 Chương, được chia thành 4 phần:
    Phần I: Lý thuyết chung về nguyên tắc trình tự pháp luật
    công bằng, hợp lý.
    Phần II: Trình tự công bằng về nội dung: nguyên tắc giới
    hạn quyền con người.
    Phần III: Trình tự công bằng về thủ tục: quyền xét xử công bằng.
    Phần IV: Vận dụng nguyên tắc trình tự pháp luật công
    bằng, hợp lý ở Việt Nam.
    Các tác giả trân trọng cảm ơn những tư vấn, góp ý về cách
    tiếp cận và nội dung cuốn sách của nhiều nhà khoa học, đặc biệt
    là GS. Carlos Bernal-Pulido (Trường Luật, Đại học Dayton, Hoa
    Kỳ; cựu thẩm phán Tòa án Hiến pháp Colombia), GS.TSKH.
    Đào Trí Úc, PGS.TS. Nguyễn Ngọc Chí, PGS.TS. Nguyễn Thị
    Quế Anh, PGS.TS. Trịnh Tiến Việt (Khoa Luật, Đại học Quốc
    gia Hà Nội), PGS.TS. Võ Trí Hảo (Trường Đại học Gia Định),
    TS. Trần Kiên, TS. Lê Lan Chi, TS. Đỗ Giang Nam (Khoa Luật,
    Đại học Quốc gia Hà Nội).
    Do học thuyết, nguyên tắc về trình tự pháp luật công bằng,
    hợp lý là một chủ đề rộng lớn và còn khá mới mẻ ở Việt Nam, nội
    dung cuốn sách có thể còn gây nhiều tranh luận và không tránh
    khỏi thiếu sót. Các tác giả mong muốn và chân thành cảm ơn sự
    quan tâm và góp ý của độc giả để hoàn thiện thêm khi tái bản.
    Hà Nội, tháng 3 năm 2021
    Thay mặt nhóm tác giả - Chủ biên
    TS. Bùi Tiến Đạt

    11

    PHẦN I

    LÝ THUYẾT CHUNG VỀ NGUYÊN TẮC
    TRÌNH TỰ PHÁP LUẬT CÔNG BẰNG, HỢP LÝ

    12

    13

    Chương 1

    KHÁI NIỆM VÀ CÁC NỘI DUNG CƠ BẢN
    CỦA NGUYÊN TẮC TRÌNH TỰ PHÁP LUẬT CÔNG BẰNG,
    HỢP LÝ TRONG LỊCH SỬ LẬP HIẾN TRÊN THẾ GIỚI
    1. Trình tự pháp luật công bằng trong Đại Hiến
    chương Magna Carta
    1.1. Bối cảnh ra đời và nội dung cơ bản của Đại Hiến chương
    Magna Carta
    Năm 2015 thế giới kỷ niệm 800 năm ra đời của Đại Hiến
    chương về Tự do năm 1215, theo văn bản gốc tiếng Latin là
    “Magna Carta Libertatum”, dịch sang tiếng Anh là “Great
    Charter of the Liberties”. Magna Carta đã trở thành một thuật
    ngữ quốc tế mà không nhất thiết phải dịch sang một ngôn ngữ
    nào đó. Magna Carta chứa đựng một học thuyết nổi tiếng trong
    chính trị học và luật học - nguyên tắc trình tự công bằng của
    pháp luật (due process of law) - và thường được gọi ngắn gọn là
    trình tự công bằng (due process).
    Đại Hiến chương Magna Carta là văn bản đầu tiên ghi rõ
    giới hạn quyền lực của giới cầm quyền và được đánh giá là điểm
    mốc cực kỳ quan trọng không chỉ với lịch sử nước Anh hay châu
    Âu mà trên toàn cầu. Những nguyên tắc về pháp quyền được
    xác lập trong Magna Carta đã được kế thừa và phát triển trong
    hiến pháp của hầu hết quốc gia.

    14

    Phần I: LÝ THUYẾT CHUNG VỀ NGUYÊN TẮC TRÌNH TỰ PHÁP LUẬT...

    Vào ngày 15/6/1215, tại Runnymede, sau một thời gian
    xung đột gay gắt, Vua John của nước Anh đã rơi vào thế yếu và
    phải chấp nhận ký kết một văn bản thỏa hiệp với các lãnh chúa
    nước này, mà sau đó được gọi là Magna Carta, hay “Đại Hiến
    chương Magna Carta”. Magna Carta đầu tiên bao gồm lời mở
    đầu và 63 điều, khoản. Với tính chất là một hiệp ước hòa bình,
    mục đích khởi nguyên của Magna Carta là thể hiện sự cam kết
    của vua Anh tôn trọng quyền lợi của giáo hội và của giới quý tộc
    phong kiến nước này thời kỳ ấy. Tuy nhiên, ý nghĩa của văn
    kiện nổi tiếng này đã vượt xa mục tiêu hạn hẹp đó, chủ yếu qua
    các nội dung chính, đó là:
    1) Mọi người trong xã hội, kể cả nhà vua, đều phải tuân thủ
    pháp luật. Vua cũng không được đứng trên pháp luật, cụ thể là
    không được tùy tiện tăng thuế, bắt giữ người.
    2) Không một công dân tự do nào bị bắt, giam giữ, trừ khi
    việc đó là do việc xét xử và kết tội của một tòa án được lập ra
    bởi các công dân khác.
    3) Một người bị bắt giữ cần phải được nhanh chóng đưa ra
    tòa án để xét xử và phán quyết. Không ai bị từ chối quyền và
    công lý bởi tòa án.
    4) Giáo hội Anh được tự do, không chịu sự kiểm soát bởi bất
    kỳ thế lực nào, kể cả nhà vua và Tòa Thánh Vatican.
    Cả bốn nội dung nêu trên đều có ý nghĩa là nền tảng cho sự
    phát triển của chế độ dân chủ ở nước Anh về sau. Tuy nhiên, ba
    nội dung đầu tiên có giá trị nổi bật hơn cả.
    Nội dung thứ nhất phản ánh tinh thần thượng tôn pháp
    luật, theo đó pháp luật là thiêng liêng và tối thượng, là cơ sở xác
    lập và bảo hộ cho mối quan hệ hài hòa giữa người với người
    trong xã hội. Thượng tôn pháp luật chính là khởi nguồn và nền
    tảng của tư tưởng pháp quyền (Rule of law) - một tư tưởng cột

    Chương 1: Khái niệm và các nội dung cơ bản của nguyên tắc trình tự pháp luật...

    15

    trụ của các nền dân chủ. Trong Magna Carta, luật pháp là quy
    tắc cư xử chung mà chính nhà vua cũng bị ràng buộc và phải
    tôn trọng. Điều này trên thực tế đã xóa bỏ nhận thức về vị trí và
    quyền lực tuyệt đối, đứng trên pháp luật của vua chúa thời kỳ
    phong kiến.
    Giá trị của bản Đại Hiến chương rất lớn ở chỗ “không có
    Điều gì trong Đại Hiến chương Magna Carta ngăn cản việc ban
    hành và thực thi các Điều luật không công bằng, nhưng nó đưa
    luật pháp lên một tầng cao mới, vượt qua giới hạn ý chí của
    những người cai trị”, như nhận định của Peter Singer1. Nội
    dung cốt lõi của Magna Carta bao hàm ý nghĩa kiểm soát quyền
    lực. Đây là “văn bản đầu tiên” ghi rõ bằng giấy trắng mực đen
    về giới hạn quyền lực của “giới cầm quyền”, và điều này được
    đánh giá là điểm mốc cực kỳ quan trọng không chỉ với lịch sử
    nước Anh hay châu Âu mà trên toàn cầu.
    Lần đầu tiên trong chế độ phong kiến của nước Anh và trên
    toàn thế giới, quyền lực chuyên chế của nhà vua bị giới hạn và
    bị kiểm soát một cách công khai. Trong Magna Carta có quy
    định rằng nhà vua không được tùy tiện tăng thuế và các đạo
    luật về thuế mà nhà vua dự định ban hành phải có sự nhất trí
    của một Hội đồng quý tộc (sau này mở rộng thành cơ quan đại
    diện gồm không chỉ lãnh chúa, quý tộc mà cả thị dân). Bên cạnh
    đó, Magna Carta cũng thiết lập cơ chế để bảo đảm văn kiện này
    được thực thi, theo đó trong trường hợp nhà vua không tự
    nguyện tuân thủ, Hội đồng Quý tộc có quyền ra lệnh chiếm giữ
    _______________
    1. Peter Singer: Magna Carta at 800, Project Syndicate, 04/6/2015,
    bản dịch của Nghiên cứu quốc tế: Nguồn gốc và ý nghĩa của Đại Hiến
    chương Magna Carta, xem http://nghiencuuquocte.org/2015/06/26/nguongoc-va-y-nghia-cua-dai-hien-chuong-magna-carta/.

    16

    Phần I: LÝ THUYẾT CHUNG VỀ NGUYÊN TẮC TRÌNH TỰ PHÁP LUẬT...

    đất đai và các lâu đài của nhà vua cho tới khi nhà vua phải
    chấp nhận và khắc phục.
    Nội dung thứ hai phản ánh tinh thần bảo vệ quyền con
    người khỏi những hành xử tùy tiện của vua chúa phong kiến.
    Trong thời kỳ phong kiến, việc thách thức quyền năng tuyệt đối
    của vua chúa với thần dân là rất khó khăn, vì vậy, việc bắt buộc
    vua chúa phải tôn trọng các quyền của người dân thật sự là một
    bước tiến nhảy vọt. Điều 39 Magna Carta quy định: “Không có
    bất cứ một người tự do nào có thể bị giam cầm hay bỏ tù, bị tước
    quyền hoặc tịch thu tài sản, bị đặt ngoài vòng pháp luật hoặc bị
    tước địa vị dưới bất kỳ hình thức nào, chúng ta cũng không thể
    dùng vũ lực để ép buộc người đó hoặc khiến người khác làm như
    vậy, trừ khi có phán quyết hợp pháp của những người ngang
    hàng với người đó hoặc bởi pháp luật nơi người đó cư ngụ quy
    định như vậy”.
    Những nguyên tắc về nhân quyền trong Đại Hiến chương đã
    khơi gợi cảm hứng và được sử dụng như là nền tảng trong tất cả
    những văn kiện nhân quyền nổi tiếng về sau của thế giới, trong
    đó có Tuyên ngôn quốc tế về nhân quyền năm 1948 (UDHR).
    Mặc dù ở thời kỳ đầu, quy định trên chỉ áp dụng với tầng
    lớp lãnh chúa, quý tộc, song đây chính là tiền đề để sau này Nghị
    viện Anh ban hành các đạo luật bảo vệ các quyền và tự do của
    tất cả mọi người, trong đó bao gồm Luật Cấm bắt giam người
    trái pháp luật (Habeas Corpus, hay còn gọi là Luật Bảo thân)
    năm 1679 - quy định một người bị bắt có quyền được nhanh
    chóng đưa ra một tòa án để xác định tính chất hợp pháp của
    việc bắt giữ họ; Luật Khiếu nại về quyền (Petition of Right)
    năm 1628 - quy định một người chỉ có thể bị tống giam khi có
    phán quyết của tòa án hoặc lệnh bắt giữ của cơ quan nhà nước có
    thẩm quyền; Bộ luật về quyền của nước Anh (English Bill of Rights)

    Chương 1: Khái niệm và các nội dung cơ bản của nguyên tắc trình tự pháp luật...

    17

    năm 1689 - quy định về quyền bầu cử, quyền tự do ngôn luận
    và một số quyền con người khác.
    Nội dung thứ ba của Đại Hiến chương đề cao công lý và vai trò
    của tòa án trong việc bảo vệ công lý. Thực chất nội dung này đã
    tước bỏ quyền xét xử của nhà vua và trao cho một thiết chế
    chuyên môn độc lập là tòa án. Lịch sử hiện đại của nhân loại đã
    chứng minh rằng hướng tiếp cận này là hoàn toàn hợp lý và có ý
    nghĩa đặc biệt to lớn trong việc bảo vệ công lý, bảo vệ nhân quyền.
    Không chỉ vậy, nội dung thứ ba còn hàm ý thúc đẩy cơ chế xét xử
    công bằng trong hoạt động tư pháp. Cụ thể, cụm từ “... trừ khi có
    phán quyết hợp pháp của những người ngang hàng với người đó” ở
    Điều 39 của Magna Carta phản ánh triết lý xét xử phải dựa trên
    nền tảng công lý (question of justice), chứ không chỉ bám vào luật
    (question of law). Quy định này cũng được xem là nền tảng cho
    chế độ bồi thẩm đoàn (trial by jury) ở nước Anh và các nước khác
    theo hệ thống thông luật (common law) về sau.
    Tư tưởng về công lý ở Điều 39 còn được củng cố bằng quy
    định ở Điều 40 của Magna Carta, trong đó nêu rõ rằng: “Sẽ
    không ai bị bán cho người khác; quyền hay công lý của bất kỳ ai
    cũng đều không bị từ chối”. Đoạn thứ hai của quy định này đã
    đặt ra một nguyên tắc rất quan trọng trong tố tụng, đó là ngay
    cả khi vụ việc chưa có luật quy định, thẩm phán cũng vẫn phải
    thụ lý và xét xử, bởi “công lý bị trì hoãn cũng có nghĩa là công lý
    bị từ chối” (Justice delayed is justice denied)1.
    _______________
    1. Đây là một câu châm ngôn pháp lý được sử dụng phổ biến từ thế
    kỷ XX. Chẳng hạn, Martin Luther King Jr. nhắc đến châm ngôn này
    trong “Letter from a Birmingham Jail”, xem https://www.africa.upenn.
    edu/Articles_Gen/Letter_Birmingham.html. Về nguồn gốc, châm ngôn
    này thường được cho là khởi nguồn từ thế kỷ XIX như trong phát biểu
    của Thủ tướng Anh William E. Gladstone vào năm 1868 hay trong một số
    của Tạp chí Louisiana Law Journal vào năm 1842.

    18

    Phần I: LÝ THUYẾT CHUNG VỀ NGUYÊN TẮC TRÌNH TỰ PHÁP LUẬT...

    Với những ý nghĩa tích cực nêu trên, Magna Carta không
    chỉ có ảnh hưởng đến sự phát triển của nền dân chủ ở nước
    Anh, mà còn ở rất nhiều nước khác trên thế giới, đặc biệt là
    những nước theo hệ thống thông luật. Những nguyên tắc về
    pháp quyền được xác lập trong Magna Carta đã được kế thừa và
    phát triển trong hiến pháp của hầu hết quốc gia. Mười tu chính
    án đầu tiên của Hiến pháp Hoa Kỳ thực tế là sự kế thừa các quy
    định của Magna Carta, đặc biệt là nguyên tắc trình tự công
    bằng (due process of law) và nguyên tắc mọi người được bảo vệ
    một cách bình đẳng bởi luật pháp (equal protection of the law).
    Trong khi đó, những nguyên tắc về nhân quyền trong Đại Hiến
    chương đã khơi gợi cảm hứng và được sử dụng như là nền tảng
    trong tất cả những văn kiện nhân quyền nổi tiếng về sau của
    thế giới, trong đó có UDHR. Không chỉ vậy, Magna Carta còn
    được sử dụng như là một vũ khí hiệu quả để chống lại sự lạm
    dụng và vi phạm nhân quyền trong thực tế. Lịch sử đã ghi nhận
    ở nước Anh, ngay từ thế kỷ XVI, những người nông dân đã biết
    trích dẫn Đại Hiến chương trong các cuộc đấu tranh chống lại
    sự bất công. Còn trong những năm 1640, các nghị sĩ Anh đã coi
    Magna Carta là một cơ sở pháp lý để lật đổ vua Charles I.
    Nhiều nhà cách mạng lớn của thế giới sau này, như Nelson
    Mandela, đã biện minh cho những hành động của mình bằng
    việc dựa vào Đại Hiến chương Magna Carta.
    Magna Carta có tính chất ban đầu là một hiệp định hòa
    bình thể hiện mối quan hệ giữa một vị quân chủ và các nhà quý
    tộc nước Anh từ hơn 800 năm trước đây, song với nội dung hàm
    chứa những tư tưởng tiến bộ và khai phóng vượt qua tầm thời
    đại (trung cổ), Magna Carta đã trở thành một biểu tượng đầy
    sức mạnh trong tiến trình xây dựng dân chủ và nhân quyền ở
    nước Anh, châu Âu, châu Mỹ trước đây và trên toàn thế giới

    Chương 1: Khái niệm và các nội dung cơ bản của nguyên tắc trình tự pháp luật...

    19

    hiện nay. Văn kiện này đã và sẽ còn được nhắc đến như một tài
    liệu có tầm ảnh hưởng rộng rãi nhất về tư tưởng trong lịch sử
    nhân loại. Chính vì vậy, có thể xem Magna Carta là một trong
    những báu vật góp phần tạo lên “quyền lực mềm” của nước
    Anh, là một “món quà của nước Anh dành cho nhân loại”1.
    1.2. Nội dung học thuyết về trình tự công bằng trong Đại
    Hiến chương Magna Carta
    Hiện nay, học thuyết về trình tự công bằng thường được
    thảo luận theo nghĩa hẹp của nó, tức gắn với các quyền xét xử
    công bằng trong tố tụng hình sự (criminal fair trial rights) đã
    được khẳng định trong các bộ luật quốc tế về quyền con người2
    cũng như hiến pháp nhiều quốc gia. Điều này có vẻ thể hiện sự
    tương thích cao giữa nguyên lý trình tự công bằng khởi nguồn
    từ Magna Carta và quan niệm về nguyên tắc xét xử công bằng
    trong thời hiện đại. Tuy nhiên, nguyên lý trình tự công bằng có
    nội hàm rộng hơn quyền xét xử công bằng trong tố tụng hình sự
    rất nhiều. Điều này được chứng tỏ qua chính tinh thần của lời
    văn Magna Carta 800 năm trước. Chương 29 Magna Carta nêu:
    “Không một người tự do nào bị cầm tù hoặc tước đoạt tài sản, tự
    do, phong tục, hoặc bị ngăn cấm, đày ải, đối xử tàn ác, và cũng
    không ai bị ép buộc thực hiện những điều đó, mà không dựa
    trên một phán quyết hợp pháp của những thành viên cộng đồng
    hoặc theo luật pháp của quốc gia (the law of the land). Chúng ta
    _______________
    1. Vũ Công Giao: Đại Hiến chương Magna Carta: Một món quà của
    nước Anh dành cho nhân loại, xem https://tiasang.com.vn/-dien-dan/DaiHien-chuong-Magna-Carta-Mot-mon-qua-cua-nuoc-Anh-danh-chonhan-loai-12815.
    2. Xem: Tuyên ngôn quốc tế về nhân quyền năm 1948 (UDHR), Điều 14
    Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị năm 1966 (ICCPR) và
    Điều 6 Công ước Nhân quyền châu Âu năm 1950 (ECHR).

    20

    Phần I: LÝ THUYẾT CHUNG VỀ NGUYÊN TẮC TRÌNH TỰ PHÁP LUẬT...

    không phản bội, phủ nhận hay khước từ công lý và quyền của
    bất kỳ ai”1.
    Một Điều đáng lưu ý là, mặc dù Magna Carta được coi là
    khởi nguồn của học thuyết “due process of law”2, thuật ngữ “due
    process of law” lại không tồn tại trong lời văn Đại Hiến chương,
    mà chỉ có cụm từ “the law of the land” (luật pháp của quốc gia).
    Trong thời gian trị vì của vua Edward III (1327-1377), Nghị
    viện Anh đã ban hành 6 đạo luật giải thích ý nghĩa và phạm vi
    các quyền tự do được bảo đảm trong Magna Carta. Các luật này
    giải thích cụm từ “the law of the land” là các thủ tục tư pháp
    nhằm bảo vệ quyền tự do của thần dân3. Một trong các luật đó,
    được ban hành năm 1354, lần đầu tiên sử dụng thuật ngữ “due
    process of law” thay cho “the law of the land: “không ai... bị trục
    xuất, tù tội, tước quyền sống hoặc tự do, mà không đòi hỏi tuân
    thủ trình tự pháp lý công bằng (due process of the law)”. Đây có
    thể nói là văn bản đầu tiên chính thức sử dụng thuật ngữ “due
    _______________
    1. Phần in nghiêng do tác giả nhấn mạnh. Lời văn này nằm trong
    Magna Carta phiên bản năm 1297, được viết bằng tiếng Latin và dịch sang
    tiếng Anh. Theo phiên bản Magna Carta đầu tiên năm 1215, lời văn này
    nằm trong Chương 39. Nhưng theo các bản sửa đổi từ năm 1225, phần này
    thuộc Chương 29. Có nhiều bản dịch khác nhau, một trong số đó là: “No
    Freeman shall be taken or imprisoned, or be disseised of his Freehold, or
    Liberties, or free Customs, or be outlawed, or exiled, or any other wise
    destroyed; nor will We not pass upon him, nor [condemn him,] but by
    lawful judgment of his Peers, or by the Law of the Land. We will sell to no
    man, we will not deny or defer to any man either Justice or Right”, xem
    http://www.legislation.gov.uk/aep/Edw1cc1929/25/9/section/XXIX).
    2. Nathan S. Chapman and Michael W. McConnell: Due Process as
    Separation of Powers,121 Yale Law Journal 1672 1681, 2012, p.1681.
    3. https://loc.gov/exhibits/magna-carta-muse-and-mentor/due-processof-law.html#:~:text=It%20traces%20its%20origins%20to,customary%20
    practices%20of%20the%20court.

    Chương 1: Khái niệm và các nội dung cơ bản của nguyên tắc trình tự pháp luật...

    21

    process of law”1. Năm 1642 (tức gần 300 năm sau đạo luật năm
    1354 và hơn 400 năm sau Magna Carta), Sir Coke đã giải thích
    rằng “due process of law” đồng nghĩa với “the law of the land”
    trong Magna Carta2.
    Vậy, đâu là mối liên hệ giữa hai khái niệm “the law of the
    land” trong Magna Carta và “due process of law”. Để nắm bắt
    chính xác tinh thần của Chương 29 Magna Carta, chúng ta cần
    hiểu bối cảnh nước Anh lúc đó. Những năm đầu thế kỷ XIII,
    dưới sức ép mạnh mẽ trong xã hội, Vua John đã buộc phải chấp
    nhận Magna Carta - văn bản nhằm hạn chế những quyền lực
    tuyệt đối của mình. Quyền lực nhà nước (của vua) không còn
    tuyệt đối mà phải tuân thủ “luật pháp quốc gia”. “Luật pháp
    quốc gia” ở đây bao gồm cả thông luật (common law) và đạo luật
    (statute law)3. Như vậy, Chương 29 Magna Carta đã thể hiện tư
    tưởng xóa bỏ quyền lực quân chủ tuyệt đối và do đó quyền lực
    nhà nước phải bị hạn chế - một tư tưởng cốt lõi của học thuyết
    nhà nước pháp quyền (rule of law), đã trở thành nền tảng của
    các hiến pháp hiện đại. Vì vậy, theo nghĩa rộng nhất, học
    thuyết “due process of law” cũng chính là các giá trị về nhà
    nước pháp quyền đã được khẳng định trong Magna Carta. Hay
    nói cách khác, hai thuật ngữ “rule of law” và “due process” khá
    tương đồng4 và thậm chí có thể thay thế cho nhau5. Sullivan và
    _______________
    1, 3. Nathan S. Chapman and Michael W. McConnell: Due Process as
    Separation of Powers, Ibid, p. 1682.
    2. Edward Coke: The Second Part of the Institutes of the Laws of
    England 50, (photo. reprint 2002) (London, W. Clarke & Sons 1817) (1642).
    4. Geoffrey Marshall: Due Process in England in J. Roland Pennock
    and John W. Chapman (eds): Due Process, New York University Press,
    1977, p. 69.
    5. E. Thomas Sullivan and Toni M. Massaro: The Arc of Due Process in
    American Constitutional Law, Oxford University Press, 2013, p. 1.

    22

    Phần I: LÝ THUYẾT CHUNG VỀ NGUYÊN TẮC TRÌNH TỰ PHÁP LUẬT...

    Massaro đã khẳng định những nguyên tắc của nhà nước pháp
    quyền thể hiện trong học thuyết trình tự công bằng như sau:
    - Các thủ tục công bằng (fair procedures), đặc biệt là quyền
    được cảnh báo và quyền được xét xử.
    - Tính vô tư (impartiality) của các cơ quan ra quyết định.
    - Tôn trọng các các tiêu chuẩn đạo đức và truyền thống.
    - Luật pháp không áp dụng hồi tố (not retrospective but
    prospective).
    - Các thủ tục pháp lý mang tính minh bạch và dễ hiểu
    (transparency and accessibility).
    - Các hành vi của nhà nước phải tương xứng (proportionality)
    với mục đích.
    - Tôn trọng tự do cá nhân (individual autonomy and liberty).
    - Tôn trọng quyền bình đẳng (equality).
    - Tôn trọng sự phân chia quyền lực (separation of powers)
    và những cơ chế khác nhằm giới hạn quyền lực nhà nước1.
    Tương tự, Geoffrey Marshall cho rằng những thành tố cấu
    thành nên khái niệm nhà nước pháp quyền hay khái niệm trình
    tự công bằng bao gồm: công bằng (fairness), vô tư (impartiality),
    độc lập (independence), bình đẳng (equality), công khai
    (openness), hợp lý (rationality), chắc chắn (certainty) và phổ quát
    (universality)2. Tóm lại, học thuyết due process có mục đích tối
    thượng là bảo vệ người dân trước nguy cơ lạm quyền của nhà
    nước3. Nhà nước ở đây bao gồm cả ba nhánh quyền lực lập pháp,
    hành pháp và tư pháp. Gần đây, Chapman và McConnell cũng đã
    khẳng định “trình tự công bằng chính là phân chia quyền lực”4.
    _______________
    1, 3. E. Thomas Sullivan and Toni M. Massaro: The Arc of Due Process
    in American Constitutional Law, Ibid, p.xiii.
    2. Geoffrey Marshall: Due Process in England, Ibid, p.70.
    4. Nathan S. Chapman and Michael W. McConnell: Due Process as
    Separation of Powers, Ibid.

    Chương 1: Khái niệm và các nội dung cơ bản của nguyên tắc trình tự pháp luật...

    23

    2. Học thuyết trình tự công bằng trong Luật Hiến
    pháp Hoa Kỳ
    2.1. Sự ghi nhận học thuyết trình tự công bằng trong Hiến
    pháp Hoa Kỳ
    Mặc dù nước Anh là cái nôi của quan niệm về trình tự công
    bằng, học thuyết này lại được tiếp nhận một cách chính thức và
    phát triển mạnh cho đến ngày nay tại Hoa Kỳ. Thật vậy, trong
    suốt lịch sử nước Anh rất hiếm khi thuật ngữ “due process of
    law” được nhắc đến trong các đạo luật mang tính hiến pháp cũng
    như trong các bản án của tòa án. Thay vào đó, nền luật học Anh
    hay đề cập những khái niệm gần gũi với “due process” như công
    lý tự nhiên (natural justice) hay tính hợp lý (reasonableness).
    Đạo luật về quyền con người năm 1998 (Human Rights Act) một văn bản mang tính hiến pháp, không đề cập “due process”
    cũng như không liệt kê các quyền cụ thể mà chủ yếu cam kết
    thực hiện các cơ chế về quyền đã được quy định tại Công ước
    châu Âu về quyền con người và được giải thích bằng hệ thống án
    lệ đồ sộ của Tòa án Nhân quyền châu Âu.
    Trong khi đó, “due process of law” được ghi nhận chính
    thức, long trọng tới hai lần trong Hiến pháp Hoa Kỳ với tư cách
    là một nguyên tắc cốt lõi, căn bản. Các nhà sáng lập nước Mỹ đã
    tiếp thu ý tưởng về trình tự công bằng từ nước Anh, với sự kế
    thừa và phát triển lên một bậc, bao gồm cả ý tưởng về kiểm soát
    cơ quan lập pháp - một khía cạnh quan trọng của “due process”
    được Thẩm phán Coke khởi xướng trong vụ án Dr. Bonham
    năm 1610, nhưng đã không được hiện thực hóa ở Anh do vị trí
    tối cao của Nghị viện. Vụ án Dr. Bonham liên quan...
     
    Gửi ý kiến

    KÍNH CHÀO QUÝ THẦY CÔ VÀ QUÝ BẠN ĐỌC ĐÃ ĐẾN TƯỜNG WEBSITE CỦA THƯ VIỆN TRƯỜNG TIỂU HỌC LƯƠNG VĂN NẮM, TÂN YÊN , BẮC GIANG !