Ý NGHĨA CỦA VIỆC ĐỌC SÁCH
nGUYÊN TẮC TRÌNH TỰ PL

- 0 / 0
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: Hoàng Thị Tuyết Trinh (trang riêng)
Ngày gửi: 15h:22' 04-05-2024
Dung lượng: 9.2 MB
Số lượt tải: 9
Nguồn:
Người gửi: Hoàng Thị Tuyết Trinh (trang riêng)
Ngày gửi: 15h:22' 04-05-2024
Dung lượng: 9.2 MB
Số lượt tải: 9
Số lượt thích:
0 người
Chịu trách nhiệm xuất bản
GIÁM ĐỐC - TỔNG BIÊN TẬP
PGS.TS. PHẠM MINH TUẤN
Chịu trách nhiệm nội dung
ỦY VIÊN HỘI ĐỒNG BIÊN TẬP - XUẤT BẢN
TS. VÕ VĂN BÉ
Biên tập nội dung: ThS. VĂN THỊ THANH HƯƠNG
ThS. NGUYỄN THỊ HẢI BÌNH
ThS. TRẦN KHÁNH LY
ThS. NGUYỄN VIỆT HÀ
Trình bày bìa:
NGUYỄN VIỆT THẮNG
Chế bản vi tính:
NGUYỄN THỊ VÂN HÀ
Đọc sách mẫu:
TRẦN KHÁNH LY
BÙI BỘI THU
_______________________________________________
Số đăng ký kế hoạch xuất bản: 2650-2022/CXBIPH/30-106/CTQG.
Số quyết định xuất bản: 1560-QĐ/NXBCTQG, ngày 09/8/2022.
Nộp lưu chiểu: tháng 8 năm 2022.
Mã ISBN: 978-604-57-7958-3.
TẬP THỂ TÁC GIẢ
PGS.TS. NGUYỄN HOÀNG ANH
Khoa Luật, Đại học Quốc gia Hà Nội
GS.TS. NGUYỄN ĐĂNG DUNG
Khoa Luật, Đại học Quốc gia Hà Nội
TS. BÙI TIẾN ĐẠT
Khoa Luật, Đại học Quốc gia Hà Nội
PGS.TS. BÙI XUÂN ĐỨC
Khoa Luật, Trường Đại học Đại Nam
PGS.TS. VŨ CÔNG GIAO
Khoa Luật, Đại học Quốc gia Hà Nội
TS. ĐINH THẾ HƯNG
Viện Nhà nước và Pháp luật, Viện Hàn
lâm Khoa học xã hội Việt Nam
TS. NGUYỄN VĂN QUÂN
Khoa Luật, Đại học Quốc gia Hà Nội
TS. NGUYỄN MINH TÂM
Khoa Luật, Đại học Quốc gia Hà Nội
GS.TS. PHẠM HỒNG THÁI
Khoa Luật, Đại học Quốc gia Hà Nội
TS. NGUYỄN BÍCH THẢO
Khoa Luật, Đại học Quốc gia Hà Nội
TS. MAI VĂN THẮNG
Khoa Luật, Đại học Quốc gia Hà Nội
PGS.TS. ĐẶNG MINH TUẤN
Khoa Luật, Đại học Quốc gia Hà Nội
PGS.TS. NGUYỄN MINH TUẤN Khoa Luật, Đại học Quốc gia Hà Nội
TS. TRẦN ANH TÚ
Khoa Luật, Đại học Quốc gia Hà Nội
ThS. NINH VIẾT TÙNG
Tòa án nhân dân thành phố Hòa Bình,
tỉnh Hòa Bình
5
LỜI NHÀ XUẤT BẢN
T
rên thế giới, nguyên tắc trình tự pháp luật công bằng,
hợp lý đã xuất hiện từ năm 1215 tại Vương quốc Anh
và sau đó lan tỏa ra rất nhiều quốc gia khác. Nguyên tắc này đã
đóng một vai trò vô cùng quan trọng trong sự hình thành và
phát triển việc bảo vệ các quyền con người của pháp luật quốc
tế. Theo đó, “Mọi người sinh ra tự do và bình đẳng về phẩm
cách và quyền lợi, có lý trí và lương tri, và phải đối xử với nhau
trong tình bác ái” (Điều 1 Tuyên ngôn quốc tế về nhân quyền
năm 1948). Mặc dù không thực sự được nhắc đến theo đúng tên
nguyên gốc, nhưng nguyên tắc trình tự pháp luật công bằng,
hợp lý đã được pháp luật nước ta đề cập tại Hiến pháp năm
2013 và một số văn bản quy phạm pháp luật khác. Tuy nhiên,
việc thực thi những quy định của pháp luật liên quan đến
nguyên tắc trình tự công bằng, hợp lý vẫn chưa thực sự đạt
được như mong đợi.
Đáp ứng nhu cầu tìm hiểu và áp dụng nguyên tắc trình tự
công bằng, hợp lý trong lĩnh vực phi hình sự (tố tụng dân sự, tố
tụng hành chính) và trong thủ tục hành chính đang ngày càng
cao, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia Sự thật xuất bản cuốn
sách Nguyên tắc trình tự pháp luật công bằng, hợp lý và
vai trò bảo vệ quyền con người (Sách chuyên khảo) do
TS. Bùi Tiến Đạt, giảng viên Khoa Luật, Đại học Quốc gia Hà Nội
6
NGUYÊN TẮC TRÌNH TỰ PHÁP LUẬT CÔNG BẰNG, HỢP LÝ...
làm chủ biên. Cuốn sách gồm 12 chương, chia làm 4 phần, đề
cập những nghiên cứu của các tác giả về nguyên tắc trình tự
pháp luật công bằng, hợp lý và việc áp dụng các nguyên tắc này
trên thực tiễn thi hành pháp luật ở Việt Nam. Cuốn sách là một
tài liệu hữu ích cho các nhà lập pháp, các cơ quan tư pháp, các
cơ quan hành chính nhà nước, các nhà khoa học, giảng viên, học
viên và sinh viên ngành luật trong việc nghiên cứu, tìm hiểu và
áp dụng pháp luật trong lĩnh vực này.
Xin trân trọng giới thiệu cuốn sách cùng bạn đọc.
Tháng 5 năm 2021
NHÀ XUẤT BẢN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA SỰ THẬT
7
LỜI GIỚI THIỆU
N
guyên tắc trình tự pháp luật công bằng, hợp lý (due
process1 of law) - thường được gọi ngắn gọn là trình tự
công bằng (due process) - là nền tảng của các hiến pháp hiện
đại vì nó đảm bảo những giá trị của nhà nước pháp quyền.
Nghiên cứu về học thuyết trình tự pháp luật công bằng luôn là
một lĩnh vực quan trọng trong khoa học pháp lý trên thế giới.
Những công trình nghiên cứu về chủ đề này đặc biệt sâu và
rộng ở các nền luật học phát triển như châu Âu và Anh - Mỹ.
Tuy nhiên, vẫn còn thiếu vắng những nghiên cứu sâu và toàn
diện về nhu cầu và khả năng áp dụng học thuyết này cho những
quốc gia đang trong quá trình cải cách pháp luật và xây dựng
nhà nước pháp quyền như Việt Nam.
Hiện nay, học thuyết về trình tự công bằng thường được thảo
luận theo nghĩa hẹp của nó, tức gắn với các quyền xét xử công
bằng trong tố tụng hình sự (criminal fair trial rights), vốn được
khẳng định trong các bộ luật quốc tế về quyền con người cũng như
hiến pháp của nhiều quốc gia (trong đó có Việt Nam). Điều này có
vẻ thể hiện sự tương thích cao giữa nguyên tắc trình tự công bằng
_______________
1. Từ “due” phản ánh nghĩa rất rộng, gồm các ngữ nghĩa như công
bằng, hợp lý, đúng đắn, chuẩn, chặt chẽ... Trong cuốn sách chuyên khảo
này, ở nhiều chỗ các tác giả chọn cách dịch khái quát, ngắn gọn là “công
bằng, hợp lý” hoặc gọn hơn nữa là “công bằng” nhằm phản ánh từ “due”.
Bên cạnh đó, các thuật ngữ “đúng đắn”, “chuẩn”, “chặt chẽ” cũng được sử
dụng rải rác trong cuốn sách này với ý nghĩa tương đồng. Còn từ
“process” được dịch là “trình tự” hoặc “thủ tục”.
8
NGUYÊN TẮC TRÌNH TỰ PHÁP LUẬT CÔNG BẰNG, HỢP LÝ...
khởi nguồn từ Đại Hiến chương về tự do năm 1215 - Magna Carta
Libertatum (Đại Hiến chương Magna Carta) và quan niệm về
nguyên tắc xét xử công bằng trong thời hiện đại. Tuy nhiên,
nguyên tắc trình tự pháp luật công bằng có nội hàm rộng hơn rất
nhiều so với quyền xét xử công bằng trong tố tụng hình sự.
Học thuyết trình tự pháp luật công bằng khởi nguồn từ Đại
Hiến chương Magna Carta, sau đó được phát triển mạnh mẽ
trong nền luật học Anh - Mỹ và lan tỏa ở phạm vi toàn cầu.
Trong các hiến pháp đương đại, một số quốc gia (nổi bật là Hoa
Kỳ) đã long trọng ghi nhận trình tự công bằng là một nguyên
tắc cốt lõi. Cụ thể, Tu chính án thứ 5 (năm 1791) của Hiến pháp
Hoa Kỳ tuyên bố: “Không ai bị... tước bỏ tính mạng, tự do và tài
sản mà không dựa trên trình tự pháp luật công bằng”. Tu chính
án thứ 14 (năm 1868) một lần nữa khẳng định: “không bang
nào được tước bỏ tính mạng, tự do và tài sản của bất kỳ ai mà
không dựa trên trình tự pháp luật công bằng”. Các văn kiện
quốc tế về quyền con người tuy không trực tiếp đề cập thuật
ngữ “due process”, nhưng vẫn thể hiện rõ tinh thần của học
thuyết trình tự công bằng thông qua các quy định về quyền xét
xử công bằng và nguyên tắc giới hạn quyền con người.
Trong khi các nghiên cứu về thủ tục pháp lý chặt chẽ (trình tự
pháp luật công bằng) trên thế giới rất đồ sộ, ở Việt Nam chủ đề
này chưa được quan tâm đúng mức và chỉ mới được khởi xướng
gần đây. Các thuật ngữ mô tả khái niệm “due process” hiếm khi
xuất hiện trong các diễn đàn luật học ở Việt Nam. Hiến pháp Việt
Nam năm 2013 (Hiến pháp năm 2013) đã có những tiến bộ đáng
kể khi lần đầu tiên hiến định trình tự công bằng nội dung thông
qua nguyên tắc hạn chế quyền con người. Hiến pháp cũng thể
hiện sự ghi nhận đầy đủ hơn các quyền xét xử công bằng, vốn
phản ánh công bằng thủ tục. Có thể nói Hiến pháp năm 2013 đã
thiết lập cơ sở hiến định quan trọng cho sự tiếp nhận toàn diện
LỜI GIỚI THIỆU
9
học thuyết trình tự công bằng (cũng chính là nguyên tắc thủ tục
pháp lý chặt chẽ) ở Việt Nam. Nghiên cứu nhu cầu, thuận lợi và
thách thức của sự tiếp nhận này sẽ giúp đề ra định hướng, giải
pháp nhằm nâng cao hiệu lực của Hiến pháp và về lâu dài đóng
góp cho việc sửa đổi Hiến pháp trong tương lai.
Với mục tiêu đánh giá việc áp dụng nguyên tắc thủ tục pháp
lý chặt chẽ trong cơ chế kiểm soát quyền lực nhà nước, bảo vệ
quyền con người, xây dựng pháp luật hợp hiến và đảm bảo thủ
tục pháp lý công bằng, chủ đề của sách chuyên khảo này thuộc
lĩnh vực trọng điểm quốc gia. Cuốn sách góp phần đề xuất “... cơ
sở khoa học và thực tiễn để đổi mới hệ thống chính trị, đổi mới
phương thức lãnh đạo của Đảng, đổi mới quản lý nhà nước, phát
huy mạnh mẽ quyền làm chủ của nhân dân, đẩy mạnh cải cách
hành chính, cải cách tư pháp, xây dựng và hoàn thiện Nhà nước
pháp quyền Việt Nam xã hội chủ nghĩa” và “đổi mới, tăng cường
vai trò, trách nhiệm của các tổ chức trong hệ thống chính trị;
tăng cường hiệu lực pháp luật, pháp chế xã hội chủ nghĩa; bảo
đảm quyền con người, quyền công dân”1.
Cuốn sách chuyên khảo này sẽ mở ra hướng nghiên cứu mới
nhằm đưa ra luận cứ khoa học cho việc xây dựng nhà nước pháp
quyền ở Việt Nam hiện nay, thể hiện ở những khía cạnh sau:
Thứ nhất, nguyên tắc trình tự pháp luật công bằng, hợp lý là
một cách tiếp cận mới về luật hiến pháp và luật nhân quyền
trong nền luật học Việt Nam, đồng thời cũng là cách tiếp cận
mang tính tổng thể nhằm kết hợp đánh giá cơ chế kiểm soát
quyền lực nhà nước và cơ chế bảo vệ quyền con người. Thứ hai,
góp phần đẩy mạnh hướng tiếp cận trình tự công bằng, hợp lý
_______________
1. Mục III.3.a Quyết định số 418/QĐ-TTg ngày 11/4/2012 của Thủ
tướng Chính phủ phê duyệt Chiến lược phát triển khoa học và công nghệ
giai đoạn 2011 - 2020.
10
NGUYÊN TẮC TRÌNH TỰ PHÁP LUẬT CÔNG BẰNG, HỢP LÝ...
trong việc nghiên cứu các lĩnh vực khác của khoa học pháp lý như
Luật Tố tụng hình sự, Luật Tố tụng dân sự, Luật Tố tụng hành
chính, Luật Hành chính và các lĩnh vực luật thủ tục khác. Do đó,
cuốn sách chuyên khảo này là tài liệu học tập, nghiên cứu cho các
chương trình đào tạo tiến sĩ, thạc sĩ, cử nhân của Khoa Luật, Đại
học Quốc gia Hà Nội và các cơ sở đào tạo, nghiên cứu khác.
Cuốn sách gồm 12 Chương, được chia thành 4 phần:
Phần I: Lý thuyết chung về nguyên tắc trình tự pháp luật
công bằng, hợp lý.
Phần II: Trình tự công bằng về nội dung: nguyên tắc giới
hạn quyền con người.
Phần III: Trình tự công bằng về thủ tục: quyền xét xử công bằng.
Phần IV: Vận dụng nguyên tắc trình tự pháp luật công
bằng, hợp lý ở Việt Nam.
Các tác giả trân trọng cảm ơn những tư vấn, góp ý về cách
tiếp cận và nội dung cuốn sách của nhiều nhà khoa học, đặc biệt
là GS. Carlos Bernal-Pulido (Trường Luật, Đại học Dayton, Hoa
Kỳ; cựu thẩm phán Tòa án Hiến pháp Colombia), GS.TSKH.
Đào Trí Úc, PGS.TS. Nguyễn Ngọc Chí, PGS.TS. Nguyễn Thị
Quế Anh, PGS.TS. Trịnh Tiến Việt (Khoa Luật, Đại học Quốc
gia Hà Nội), PGS.TS. Võ Trí Hảo (Trường Đại học Gia Định),
TS. Trần Kiên, TS. Lê Lan Chi, TS. Đỗ Giang Nam (Khoa Luật,
Đại học Quốc gia Hà Nội).
Do học thuyết, nguyên tắc về trình tự pháp luật công bằng,
hợp lý là một chủ đề rộng lớn và còn khá mới mẻ ở Việt Nam, nội
dung cuốn sách có thể còn gây nhiều tranh luận và không tránh
khỏi thiếu sót. Các tác giả mong muốn và chân thành cảm ơn sự
quan tâm và góp ý của độc giả để hoàn thiện thêm khi tái bản.
Hà Nội, tháng 3 năm 2021
Thay mặt nhóm tác giả - Chủ biên
TS. Bùi Tiến Đạt
11
PHẦN I
LÝ THUYẾT CHUNG VỀ NGUYÊN TẮC
TRÌNH TỰ PHÁP LUẬT CÔNG BẰNG, HỢP LÝ
12
13
Chương 1
KHÁI NIỆM VÀ CÁC NỘI DUNG CƠ BẢN
CỦA NGUYÊN TẮC TRÌNH TỰ PHÁP LUẬT CÔNG BẰNG,
HỢP LÝ TRONG LỊCH SỬ LẬP HIẾN TRÊN THẾ GIỚI
1. Trình tự pháp luật công bằng trong Đại Hiến
chương Magna Carta
1.1. Bối cảnh ra đời và nội dung cơ bản của Đại Hiến chương
Magna Carta
Năm 2015 thế giới kỷ niệm 800 năm ra đời của Đại Hiến
chương về Tự do năm 1215, theo văn bản gốc tiếng Latin là
“Magna Carta Libertatum”, dịch sang tiếng Anh là “Great
Charter of the Liberties”. Magna Carta đã trở thành một thuật
ngữ quốc tế mà không nhất thiết phải dịch sang một ngôn ngữ
nào đó. Magna Carta chứa đựng một học thuyết nổi tiếng trong
chính trị học và luật học - nguyên tắc trình tự công bằng của
pháp luật (due process of law) - và thường được gọi ngắn gọn là
trình tự công bằng (due process).
Đại Hiến chương Magna Carta là văn bản đầu tiên ghi rõ
giới hạn quyền lực của giới cầm quyền và được đánh giá là điểm
mốc cực kỳ quan trọng không chỉ với lịch sử nước Anh hay châu
Âu mà trên toàn cầu. Những nguyên tắc về pháp quyền được
xác lập trong Magna Carta đã được kế thừa và phát triển trong
hiến pháp của hầu hết quốc gia.
14
Phần I: LÝ THUYẾT CHUNG VỀ NGUYÊN TẮC TRÌNH TỰ PHÁP LUẬT...
Vào ngày 15/6/1215, tại Runnymede, sau một thời gian
xung đột gay gắt, Vua John của nước Anh đã rơi vào thế yếu và
phải chấp nhận ký kết một văn bản thỏa hiệp với các lãnh chúa
nước này, mà sau đó được gọi là Magna Carta, hay “Đại Hiến
chương Magna Carta”. Magna Carta đầu tiên bao gồm lời mở
đầu và 63 điều, khoản. Với tính chất là một hiệp ước hòa bình,
mục đích khởi nguyên của Magna Carta là thể hiện sự cam kết
của vua Anh tôn trọng quyền lợi của giáo hội và của giới quý tộc
phong kiến nước này thời kỳ ấy. Tuy nhiên, ý nghĩa của văn
kiện nổi tiếng này đã vượt xa mục tiêu hạn hẹp đó, chủ yếu qua
các nội dung chính, đó là:
1) Mọi người trong xã hội, kể cả nhà vua, đều phải tuân thủ
pháp luật. Vua cũng không được đứng trên pháp luật, cụ thể là
không được tùy tiện tăng thuế, bắt giữ người.
2) Không một công dân tự do nào bị bắt, giam giữ, trừ khi
việc đó là do việc xét xử và kết tội của một tòa án được lập ra
bởi các công dân khác.
3) Một người bị bắt giữ cần phải được nhanh chóng đưa ra
tòa án để xét xử và phán quyết. Không ai bị từ chối quyền và
công lý bởi tòa án.
4) Giáo hội Anh được tự do, không chịu sự kiểm soát bởi bất
kỳ thế lực nào, kể cả nhà vua và Tòa Thánh Vatican.
Cả bốn nội dung nêu trên đều có ý nghĩa là nền tảng cho sự
phát triển của chế độ dân chủ ở nước Anh về sau. Tuy nhiên, ba
nội dung đầu tiên có giá trị nổi bật hơn cả.
Nội dung thứ nhất phản ánh tinh thần thượng tôn pháp
luật, theo đó pháp luật là thiêng liêng và tối thượng, là cơ sở xác
lập và bảo hộ cho mối quan hệ hài hòa giữa người với người
trong xã hội. Thượng tôn pháp luật chính là khởi nguồn và nền
tảng của tư tưởng pháp quyền (Rule of law) - một tư tưởng cột
Chương 1: Khái niệm và các nội dung cơ bản của nguyên tắc trình tự pháp luật...
15
trụ của các nền dân chủ. Trong Magna Carta, luật pháp là quy
tắc cư xử chung mà chính nhà vua cũng bị ràng buộc và phải
tôn trọng. Điều này trên thực tế đã xóa bỏ nhận thức về vị trí và
quyền lực tuyệt đối, đứng trên pháp luật của vua chúa thời kỳ
phong kiến.
Giá trị của bản Đại Hiến chương rất lớn ở chỗ “không có
Điều gì trong Đại Hiến chương Magna Carta ngăn cản việc ban
hành và thực thi các Điều luật không công bằng, nhưng nó đưa
luật pháp lên một tầng cao mới, vượt qua giới hạn ý chí của
những người cai trị”, như nhận định của Peter Singer1. Nội
dung cốt lõi của Magna Carta bao hàm ý nghĩa kiểm soát quyền
lực. Đây là “văn bản đầu tiên” ghi rõ bằng giấy trắng mực đen
về giới hạn quyền lực của “giới cầm quyền”, và điều này được
đánh giá là điểm mốc cực kỳ quan trọng không chỉ với lịch sử
nước Anh hay châu Âu mà trên toàn cầu.
Lần đầu tiên trong chế độ phong kiến của nước Anh và trên
toàn thế giới, quyền lực chuyên chế của nhà vua bị giới hạn và
bị kiểm soát một cách công khai. Trong Magna Carta có quy
định rằng nhà vua không được tùy tiện tăng thuế và các đạo
luật về thuế mà nhà vua dự định ban hành phải có sự nhất trí
của một Hội đồng quý tộc (sau này mở rộng thành cơ quan đại
diện gồm không chỉ lãnh chúa, quý tộc mà cả thị dân). Bên cạnh
đó, Magna Carta cũng thiết lập cơ chế để bảo đảm văn kiện này
được thực thi, theo đó trong trường hợp nhà vua không tự
nguyện tuân thủ, Hội đồng Quý tộc có quyền ra lệnh chiếm giữ
_______________
1. Peter Singer: Magna Carta at 800, Project Syndicate, 04/6/2015,
bản dịch của Nghiên cứu quốc tế: Nguồn gốc và ý nghĩa của Đại Hiến
chương Magna Carta, xem http://nghiencuuquocte.org/2015/06/26/nguongoc-va-y-nghia-cua-dai-hien-chuong-magna-carta/.
16
Phần I: LÝ THUYẾT CHUNG VỀ NGUYÊN TẮC TRÌNH TỰ PHÁP LUẬT...
đất đai và các lâu đài của nhà vua cho tới khi nhà vua phải
chấp nhận và khắc phục.
Nội dung thứ hai phản ánh tinh thần bảo vệ quyền con
người khỏi những hành xử tùy tiện của vua chúa phong kiến.
Trong thời kỳ phong kiến, việc thách thức quyền năng tuyệt đối
của vua chúa với thần dân là rất khó khăn, vì vậy, việc bắt buộc
vua chúa phải tôn trọng các quyền của người dân thật sự là một
bước tiến nhảy vọt. Điều 39 Magna Carta quy định: “Không có
bất cứ một người tự do nào có thể bị giam cầm hay bỏ tù, bị tước
quyền hoặc tịch thu tài sản, bị đặt ngoài vòng pháp luật hoặc bị
tước địa vị dưới bất kỳ hình thức nào, chúng ta cũng không thể
dùng vũ lực để ép buộc người đó hoặc khiến người khác làm như
vậy, trừ khi có phán quyết hợp pháp của những người ngang
hàng với người đó hoặc bởi pháp luật nơi người đó cư ngụ quy
định như vậy”.
Những nguyên tắc về nhân quyền trong Đại Hiến chương đã
khơi gợi cảm hứng và được sử dụng như là nền tảng trong tất cả
những văn kiện nhân quyền nổi tiếng về sau của thế giới, trong
đó có Tuyên ngôn quốc tế về nhân quyền năm 1948 (UDHR).
Mặc dù ở thời kỳ đầu, quy định trên chỉ áp dụng với tầng
lớp lãnh chúa, quý tộc, song đây chính là tiền đề để sau này Nghị
viện Anh ban hành các đạo luật bảo vệ các quyền và tự do của
tất cả mọi người, trong đó bao gồm Luật Cấm bắt giam người
trái pháp luật (Habeas Corpus, hay còn gọi là Luật Bảo thân)
năm 1679 - quy định một người bị bắt có quyền được nhanh
chóng đưa ra một tòa án để xác định tính chất hợp pháp của
việc bắt giữ họ; Luật Khiếu nại về quyền (Petition of Right)
năm 1628 - quy định một người chỉ có thể bị tống giam khi có
phán quyết của tòa án hoặc lệnh bắt giữ của cơ quan nhà nước có
thẩm quyền; Bộ luật về quyền của nước Anh (English Bill of Rights)
Chương 1: Khái niệm và các nội dung cơ bản của nguyên tắc trình tự pháp luật...
17
năm 1689 - quy định về quyền bầu cử, quyền tự do ngôn luận
và một số quyền con người khác.
Nội dung thứ ba của Đại Hiến chương đề cao công lý và vai trò
của tòa án trong việc bảo vệ công lý. Thực chất nội dung này đã
tước bỏ quyền xét xử của nhà vua và trao cho một thiết chế
chuyên môn độc lập là tòa án. Lịch sử hiện đại của nhân loại đã
chứng minh rằng hướng tiếp cận này là hoàn toàn hợp lý và có ý
nghĩa đặc biệt to lớn trong việc bảo vệ công lý, bảo vệ nhân quyền.
Không chỉ vậy, nội dung thứ ba còn hàm ý thúc đẩy cơ chế xét xử
công bằng trong hoạt động tư pháp. Cụ thể, cụm từ “... trừ khi có
phán quyết hợp pháp của những người ngang hàng với người đó” ở
Điều 39 của Magna Carta phản ánh triết lý xét xử phải dựa trên
nền tảng công lý (question of justice), chứ không chỉ bám vào luật
(question of law). Quy định này cũng được xem là nền tảng cho
chế độ bồi thẩm đoàn (trial by jury) ở nước Anh và các nước khác
theo hệ thống thông luật (common law) về sau.
Tư tưởng về công lý ở Điều 39 còn được củng cố bằng quy
định ở Điều 40 của Magna Carta, trong đó nêu rõ rằng: “Sẽ
không ai bị bán cho người khác; quyền hay công lý của bất kỳ ai
cũng đều không bị từ chối”. Đoạn thứ hai của quy định này đã
đặt ra một nguyên tắc rất quan trọng trong tố tụng, đó là ngay
cả khi vụ việc chưa có luật quy định, thẩm phán cũng vẫn phải
thụ lý và xét xử, bởi “công lý bị trì hoãn cũng có nghĩa là công lý
bị từ chối” (Justice delayed is justice denied)1.
_______________
1. Đây là một câu châm ngôn pháp lý được sử dụng phổ biến từ thế
kỷ XX. Chẳng hạn, Martin Luther King Jr. nhắc đến châm ngôn này
trong “Letter from a Birmingham Jail”, xem https://www.africa.upenn.
edu/Articles_Gen/Letter_Birmingham.html. Về nguồn gốc, châm ngôn
này thường được cho là khởi nguồn từ thế kỷ XIX như trong phát biểu
của Thủ tướng Anh William E. Gladstone vào năm 1868 hay trong một số
của Tạp chí Louisiana Law Journal vào năm 1842.
18
Phần I: LÝ THUYẾT CHUNG VỀ NGUYÊN TẮC TRÌNH TỰ PHÁP LUẬT...
Với những ý nghĩa tích cực nêu trên, Magna Carta không
chỉ có ảnh hưởng đến sự phát triển của nền dân chủ ở nước
Anh, mà còn ở rất nhiều nước khác trên thế giới, đặc biệt là
những nước theo hệ thống thông luật. Những nguyên tắc về
pháp quyền được xác lập trong Magna Carta đã được kế thừa và
phát triển trong hiến pháp của hầu hết quốc gia. Mười tu chính
án đầu tiên của Hiến pháp Hoa Kỳ thực tế là sự kế thừa các quy
định của Magna Carta, đặc biệt là nguyên tắc trình tự công
bằng (due process of law) và nguyên tắc mọi người được bảo vệ
một cách bình đẳng bởi luật pháp (equal protection of the law).
Trong khi đó, những nguyên tắc về nhân quyền trong Đại Hiến
chương đã khơi gợi cảm hứng và được sử dụng như là nền tảng
trong tất cả những văn kiện nhân quyền nổi tiếng về sau của
thế giới, trong đó có UDHR. Không chỉ vậy, Magna Carta còn
được sử dụng như là một vũ khí hiệu quả để chống lại sự lạm
dụng và vi phạm nhân quyền trong thực tế. Lịch sử đã ghi nhận
ở nước Anh, ngay từ thế kỷ XVI, những người nông dân đã biết
trích dẫn Đại Hiến chương trong các cuộc đấu tranh chống lại
sự bất công. Còn trong những năm 1640, các nghị sĩ Anh đã coi
Magna Carta là một cơ sở pháp lý để lật đổ vua Charles I.
Nhiều nhà cách mạng lớn của thế giới sau này, như Nelson
Mandela, đã biện minh cho những hành động của mình bằng
việc dựa vào Đại Hiến chương Magna Carta.
Magna Carta có tính chất ban đầu là một hiệp định hòa
bình thể hiện mối quan hệ giữa một vị quân chủ và các nhà quý
tộc nước Anh từ hơn 800 năm trước đây, song với nội dung hàm
chứa những tư tưởng tiến bộ và khai phóng vượt qua tầm thời
đại (trung cổ), Magna Carta đã trở thành một biểu tượng đầy
sức mạnh trong tiến trình xây dựng dân chủ và nhân quyền ở
nước Anh, châu Âu, châu Mỹ trước đây và trên toàn thế giới
Chương 1: Khái niệm và các nội dung cơ bản của nguyên tắc trình tự pháp luật...
19
hiện nay. Văn kiện này đã và sẽ còn được nhắc đến như một tài
liệu có tầm ảnh hưởng rộng rãi nhất về tư tưởng trong lịch sử
nhân loại. Chính vì vậy, có thể xem Magna Carta là một trong
những báu vật góp phần tạo lên “quyền lực mềm” của nước
Anh, là một “món quà của nước Anh dành cho nhân loại”1.
1.2. Nội dung học thuyết về trình tự công bằng trong Đại
Hiến chương Magna Carta
Hiện nay, học thuyết về trình tự công bằng thường được
thảo luận theo nghĩa hẹp của nó, tức gắn với các quyền xét xử
công bằng trong tố tụng hình sự (criminal fair trial rights) đã
được khẳng định trong các bộ luật quốc tế về quyền con người2
cũng như hiến pháp nhiều quốc gia. Điều này có vẻ thể hiện sự
tương thích cao giữa nguyên lý trình tự công bằng khởi nguồn
từ Magna Carta và quan niệm về nguyên tắc xét xử công bằng
trong thời hiện đại. Tuy nhiên, nguyên lý trình tự công bằng có
nội hàm rộng hơn quyền xét xử công bằng trong tố tụng hình sự
rất nhiều. Điều này được chứng tỏ qua chính tinh thần của lời
văn Magna Carta 800 năm trước. Chương 29 Magna Carta nêu:
“Không một người tự do nào bị cầm tù hoặc tước đoạt tài sản, tự
do, phong tục, hoặc bị ngăn cấm, đày ải, đối xử tàn ác, và cũng
không ai bị ép buộc thực hiện những điều đó, mà không dựa
trên một phán quyết hợp pháp của những thành viên cộng đồng
hoặc theo luật pháp của quốc gia (the law of the land). Chúng ta
_______________
1. Vũ Công Giao: Đại Hiến chương Magna Carta: Một món quà của
nước Anh dành cho nhân loại, xem https://tiasang.com.vn/-dien-dan/DaiHien-chuong-Magna-Carta-Mot-mon-qua-cua-nuoc-Anh-danh-chonhan-loai-12815.
2. Xem: Tuyên ngôn quốc tế về nhân quyền năm 1948 (UDHR), Điều 14
Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị năm 1966 (ICCPR) và
Điều 6 Công ước Nhân quyền châu Âu năm 1950 (ECHR).
20
Phần I: LÝ THUYẾT CHUNG VỀ NGUYÊN TẮC TRÌNH TỰ PHÁP LUẬT...
không phản bội, phủ nhận hay khước từ công lý và quyền của
bất kỳ ai”1.
Một Điều đáng lưu ý là, mặc dù Magna Carta được coi là
khởi nguồn của học thuyết “due process of law”2, thuật ngữ “due
process of law” lại không tồn tại trong lời văn Đại Hiến chương,
mà chỉ có cụm từ “the law of the land” (luật pháp của quốc gia).
Trong thời gian trị vì của vua Edward III (1327-1377), Nghị
viện Anh đã ban hành 6 đạo luật giải thích ý nghĩa và phạm vi
các quyền tự do được bảo đảm trong Magna Carta. Các luật này
giải thích cụm từ “the law of the land” là các thủ tục tư pháp
nhằm bảo vệ quyền tự do của thần dân3. Một trong các luật đó,
được ban hành năm 1354, lần đầu tiên sử dụng thuật ngữ “due
process of law” thay cho “the law of the land: “không ai... bị trục
xuất, tù tội, tước quyền sống hoặc tự do, mà không đòi hỏi tuân
thủ trình tự pháp lý công bằng (due process of the law)”. Đây có
thể nói là văn bản đầu tiên chính thức sử dụng thuật ngữ “due
_______________
1. Phần in nghiêng do tác giả nhấn mạnh. Lời văn này nằm trong
Magna Carta phiên bản năm 1297, được viết bằng tiếng Latin và dịch sang
tiếng Anh. Theo phiên bản Magna Carta đầu tiên năm 1215, lời văn này
nằm trong Chương 39. Nhưng theo các bản sửa đổi từ năm 1225, phần này
thuộc Chương 29. Có nhiều bản dịch khác nhau, một trong số đó là: “No
Freeman shall be taken or imprisoned, or be disseised of his Freehold, or
Liberties, or free Customs, or be outlawed, or exiled, or any other wise
destroyed; nor will We not pass upon him, nor [condemn him,] but by
lawful judgment of his Peers, or by the Law of the Land. We will sell to no
man, we will not deny or defer to any man either Justice or Right”, xem
http://www.legislation.gov.uk/aep/Edw1cc1929/25/9/section/XXIX).
2. Nathan S. Chapman and Michael W. McConnell: Due Process as
Separation of Powers,121 Yale Law Journal 1672 1681, 2012, p.1681.
3. https://loc.gov/exhibits/magna-carta-muse-and-mentor/due-processof-law.html#:~:text=It%20traces%20its%20origins%20to,customary%20
practices%20of%20the%20court.
Chương 1: Khái niệm và các nội dung cơ bản của nguyên tắc trình tự pháp luật...
21
process of law”1. Năm 1642 (tức gần 300 năm sau đạo luật năm
1354 và hơn 400 năm sau Magna Carta), Sir Coke đã giải thích
rằng “due process of law” đồng nghĩa với “the law of the land”
trong Magna Carta2.
Vậy, đâu là mối liên hệ giữa hai khái niệm “the law of the
land” trong Magna Carta và “due process of law”. Để nắm bắt
chính xác tinh thần của Chương 29 Magna Carta, chúng ta cần
hiểu bối cảnh nước Anh lúc đó. Những năm đầu thế kỷ XIII,
dưới sức ép mạnh mẽ trong xã hội, Vua John đã buộc phải chấp
nhận Magna Carta - văn bản nhằm hạn chế những quyền lực
tuyệt đối của mình. Quyền lực nhà nước (của vua) không còn
tuyệt đối mà phải tuân thủ “luật pháp quốc gia”. “Luật pháp
quốc gia” ở đây bao gồm cả thông luật (common law) và đạo luật
(statute law)3. Như vậy, Chương 29 Magna Carta đã thể hiện tư
tưởng xóa bỏ quyền lực quân chủ tuyệt đối và do đó quyền lực
nhà nước phải bị hạn chế - một tư tưởng cốt lõi của học thuyết
nhà nước pháp quyền (rule of law), đã trở thành nền tảng của
các hiến pháp hiện đại. Vì vậy, theo nghĩa rộng nhất, học
thuyết “due process of law” cũng chính là các giá trị về nhà
nước pháp quyền đã được khẳng định trong Magna Carta. Hay
nói cách khác, hai thuật ngữ “rule of law” và “due process” khá
tương đồng4 và thậm chí có thể thay thế cho nhau5. Sullivan và
_______________
1, 3. Nathan S. Chapman and Michael W. McConnell: Due Process as
Separation of Powers, Ibid, p. 1682.
2. Edward Coke: The Second Part of the Institutes of the Laws of
England 50, (photo. reprint 2002) (London, W. Clarke & Sons 1817) (1642).
4. Geoffrey Marshall: Due Process in England in J. Roland Pennock
and John W. Chapman (eds): Due Process, New York University Press,
1977, p. 69.
5. E. Thomas Sullivan and Toni M. Massaro: The Arc of Due Process in
American Constitutional Law, Oxford University Press, 2013, p. 1.
22
Phần I: LÝ THUYẾT CHUNG VỀ NGUYÊN TẮC TRÌNH TỰ PHÁP LUẬT...
Massaro đã khẳng định những nguyên tắc của nhà nước pháp
quyền thể hiện trong học thuyết trình tự công bằng như sau:
- Các thủ tục công bằng (fair procedures), đặc biệt là quyền
được cảnh báo và quyền được xét xử.
- Tính vô tư (impartiality) của các cơ quan ra quyết định.
- Tôn trọng các các tiêu chuẩn đạo đức và truyền thống.
- Luật pháp không áp dụng hồi tố (not retrospective but
prospective).
- Các thủ tục pháp lý mang tính minh bạch và dễ hiểu
(transparency and accessibility).
- Các hành vi của nhà nước phải tương xứng (proportionality)
với mục đích.
- Tôn trọng tự do cá nhân (individual autonomy and liberty).
- Tôn trọng quyền bình đẳng (equality).
- Tôn trọng sự phân chia quyền lực (separation of powers)
và những cơ chế khác nhằm giới hạn quyền lực nhà nước1.
Tương tự, Geoffrey Marshall cho rằng những thành tố cấu
thành nên khái niệm nhà nước pháp quyền hay khái niệm trình
tự công bằng bao gồm: công bằng (fairness), vô tư (impartiality),
độc lập (independence), bình đẳng (equality), công khai
(openness), hợp lý (rationality), chắc chắn (certainty) và phổ quát
(universality)2. Tóm lại, học thuyết due process có mục đích tối
thượng là bảo vệ người dân trước nguy cơ lạm quyền của nhà
nước3. Nhà nước ở đây bao gồm cả ba nhánh quyền lực lập pháp,
hành pháp và tư pháp. Gần đây, Chapman và McConnell cũng đã
khẳng định “trình tự công bằng chính là phân chia quyền lực”4.
_______________
1, 3. E. Thomas Sullivan and Toni M. Massaro: The Arc of Due Process
in American Constitutional Law, Ibid, p.xiii.
2. Geoffrey Marshall: Due Process in England, Ibid, p.70.
4. Nathan S. Chapman and Michael W. McConnell: Due Process as
Separation of Powers, Ibid.
Chương 1: Khái niệm và các nội dung cơ bản của nguyên tắc trình tự pháp luật...
23
2. Học thuyết trình tự công bằng trong Luật Hiến
pháp Hoa Kỳ
2.1. Sự ghi nhận học thuyết trình tự công bằng trong Hiến
pháp Hoa Kỳ
Mặc dù nước Anh là cái nôi của quan niệm về trình tự công
bằng, học thuyết này lại được tiếp nhận một cách chính thức và
phát triển mạnh cho đến ngày nay tại Hoa Kỳ. Thật vậy, trong
suốt lịch sử nước Anh rất hiếm khi thuật ngữ “due process of
law” được nhắc đến trong các đạo luật mang tính hiến pháp cũng
như trong các bản án của tòa án. Thay vào đó, nền luật học Anh
hay đề cập những khái niệm gần gũi với “due process” như công
lý tự nhiên (natural justice) hay tính hợp lý (reasonableness).
Đạo luật về quyền con người năm 1998 (Human Rights Act) một văn bản mang tính hiến pháp, không đề cập “due process”
cũng như không liệt kê các quyền cụ thể mà chủ yếu cam kết
thực hiện các cơ chế về quyền đã được quy định tại Công ước
châu Âu về quyền con người và được giải thích bằng hệ thống án
lệ đồ sộ của Tòa án Nhân quyền châu Âu.
Trong khi đó, “due process of law” được ghi nhận chính
thức, long trọng tới hai lần trong Hiến pháp Hoa Kỳ với tư cách
là một nguyên tắc cốt lõi, căn bản. Các nhà sáng lập nước Mỹ đã
tiếp thu ý tưởng về trình tự công bằng từ nước Anh, với sự kế
thừa và phát triển lên một bậc, bao gồm cả ý tưởng về kiểm soát
cơ quan lập pháp - một khía cạnh quan trọng của “due process”
được Thẩm phán Coke khởi xướng trong vụ án Dr. Bonham
năm 1610, nhưng đã không được hiện thực hóa ở Anh do vị trí
tối cao của Nghị viện. Vụ án Dr. Bonham liên quan...
GIÁM ĐỐC - TỔNG BIÊN TẬP
PGS.TS. PHẠM MINH TUẤN
Chịu trách nhiệm nội dung
ỦY VIÊN HỘI ĐỒNG BIÊN TẬP - XUẤT BẢN
TS. VÕ VĂN BÉ
Biên tập nội dung: ThS. VĂN THỊ THANH HƯƠNG
ThS. NGUYỄN THỊ HẢI BÌNH
ThS. TRẦN KHÁNH LY
ThS. NGUYỄN VIỆT HÀ
Trình bày bìa:
NGUYỄN VIỆT THẮNG
Chế bản vi tính:
NGUYỄN THỊ VÂN HÀ
Đọc sách mẫu:
TRẦN KHÁNH LY
BÙI BỘI THU
_______________________________________________
Số đăng ký kế hoạch xuất bản: 2650-2022/CXBIPH/30-106/CTQG.
Số quyết định xuất bản: 1560-QĐ/NXBCTQG, ngày 09/8/2022.
Nộp lưu chiểu: tháng 8 năm 2022.
Mã ISBN: 978-604-57-7958-3.
TẬP THỂ TÁC GIẢ
PGS.TS. NGUYỄN HOÀNG ANH
Khoa Luật, Đại học Quốc gia Hà Nội
GS.TS. NGUYỄN ĐĂNG DUNG
Khoa Luật, Đại học Quốc gia Hà Nội
TS. BÙI TIẾN ĐẠT
Khoa Luật, Đại học Quốc gia Hà Nội
PGS.TS. BÙI XUÂN ĐỨC
Khoa Luật, Trường Đại học Đại Nam
PGS.TS. VŨ CÔNG GIAO
Khoa Luật, Đại học Quốc gia Hà Nội
TS. ĐINH THẾ HƯNG
Viện Nhà nước và Pháp luật, Viện Hàn
lâm Khoa học xã hội Việt Nam
TS. NGUYỄN VĂN QUÂN
Khoa Luật, Đại học Quốc gia Hà Nội
TS. NGUYỄN MINH TÂM
Khoa Luật, Đại học Quốc gia Hà Nội
GS.TS. PHẠM HỒNG THÁI
Khoa Luật, Đại học Quốc gia Hà Nội
TS. NGUYỄN BÍCH THẢO
Khoa Luật, Đại học Quốc gia Hà Nội
TS. MAI VĂN THẮNG
Khoa Luật, Đại học Quốc gia Hà Nội
PGS.TS. ĐẶNG MINH TUẤN
Khoa Luật, Đại học Quốc gia Hà Nội
PGS.TS. NGUYỄN MINH TUẤN Khoa Luật, Đại học Quốc gia Hà Nội
TS. TRẦN ANH TÚ
Khoa Luật, Đại học Quốc gia Hà Nội
ThS. NINH VIẾT TÙNG
Tòa án nhân dân thành phố Hòa Bình,
tỉnh Hòa Bình
5
LỜI NHÀ XUẤT BẢN
T
rên thế giới, nguyên tắc trình tự pháp luật công bằng,
hợp lý đã xuất hiện từ năm 1215 tại Vương quốc Anh
và sau đó lan tỏa ra rất nhiều quốc gia khác. Nguyên tắc này đã
đóng một vai trò vô cùng quan trọng trong sự hình thành và
phát triển việc bảo vệ các quyền con người của pháp luật quốc
tế. Theo đó, “Mọi người sinh ra tự do và bình đẳng về phẩm
cách và quyền lợi, có lý trí và lương tri, và phải đối xử với nhau
trong tình bác ái” (Điều 1 Tuyên ngôn quốc tế về nhân quyền
năm 1948). Mặc dù không thực sự được nhắc đến theo đúng tên
nguyên gốc, nhưng nguyên tắc trình tự pháp luật công bằng,
hợp lý đã được pháp luật nước ta đề cập tại Hiến pháp năm
2013 và một số văn bản quy phạm pháp luật khác. Tuy nhiên,
việc thực thi những quy định của pháp luật liên quan đến
nguyên tắc trình tự công bằng, hợp lý vẫn chưa thực sự đạt
được như mong đợi.
Đáp ứng nhu cầu tìm hiểu và áp dụng nguyên tắc trình tự
công bằng, hợp lý trong lĩnh vực phi hình sự (tố tụng dân sự, tố
tụng hành chính) và trong thủ tục hành chính đang ngày càng
cao, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia Sự thật xuất bản cuốn
sách Nguyên tắc trình tự pháp luật công bằng, hợp lý và
vai trò bảo vệ quyền con người (Sách chuyên khảo) do
TS. Bùi Tiến Đạt, giảng viên Khoa Luật, Đại học Quốc gia Hà Nội
6
NGUYÊN TẮC TRÌNH TỰ PHÁP LUẬT CÔNG BẰNG, HỢP LÝ...
làm chủ biên. Cuốn sách gồm 12 chương, chia làm 4 phần, đề
cập những nghiên cứu của các tác giả về nguyên tắc trình tự
pháp luật công bằng, hợp lý và việc áp dụng các nguyên tắc này
trên thực tiễn thi hành pháp luật ở Việt Nam. Cuốn sách là một
tài liệu hữu ích cho các nhà lập pháp, các cơ quan tư pháp, các
cơ quan hành chính nhà nước, các nhà khoa học, giảng viên, học
viên và sinh viên ngành luật trong việc nghiên cứu, tìm hiểu và
áp dụng pháp luật trong lĩnh vực này.
Xin trân trọng giới thiệu cuốn sách cùng bạn đọc.
Tháng 5 năm 2021
NHÀ XUẤT BẢN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA SỰ THẬT
7
LỜI GIỚI THIỆU
N
guyên tắc trình tự pháp luật công bằng, hợp lý (due
process1 of law) - thường được gọi ngắn gọn là trình tự
công bằng (due process) - là nền tảng của các hiến pháp hiện
đại vì nó đảm bảo những giá trị của nhà nước pháp quyền.
Nghiên cứu về học thuyết trình tự pháp luật công bằng luôn là
một lĩnh vực quan trọng trong khoa học pháp lý trên thế giới.
Những công trình nghiên cứu về chủ đề này đặc biệt sâu và
rộng ở các nền luật học phát triển như châu Âu và Anh - Mỹ.
Tuy nhiên, vẫn còn thiếu vắng những nghiên cứu sâu và toàn
diện về nhu cầu và khả năng áp dụng học thuyết này cho những
quốc gia đang trong quá trình cải cách pháp luật và xây dựng
nhà nước pháp quyền như Việt Nam.
Hiện nay, học thuyết về trình tự công bằng thường được thảo
luận theo nghĩa hẹp của nó, tức gắn với các quyền xét xử công
bằng trong tố tụng hình sự (criminal fair trial rights), vốn được
khẳng định trong các bộ luật quốc tế về quyền con người cũng như
hiến pháp của nhiều quốc gia (trong đó có Việt Nam). Điều này có
vẻ thể hiện sự tương thích cao giữa nguyên tắc trình tự công bằng
_______________
1. Từ “due” phản ánh nghĩa rất rộng, gồm các ngữ nghĩa như công
bằng, hợp lý, đúng đắn, chuẩn, chặt chẽ... Trong cuốn sách chuyên khảo
này, ở nhiều chỗ các tác giả chọn cách dịch khái quát, ngắn gọn là “công
bằng, hợp lý” hoặc gọn hơn nữa là “công bằng” nhằm phản ánh từ “due”.
Bên cạnh đó, các thuật ngữ “đúng đắn”, “chuẩn”, “chặt chẽ” cũng được sử
dụng rải rác trong cuốn sách này với ý nghĩa tương đồng. Còn từ
“process” được dịch là “trình tự” hoặc “thủ tục”.
8
NGUYÊN TẮC TRÌNH TỰ PHÁP LUẬT CÔNG BẰNG, HỢP LÝ...
khởi nguồn từ Đại Hiến chương về tự do năm 1215 - Magna Carta
Libertatum (Đại Hiến chương Magna Carta) và quan niệm về
nguyên tắc xét xử công bằng trong thời hiện đại. Tuy nhiên,
nguyên tắc trình tự pháp luật công bằng có nội hàm rộng hơn rất
nhiều so với quyền xét xử công bằng trong tố tụng hình sự.
Học thuyết trình tự pháp luật công bằng khởi nguồn từ Đại
Hiến chương Magna Carta, sau đó được phát triển mạnh mẽ
trong nền luật học Anh - Mỹ và lan tỏa ở phạm vi toàn cầu.
Trong các hiến pháp đương đại, một số quốc gia (nổi bật là Hoa
Kỳ) đã long trọng ghi nhận trình tự công bằng là một nguyên
tắc cốt lõi. Cụ thể, Tu chính án thứ 5 (năm 1791) của Hiến pháp
Hoa Kỳ tuyên bố: “Không ai bị... tước bỏ tính mạng, tự do và tài
sản mà không dựa trên trình tự pháp luật công bằng”. Tu chính
án thứ 14 (năm 1868) một lần nữa khẳng định: “không bang
nào được tước bỏ tính mạng, tự do và tài sản của bất kỳ ai mà
không dựa trên trình tự pháp luật công bằng”. Các văn kiện
quốc tế về quyền con người tuy không trực tiếp đề cập thuật
ngữ “due process”, nhưng vẫn thể hiện rõ tinh thần của học
thuyết trình tự công bằng thông qua các quy định về quyền xét
xử công bằng và nguyên tắc giới hạn quyền con người.
Trong khi các nghiên cứu về thủ tục pháp lý chặt chẽ (trình tự
pháp luật công bằng) trên thế giới rất đồ sộ, ở Việt Nam chủ đề
này chưa được quan tâm đúng mức và chỉ mới được khởi xướng
gần đây. Các thuật ngữ mô tả khái niệm “due process” hiếm khi
xuất hiện trong các diễn đàn luật học ở Việt Nam. Hiến pháp Việt
Nam năm 2013 (Hiến pháp năm 2013) đã có những tiến bộ đáng
kể khi lần đầu tiên hiến định trình tự công bằng nội dung thông
qua nguyên tắc hạn chế quyền con người. Hiến pháp cũng thể
hiện sự ghi nhận đầy đủ hơn các quyền xét xử công bằng, vốn
phản ánh công bằng thủ tục. Có thể nói Hiến pháp năm 2013 đã
thiết lập cơ sở hiến định quan trọng cho sự tiếp nhận toàn diện
LỜI GIỚI THIỆU
9
học thuyết trình tự công bằng (cũng chính là nguyên tắc thủ tục
pháp lý chặt chẽ) ở Việt Nam. Nghiên cứu nhu cầu, thuận lợi và
thách thức của sự tiếp nhận này sẽ giúp đề ra định hướng, giải
pháp nhằm nâng cao hiệu lực của Hiến pháp và về lâu dài đóng
góp cho việc sửa đổi Hiến pháp trong tương lai.
Với mục tiêu đánh giá việc áp dụng nguyên tắc thủ tục pháp
lý chặt chẽ trong cơ chế kiểm soát quyền lực nhà nước, bảo vệ
quyền con người, xây dựng pháp luật hợp hiến và đảm bảo thủ
tục pháp lý công bằng, chủ đề của sách chuyên khảo này thuộc
lĩnh vực trọng điểm quốc gia. Cuốn sách góp phần đề xuất “... cơ
sở khoa học và thực tiễn để đổi mới hệ thống chính trị, đổi mới
phương thức lãnh đạo của Đảng, đổi mới quản lý nhà nước, phát
huy mạnh mẽ quyền làm chủ của nhân dân, đẩy mạnh cải cách
hành chính, cải cách tư pháp, xây dựng và hoàn thiện Nhà nước
pháp quyền Việt Nam xã hội chủ nghĩa” và “đổi mới, tăng cường
vai trò, trách nhiệm của các tổ chức trong hệ thống chính trị;
tăng cường hiệu lực pháp luật, pháp chế xã hội chủ nghĩa; bảo
đảm quyền con người, quyền công dân”1.
Cuốn sách chuyên khảo này sẽ mở ra hướng nghiên cứu mới
nhằm đưa ra luận cứ khoa học cho việc xây dựng nhà nước pháp
quyền ở Việt Nam hiện nay, thể hiện ở những khía cạnh sau:
Thứ nhất, nguyên tắc trình tự pháp luật công bằng, hợp lý là
một cách tiếp cận mới về luật hiến pháp và luật nhân quyền
trong nền luật học Việt Nam, đồng thời cũng là cách tiếp cận
mang tính tổng thể nhằm kết hợp đánh giá cơ chế kiểm soát
quyền lực nhà nước và cơ chế bảo vệ quyền con người. Thứ hai,
góp phần đẩy mạnh hướng tiếp cận trình tự công bằng, hợp lý
_______________
1. Mục III.3.a Quyết định số 418/QĐ-TTg ngày 11/4/2012 của Thủ
tướng Chính phủ phê duyệt Chiến lược phát triển khoa học và công nghệ
giai đoạn 2011 - 2020.
10
NGUYÊN TẮC TRÌNH TỰ PHÁP LUẬT CÔNG BẰNG, HỢP LÝ...
trong việc nghiên cứu các lĩnh vực khác của khoa học pháp lý như
Luật Tố tụng hình sự, Luật Tố tụng dân sự, Luật Tố tụng hành
chính, Luật Hành chính và các lĩnh vực luật thủ tục khác. Do đó,
cuốn sách chuyên khảo này là tài liệu học tập, nghiên cứu cho các
chương trình đào tạo tiến sĩ, thạc sĩ, cử nhân của Khoa Luật, Đại
học Quốc gia Hà Nội và các cơ sở đào tạo, nghiên cứu khác.
Cuốn sách gồm 12 Chương, được chia thành 4 phần:
Phần I: Lý thuyết chung về nguyên tắc trình tự pháp luật
công bằng, hợp lý.
Phần II: Trình tự công bằng về nội dung: nguyên tắc giới
hạn quyền con người.
Phần III: Trình tự công bằng về thủ tục: quyền xét xử công bằng.
Phần IV: Vận dụng nguyên tắc trình tự pháp luật công
bằng, hợp lý ở Việt Nam.
Các tác giả trân trọng cảm ơn những tư vấn, góp ý về cách
tiếp cận và nội dung cuốn sách của nhiều nhà khoa học, đặc biệt
là GS. Carlos Bernal-Pulido (Trường Luật, Đại học Dayton, Hoa
Kỳ; cựu thẩm phán Tòa án Hiến pháp Colombia), GS.TSKH.
Đào Trí Úc, PGS.TS. Nguyễn Ngọc Chí, PGS.TS. Nguyễn Thị
Quế Anh, PGS.TS. Trịnh Tiến Việt (Khoa Luật, Đại học Quốc
gia Hà Nội), PGS.TS. Võ Trí Hảo (Trường Đại học Gia Định),
TS. Trần Kiên, TS. Lê Lan Chi, TS. Đỗ Giang Nam (Khoa Luật,
Đại học Quốc gia Hà Nội).
Do học thuyết, nguyên tắc về trình tự pháp luật công bằng,
hợp lý là một chủ đề rộng lớn và còn khá mới mẻ ở Việt Nam, nội
dung cuốn sách có thể còn gây nhiều tranh luận và không tránh
khỏi thiếu sót. Các tác giả mong muốn và chân thành cảm ơn sự
quan tâm và góp ý của độc giả để hoàn thiện thêm khi tái bản.
Hà Nội, tháng 3 năm 2021
Thay mặt nhóm tác giả - Chủ biên
TS. Bùi Tiến Đạt
11
PHẦN I
LÝ THUYẾT CHUNG VỀ NGUYÊN TẮC
TRÌNH TỰ PHÁP LUẬT CÔNG BẰNG, HỢP LÝ
12
13
Chương 1
KHÁI NIỆM VÀ CÁC NỘI DUNG CƠ BẢN
CỦA NGUYÊN TẮC TRÌNH TỰ PHÁP LUẬT CÔNG BẰNG,
HỢP LÝ TRONG LỊCH SỬ LẬP HIẾN TRÊN THẾ GIỚI
1. Trình tự pháp luật công bằng trong Đại Hiến
chương Magna Carta
1.1. Bối cảnh ra đời và nội dung cơ bản của Đại Hiến chương
Magna Carta
Năm 2015 thế giới kỷ niệm 800 năm ra đời của Đại Hiến
chương về Tự do năm 1215, theo văn bản gốc tiếng Latin là
“Magna Carta Libertatum”, dịch sang tiếng Anh là “Great
Charter of the Liberties”. Magna Carta đã trở thành một thuật
ngữ quốc tế mà không nhất thiết phải dịch sang một ngôn ngữ
nào đó. Magna Carta chứa đựng một học thuyết nổi tiếng trong
chính trị học và luật học - nguyên tắc trình tự công bằng của
pháp luật (due process of law) - và thường được gọi ngắn gọn là
trình tự công bằng (due process).
Đại Hiến chương Magna Carta là văn bản đầu tiên ghi rõ
giới hạn quyền lực của giới cầm quyền và được đánh giá là điểm
mốc cực kỳ quan trọng không chỉ với lịch sử nước Anh hay châu
Âu mà trên toàn cầu. Những nguyên tắc về pháp quyền được
xác lập trong Magna Carta đã được kế thừa và phát triển trong
hiến pháp của hầu hết quốc gia.
14
Phần I: LÝ THUYẾT CHUNG VỀ NGUYÊN TẮC TRÌNH TỰ PHÁP LUẬT...
Vào ngày 15/6/1215, tại Runnymede, sau một thời gian
xung đột gay gắt, Vua John của nước Anh đã rơi vào thế yếu và
phải chấp nhận ký kết một văn bản thỏa hiệp với các lãnh chúa
nước này, mà sau đó được gọi là Magna Carta, hay “Đại Hiến
chương Magna Carta”. Magna Carta đầu tiên bao gồm lời mở
đầu và 63 điều, khoản. Với tính chất là một hiệp ước hòa bình,
mục đích khởi nguyên của Magna Carta là thể hiện sự cam kết
của vua Anh tôn trọng quyền lợi của giáo hội và của giới quý tộc
phong kiến nước này thời kỳ ấy. Tuy nhiên, ý nghĩa của văn
kiện nổi tiếng này đã vượt xa mục tiêu hạn hẹp đó, chủ yếu qua
các nội dung chính, đó là:
1) Mọi người trong xã hội, kể cả nhà vua, đều phải tuân thủ
pháp luật. Vua cũng không được đứng trên pháp luật, cụ thể là
không được tùy tiện tăng thuế, bắt giữ người.
2) Không một công dân tự do nào bị bắt, giam giữ, trừ khi
việc đó là do việc xét xử và kết tội của một tòa án được lập ra
bởi các công dân khác.
3) Một người bị bắt giữ cần phải được nhanh chóng đưa ra
tòa án để xét xử và phán quyết. Không ai bị từ chối quyền và
công lý bởi tòa án.
4) Giáo hội Anh được tự do, không chịu sự kiểm soát bởi bất
kỳ thế lực nào, kể cả nhà vua và Tòa Thánh Vatican.
Cả bốn nội dung nêu trên đều có ý nghĩa là nền tảng cho sự
phát triển của chế độ dân chủ ở nước Anh về sau. Tuy nhiên, ba
nội dung đầu tiên có giá trị nổi bật hơn cả.
Nội dung thứ nhất phản ánh tinh thần thượng tôn pháp
luật, theo đó pháp luật là thiêng liêng và tối thượng, là cơ sở xác
lập và bảo hộ cho mối quan hệ hài hòa giữa người với người
trong xã hội. Thượng tôn pháp luật chính là khởi nguồn và nền
tảng của tư tưởng pháp quyền (Rule of law) - một tư tưởng cột
Chương 1: Khái niệm và các nội dung cơ bản của nguyên tắc trình tự pháp luật...
15
trụ của các nền dân chủ. Trong Magna Carta, luật pháp là quy
tắc cư xử chung mà chính nhà vua cũng bị ràng buộc và phải
tôn trọng. Điều này trên thực tế đã xóa bỏ nhận thức về vị trí và
quyền lực tuyệt đối, đứng trên pháp luật của vua chúa thời kỳ
phong kiến.
Giá trị của bản Đại Hiến chương rất lớn ở chỗ “không có
Điều gì trong Đại Hiến chương Magna Carta ngăn cản việc ban
hành và thực thi các Điều luật không công bằng, nhưng nó đưa
luật pháp lên một tầng cao mới, vượt qua giới hạn ý chí của
những người cai trị”, như nhận định của Peter Singer1. Nội
dung cốt lõi của Magna Carta bao hàm ý nghĩa kiểm soát quyền
lực. Đây là “văn bản đầu tiên” ghi rõ bằng giấy trắng mực đen
về giới hạn quyền lực của “giới cầm quyền”, và điều này được
đánh giá là điểm mốc cực kỳ quan trọng không chỉ với lịch sử
nước Anh hay châu Âu mà trên toàn cầu.
Lần đầu tiên trong chế độ phong kiến của nước Anh và trên
toàn thế giới, quyền lực chuyên chế của nhà vua bị giới hạn và
bị kiểm soát một cách công khai. Trong Magna Carta có quy
định rằng nhà vua không được tùy tiện tăng thuế và các đạo
luật về thuế mà nhà vua dự định ban hành phải có sự nhất trí
của một Hội đồng quý tộc (sau này mở rộng thành cơ quan đại
diện gồm không chỉ lãnh chúa, quý tộc mà cả thị dân). Bên cạnh
đó, Magna Carta cũng thiết lập cơ chế để bảo đảm văn kiện này
được thực thi, theo đó trong trường hợp nhà vua không tự
nguyện tuân thủ, Hội đồng Quý tộc có quyền ra lệnh chiếm giữ
_______________
1. Peter Singer: Magna Carta at 800, Project Syndicate, 04/6/2015,
bản dịch của Nghiên cứu quốc tế: Nguồn gốc và ý nghĩa của Đại Hiến
chương Magna Carta, xem http://nghiencuuquocte.org/2015/06/26/nguongoc-va-y-nghia-cua-dai-hien-chuong-magna-carta/.
16
Phần I: LÝ THUYẾT CHUNG VỀ NGUYÊN TẮC TRÌNH TỰ PHÁP LUẬT...
đất đai và các lâu đài của nhà vua cho tới khi nhà vua phải
chấp nhận và khắc phục.
Nội dung thứ hai phản ánh tinh thần bảo vệ quyền con
người khỏi những hành xử tùy tiện của vua chúa phong kiến.
Trong thời kỳ phong kiến, việc thách thức quyền năng tuyệt đối
của vua chúa với thần dân là rất khó khăn, vì vậy, việc bắt buộc
vua chúa phải tôn trọng các quyền của người dân thật sự là một
bước tiến nhảy vọt. Điều 39 Magna Carta quy định: “Không có
bất cứ một người tự do nào có thể bị giam cầm hay bỏ tù, bị tước
quyền hoặc tịch thu tài sản, bị đặt ngoài vòng pháp luật hoặc bị
tước địa vị dưới bất kỳ hình thức nào, chúng ta cũng không thể
dùng vũ lực để ép buộc người đó hoặc khiến người khác làm như
vậy, trừ khi có phán quyết hợp pháp của những người ngang
hàng với người đó hoặc bởi pháp luật nơi người đó cư ngụ quy
định như vậy”.
Những nguyên tắc về nhân quyền trong Đại Hiến chương đã
khơi gợi cảm hứng và được sử dụng như là nền tảng trong tất cả
những văn kiện nhân quyền nổi tiếng về sau của thế giới, trong
đó có Tuyên ngôn quốc tế về nhân quyền năm 1948 (UDHR).
Mặc dù ở thời kỳ đầu, quy định trên chỉ áp dụng với tầng
lớp lãnh chúa, quý tộc, song đây chính là tiền đề để sau này Nghị
viện Anh ban hành các đạo luật bảo vệ các quyền và tự do của
tất cả mọi người, trong đó bao gồm Luật Cấm bắt giam người
trái pháp luật (Habeas Corpus, hay còn gọi là Luật Bảo thân)
năm 1679 - quy định một người bị bắt có quyền được nhanh
chóng đưa ra một tòa án để xác định tính chất hợp pháp của
việc bắt giữ họ; Luật Khiếu nại về quyền (Petition of Right)
năm 1628 - quy định một người chỉ có thể bị tống giam khi có
phán quyết của tòa án hoặc lệnh bắt giữ của cơ quan nhà nước có
thẩm quyền; Bộ luật về quyền của nước Anh (English Bill of Rights)
Chương 1: Khái niệm và các nội dung cơ bản của nguyên tắc trình tự pháp luật...
17
năm 1689 - quy định về quyền bầu cử, quyền tự do ngôn luận
và một số quyền con người khác.
Nội dung thứ ba của Đại Hiến chương đề cao công lý và vai trò
của tòa án trong việc bảo vệ công lý. Thực chất nội dung này đã
tước bỏ quyền xét xử của nhà vua và trao cho một thiết chế
chuyên môn độc lập là tòa án. Lịch sử hiện đại của nhân loại đã
chứng minh rằng hướng tiếp cận này là hoàn toàn hợp lý và có ý
nghĩa đặc biệt to lớn trong việc bảo vệ công lý, bảo vệ nhân quyền.
Không chỉ vậy, nội dung thứ ba còn hàm ý thúc đẩy cơ chế xét xử
công bằng trong hoạt động tư pháp. Cụ thể, cụm từ “... trừ khi có
phán quyết hợp pháp của những người ngang hàng với người đó” ở
Điều 39 của Magna Carta phản ánh triết lý xét xử phải dựa trên
nền tảng công lý (question of justice), chứ không chỉ bám vào luật
(question of law). Quy định này cũng được xem là nền tảng cho
chế độ bồi thẩm đoàn (trial by jury) ở nước Anh và các nước khác
theo hệ thống thông luật (common law) về sau.
Tư tưởng về công lý ở Điều 39 còn được củng cố bằng quy
định ở Điều 40 của Magna Carta, trong đó nêu rõ rằng: “Sẽ
không ai bị bán cho người khác; quyền hay công lý của bất kỳ ai
cũng đều không bị từ chối”. Đoạn thứ hai của quy định này đã
đặt ra một nguyên tắc rất quan trọng trong tố tụng, đó là ngay
cả khi vụ việc chưa có luật quy định, thẩm phán cũng vẫn phải
thụ lý và xét xử, bởi “công lý bị trì hoãn cũng có nghĩa là công lý
bị từ chối” (Justice delayed is justice denied)1.
_______________
1. Đây là một câu châm ngôn pháp lý được sử dụng phổ biến từ thế
kỷ XX. Chẳng hạn, Martin Luther King Jr. nhắc đến châm ngôn này
trong “Letter from a Birmingham Jail”, xem https://www.africa.upenn.
edu/Articles_Gen/Letter_Birmingham.html. Về nguồn gốc, châm ngôn
này thường được cho là khởi nguồn từ thế kỷ XIX như trong phát biểu
của Thủ tướng Anh William E. Gladstone vào năm 1868 hay trong một số
của Tạp chí Louisiana Law Journal vào năm 1842.
18
Phần I: LÝ THUYẾT CHUNG VỀ NGUYÊN TẮC TRÌNH TỰ PHÁP LUẬT...
Với những ý nghĩa tích cực nêu trên, Magna Carta không
chỉ có ảnh hưởng đến sự phát triển của nền dân chủ ở nước
Anh, mà còn ở rất nhiều nước khác trên thế giới, đặc biệt là
những nước theo hệ thống thông luật. Những nguyên tắc về
pháp quyền được xác lập trong Magna Carta đã được kế thừa và
phát triển trong hiến pháp của hầu hết quốc gia. Mười tu chính
án đầu tiên của Hiến pháp Hoa Kỳ thực tế là sự kế thừa các quy
định của Magna Carta, đặc biệt là nguyên tắc trình tự công
bằng (due process of law) và nguyên tắc mọi người được bảo vệ
một cách bình đẳng bởi luật pháp (equal protection of the law).
Trong khi đó, những nguyên tắc về nhân quyền trong Đại Hiến
chương đã khơi gợi cảm hứng và được sử dụng như là nền tảng
trong tất cả những văn kiện nhân quyền nổi tiếng về sau của
thế giới, trong đó có UDHR. Không chỉ vậy, Magna Carta còn
được sử dụng như là một vũ khí hiệu quả để chống lại sự lạm
dụng và vi phạm nhân quyền trong thực tế. Lịch sử đã ghi nhận
ở nước Anh, ngay từ thế kỷ XVI, những người nông dân đã biết
trích dẫn Đại Hiến chương trong các cuộc đấu tranh chống lại
sự bất công. Còn trong những năm 1640, các nghị sĩ Anh đã coi
Magna Carta là một cơ sở pháp lý để lật đổ vua Charles I.
Nhiều nhà cách mạng lớn của thế giới sau này, như Nelson
Mandela, đã biện minh cho những hành động của mình bằng
việc dựa vào Đại Hiến chương Magna Carta.
Magna Carta có tính chất ban đầu là một hiệp định hòa
bình thể hiện mối quan hệ giữa một vị quân chủ và các nhà quý
tộc nước Anh từ hơn 800 năm trước đây, song với nội dung hàm
chứa những tư tưởng tiến bộ và khai phóng vượt qua tầm thời
đại (trung cổ), Magna Carta đã trở thành một biểu tượng đầy
sức mạnh trong tiến trình xây dựng dân chủ và nhân quyền ở
nước Anh, châu Âu, châu Mỹ trước đây và trên toàn thế giới
Chương 1: Khái niệm và các nội dung cơ bản của nguyên tắc trình tự pháp luật...
19
hiện nay. Văn kiện này đã và sẽ còn được nhắc đến như một tài
liệu có tầm ảnh hưởng rộng rãi nhất về tư tưởng trong lịch sử
nhân loại. Chính vì vậy, có thể xem Magna Carta là một trong
những báu vật góp phần tạo lên “quyền lực mềm” của nước
Anh, là một “món quà của nước Anh dành cho nhân loại”1.
1.2. Nội dung học thuyết về trình tự công bằng trong Đại
Hiến chương Magna Carta
Hiện nay, học thuyết về trình tự công bằng thường được
thảo luận theo nghĩa hẹp của nó, tức gắn với các quyền xét xử
công bằng trong tố tụng hình sự (criminal fair trial rights) đã
được khẳng định trong các bộ luật quốc tế về quyền con người2
cũng như hiến pháp nhiều quốc gia. Điều này có vẻ thể hiện sự
tương thích cao giữa nguyên lý trình tự công bằng khởi nguồn
từ Magna Carta và quan niệm về nguyên tắc xét xử công bằng
trong thời hiện đại. Tuy nhiên, nguyên lý trình tự công bằng có
nội hàm rộng hơn quyền xét xử công bằng trong tố tụng hình sự
rất nhiều. Điều này được chứng tỏ qua chính tinh thần của lời
văn Magna Carta 800 năm trước. Chương 29 Magna Carta nêu:
“Không một người tự do nào bị cầm tù hoặc tước đoạt tài sản, tự
do, phong tục, hoặc bị ngăn cấm, đày ải, đối xử tàn ác, và cũng
không ai bị ép buộc thực hiện những điều đó, mà không dựa
trên một phán quyết hợp pháp của những thành viên cộng đồng
hoặc theo luật pháp của quốc gia (the law of the land). Chúng ta
_______________
1. Vũ Công Giao: Đại Hiến chương Magna Carta: Một món quà của
nước Anh dành cho nhân loại, xem https://tiasang.com.vn/-dien-dan/DaiHien-chuong-Magna-Carta-Mot-mon-qua-cua-nuoc-Anh-danh-chonhan-loai-12815.
2. Xem: Tuyên ngôn quốc tế về nhân quyền năm 1948 (UDHR), Điều 14
Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị năm 1966 (ICCPR) và
Điều 6 Công ước Nhân quyền châu Âu năm 1950 (ECHR).
20
Phần I: LÝ THUYẾT CHUNG VỀ NGUYÊN TẮC TRÌNH TỰ PHÁP LUẬT...
không phản bội, phủ nhận hay khước từ công lý và quyền của
bất kỳ ai”1.
Một Điều đáng lưu ý là, mặc dù Magna Carta được coi là
khởi nguồn của học thuyết “due process of law”2, thuật ngữ “due
process of law” lại không tồn tại trong lời văn Đại Hiến chương,
mà chỉ có cụm từ “the law of the land” (luật pháp của quốc gia).
Trong thời gian trị vì của vua Edward III (1327-1377), Nghị
viện Anh đã ban hành 6 đạo luật giải thích ý nghĩa và phạm vi
các quyền tự do được bảo đảm trong Magna Carta. Các luật này
giải thích cụm từ “the law of the land” là các thủ tục tư pháp
nhằm bảo vệ quyền tự do của thần dân3. Một trong các luật đó,
được ban hành năm 1354, lần đầu tiên sử dụng thuật ngữ “due
process of law” thay cho “the law of the land: “không ai... bị trục
xuất, tù tội, tước quyền sống hoặc tự do, mà không đòi hỏi tuân
thủ trình tự pháp lý công bằng (due process of the law)”. Đây có
thể nói là văn bản đầu tiên chính thức sử dụng thuật ngữ “due
_______________
1. Phần in nghiêng do tác giả nhấn mạnh. Lời văn này nằm trong
Magna Carta phiên bản năm 1297, được viết bằng tiếng Latin và dịch sang
tiếng Anh. Theo phiên bản Magna Carta đầu tiên năm 1215, lời văn này
nằm trong Chương 39. Nhưng theo các bản sửa đổi từ năm 1225, phần này
thuộc Chương 29. Có nhiều bản dịch khác nhau, một trong số đó là: “No
Freeman shall be taken or imprisoned, or be disseised of his Freehold, or
Liberties, or free Customs, or be outlawed, or exiled, or any other wise
destroyed; nor will We not pass upon him, nor [condemn him,] but by
lawful judgment of his Peers, or by the Law of the Land. We will sell to no
man, we will not deny or defer to any man either Justice or Right”, xem
http://www.legislation.gov.uk/aep/Edw1cc1929/25/9/section/XXIX).
2. Nathan S. Chapman and Michael W. McConnell: Due Process as
Separation of Powers,121 Yale Law Journal 1672 1681, 2012, p.1681.
3. https://loc.gov/exhibits/magna-carta-muse-and-mentor/due-processof-law.html#:~:text=It%20traces%20its%20origins%20to,customary%20
practices%20of%20the%20court.
Chương 1: Khái niệm và các nội dung cơ bản của nguyên tắc trình tự pháp luật...
21
process of law”1. Năm 1642 (tức gần 300 năm sau đạo luật năm
1354 và hơn 400 năm sau Magna Carta), Sir Coke đã giải thích
rằng “due process of law” đồng nghĩa với “the law of the land”
trong Magna Carta2.
Vậy, đâu là mối liên hệ giữa hai khái niệm “the law of the
land” trong Magna Carta và “due process of law”. Để nắm bắt
chính xác tinh thần của Chương 29 Magna Carta, chúng ta cần
hiểu bối cảnh nước Anh lúc đó. Những năm đầu thế kỷ XIII,
dưới sức ép mạnh mẽ trong xã hội, Vua John đã buộc phải chấp
nhận Magna Carta - văn bản nhằm hạn chế những quyền lực
tuyệt đối của mình. Quyền lực nhà nước (của vua) không còn
tuyệt đối mà phải tuân thủ “luật pháp quốc gia”. “Luật pháp
quốc gia” ở đây bao gồm cả thông luật (common law) và đạo luật
(statute law)3. Như vậy, Chương 29 Magna Carta đã thể hiện tư
tưởng xóa bỏ quyền lực quân chủ tuyệt đối và do đó quyền lực
nhà nước phải bị hạn chế - một tư tưởng cốt lõi của học thuyết
nhà nước pháp quyền (rule of law), đã trở thành nền tảng của
các hiến pháp hiện đại. Vì vậy, theo nghĩa rộng nhất, học
thuyết “due process of law” cũng chính là các giá trị về nhà
nước pháp quyền đã được khẳng định trong Magna Carta. Hay
nói cách khác, hai thuật ngữ “rule of law” và “due process” khá
tương đồng4 và thậm chí có thể thay thế cho nhau5. Sullivan và
_______________
1, 3. Nathan S. Chapman and Michael W. McConnell: Due Process as
Separation of Powers, Ibid, p. 1682.
2. Edward Coke: The Second Part of the Institutes of the Laws of
England 50, (photo. reprint 2002) (London, W. Clarke & Sons 1817) (1642).
4. Geoffrey Marshall: Due Process in England in J. Roland Pennock
and John W. Chapman (eds): Due Process, New York University Press,
1977, p. 69.
5. E. Thomas Sullivan and Toni M. Massaro: The Arc of Due Process in
American Constitutional Law, Oxford University Press, 2013, p. 1.
22
Phần I: LÝ THUYẾT CHUNG VỀ NGUYÊN TẮC TRÌNH TỰ PHÁP LUẬT...
Massaro đã khẳng định những nguyên tắc của nhà nước pháp
quyền thể hiện trong học thuyết trình tự công bằng như sau:
- Các thủ tục công bằng (fair procedures), đặc biệt là quyền
được cảnh báo và quyền được xét xử.
- Tính vô tư (impartiality) của các cơ quan ra quyết định.
- Tôn trọng các các tiêu chuẩn đạo đức và truyền thống.
- Luật pháp không áp dụng hồi tố (not retrospective but
prospective).
- Các thủ tục pháp lý mang tính minh bạch và dễ hiểu
(transparency and accessibility).
- Các hành vi của nhà nước phải tương xứng (proportionality)
với mục đích.
- Tôn trọng tự do cá nhân (individual autonomy and liberty).
- Tôn trọng quyền bình đẳng (equality).
- Tôn trọng sự phân chia quyền lực (separation of powers)
và những cơ chế khác nhằm giới hạn quyền lực nhà nước1.
Tương tự, Geoffrey Marshall cho rằng những thành tố cấu
thành nên khái niệm nhà nước pháp quyền hay khái niệm trình
tự công bằng bao gồm: công bằng (fairness), vô tư (impartiality),
độc lập (independence), bình đẳng (equality), công khai
(openness), hợp lý (rationality), chắc chắn (certainty) và phổ quát
(universality)2. Tóm lại, học thuyết due process có mục đích tối
thượng là bảo vệ người dân trước nguy cơ lạm quyền của nhà
nước3. Nhà nước ở đây bao gồm cả ba nhánh quyền lực lập pháp,
hành pháp và tư pháp. Gần đây, Chapman và McConnell cũng đã
khẳng định “trình tự công bằng chính là phân chia quyền lực”4.
_______________
1, 3. E. Thomas Sullivan and Toni M. Massaro: The Arc of Due Process
in American Constitutional Law, Ibid, p.xiii.
2. Geoffrey Marshall: Due Process in England, Ibid, p.70.
4. Nathan S. Chapman and Michael W. McConnell: Due Process as
Separation of Powers, Ibid.
Chương 1: Khái niệm và các nội dung cơ bản của nguyên tắc trình tự pháp luật...
23
2. Học thuyết trình tự công bằng trong Luật Hiến
pháp Hoa Kỳ
2.1. Sự ghi nhận học thuyết trình tự công bằng trong Hiến
pháp Hoa Kỳ
Mặc dù nước Anh là cái nôi của quan niệm về trình tự công
bằng, học thuyết này lại được tiếp nhận một cách chính thức và
phát triển mạnh cho đến ngày nay tại Hoa Kỳ. Thật vậy, trong
suốt lịch sử nước Anh rất hiếm khi thuật ngữ “due process of
law” được nhắc đến trong các đạo luật mang tính hiến pháp cũng
như trong các bản án của tòa án. Thay vào đó, nền luật học Anh
hay đề cập những khái niệm gần gũi với “due process” như công
lý tự nhiên (natural justice) hay tính hợp lý (reasonableness).
Đạo luật về quyền con người năm 1998 (Human Rights Act) một văn bản mang tính hiến pháp, không đề cập “due process”
cũng như không liệt kê các quyền cụ thể mà chủ yếu cam kết
thực hiện các cơ chế về quyền đã được quy định tại Công ước
châu Âu về quyền con người và được giải thích bằng hệ thống án
lệ đồ sộ của Tòa án Nhân quyền châu Âu.
Trong khi đó, “due process of law” được ghi nhận chính
thức, long trọng tới hai lần trong Hiến pháp Hoa Kỳ với tư cách
là một nguyên tắc cốt lõi, căn bản. Các nhà sáng lập nước Mỹ đã
tiếp thu ý tưởng về trình tự công bằng từ nước Anh, với sự kế
thừa và phát triển lên một bậc, bao gồm cả ý tưởng về kiểm soát
cơ quan lập pháp - một khía cạnh quan trọng của “due process”
được Thẩm phán Coke khởi xướng trong vụ án Dr. Bonham
năm 1610, nhưng đã không được hiện thực hóa ở Anh do vị trí
tối cao của Nghị viện. Vụ án Dr. Bonham liên quan...
 





