BẢN TIN HÔM NAY

Sách như một cánh cổng diệu kỳ đưa ta đến những chân trời của lý tưởng, khát vọng và bình yên. Cuộc đời ta thay đổi theo hai cách: Qua những người ta gặp và qua những cuốn sách ta đọc. Đọc sách là nếp sống, là một nét đẹp văn hóa và là nguồn sống bất diệt. Việc đọc cũng giống như việc học. Có đọc, có học thì mới có nhân. Thói quen đọc sách chỉ được hình thành và duy trì khi chữ tâm và sách hòa quện làm một. Người đọc sách là người biết yêu thương bản thân mình và là người biết trân trọng cuộc sống. Việc đọc một cuốn sách có đem lại cho bạn lợi ích hay không, phụ thuộc vào thái độ và tâm thế của bạn khi đọc.

NƠI ẤY LÀ TÌNH YÊU

VIDEO GIỚI THIỆU SÁCH CỦA THƯ VIỆN

Thống kê

  • truy cập   (chi tiết)
    trong hôm nay
  • lượt xem
    trong hôm nay
  • thành viên
  • Thành viên trực tuyến

    1 khách và 0 thành viên

    CHÂM NGÔN HAY

    Những gì sách dạy chúng ta cũng giống như lửa. Chúng ta lấy nó từ nhà hàng xóm, thắp nó trong nhà ra, đem nó truyền cho người khác và nó trở thành tài sản của tất cả mọi người. - Voltaire Đọc sách có thể không giàu, nhưng không đọc, chắc chắn nghèo! Một cuốn sách hay thực sự hay dạy tôi nhiều điều hơn là đọc nó, Tôi phải nhanh chóng đặt nó xuống, bắt đầu sống theo những điều nó chỉ dẫn. Điều tôi bắt đầu bằng cách đọc, tôi phải kết thúc bằng hành động - Henry David Thoreau Đằng sau thành công của một con người không thể thiếu một cuốn sách gối đầu. Sách là kho báu tri thức của cả nhân loại, là kết tinh trí tuệ qua bao thế hệ con người. Một cuốn sách hay chính là chìa khóa quan trọng để mỗi con người có thể chinh phục mọi khó khăn và chạm đến thành công. Để cho con một hòm vàng không bằng dạy cho con một quyển sách hay. Lựa sách mà đọc cũng như lựa bạn mà chơi. Hãy coi chừng bạn giả.

    Ảnh ngẫu nhiên

    Anh_phong_thu_vien.jpg Toan5KetnoiBai1OntapsotunhienTiet1trang6.jpg Toan5KetnoiBai9LuyentapchungTiet2Trang30.jpg Toan5KetnoiBai9LuyentapchungTiet3Trang31.jpg IMG20240223151732.jpg IMG20240103091955.jpg IMG20240223144040.jpg IMG20240223140316.jpg Xep_sach_nghe_thuat_bac_giap.jpg 9ad2f57a8ea52ffb76b4.jpg 3f5be303b0dc118248cd.jpg 0145e51db6c2179c4ed3.jpg 3f5be303b0dc118248cd.jpg IMG20231129152201.jpg Bo_tri_sap_xep_sach_trong_TV_3.jpg Doc_sach_trong_thu_vien.flv Phong_thu_vien.flv Co_so_vat_chat_trong_thu_vien_4.jpg Co_so_vat_chat_trong_thu_vien_1.jpg Co_so_vat_chat_trong_thu_vien_2.jpg

    SÁCH ĐIỆN TỬ SGK, SGV

    HÌNH ẢNH TIÊU BIỂU

    Day la tieu de

    Day la dau de

    Phan noi dung cua tai lieu ...

    Thư viện là kho tàng tri thức của nhân loại

    Ý NGHĨA CỦA VIỆC ĐỌC SÁCH

    Chuyện thường ngày của Bác Hồ

    Wait
    • Begin_button
    • Prev_button
    • Play_button
    • Stop_button
    • Next_button
    • End_button
    • 0 / 0
    • Loading_status
    Nhấn vào đây để tải về
    Báo tài liệu có sai sót
    Nhắn tin cho tác giả
    (Tài liệu chưa được thẩm định)
    Nguồn:
    Người gửi: Lê Thị Minh Hiền
    Ngày gửi: 14h:54' 21-02-2024
    Dung lượng: 1.4 MB
    Số lượt tải: 13
    Số lượt thích: 0 người
    LỜI NHÀ XUẤT BẢN

    Chủ tịch Hồ Chí Minh là tấm gương đạo đức của
    một vĩ nhân, một lãnh tụ cách mạng, người cộng sản vĩ
    đại, anh hùng giải phóng dân tộc, nhà văn hóa lớn,
    nhưng đồng thời cũng là một con người bình dị, gần
    gũi, ai cũng có thể học và làm theo, đặc biệt về phong
    cách của Bác.
    Trong đời sống hằng ngày, ngoài những lúc làm
    việc và tiếp khách, Bác thường tranh thủ đi thăm,
    chuyện trò thân tình với các cụ già, gặp gỡ chiến sĩ và
    đồng bào các địa phương để nắm tình hình và tâm tư,
    nguyện vọng của nhân dân. Bác đến với mọi người một
    cách rất tự nhiên và bình dị. Điều đó đã trở thành một
    nhu cầu, một nếp sống, trở thành điều tâm niệm suốt
    đời của Người.
    Để tiếp tục đẩy mạnh việc tuyên truyền, học tập và
    làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh, Nhà xuất
    bản Chính trị quốc gia - Sự thật xuất bản cuốn sách:
    5

    Chuyện thường ngày của Bác Hồ của Nhà báo Hồng
    Khanh - Nguyên ủy viên Ban Biên tập Báo Nhân dân.
    Cuốn sách được khởi thảo năm 2003 và liên tục
    được tái bản tại Nhà xuất bản Thanh niên, lần xuất bản
    gần đây nhất là năm 2011 tại Nhà xuất bản Thế giới.
    Thông qua lời kể của các đồng chí nguyên là cận vệ của
    Bác, Nhà báo Hồng Khanh đã ghi lại những câu
    chuyện thường ngày của Bác theo các chủ đề: Người
    giúp việc; Những nơi ở; Khi mặt trời lên; Cách ăn mặc;
    Ngoài giờ làm việc; Đến với dân; Đêm xuống; Giấc ngủ
    ngon lành. Mỗi câu chuyện đều thể hiện phong cách
    giản dị, gần gũi nhưng rất tinh tế của Bác. Lối sống, tác
    phong quần chúng thường ngày của Bác luôn là chuẩn
    mực nhân cách con người cách mạng nhưng lại không
    xa lạ với mỗi con người bình thường, mà ai cũng có thể
    soi mình, học tập, noi theo.
    Cuốn sách mỏng, nội dung phong phú, dễ hiểu, rất
    bổ ích cho những ai muốn quan tâm nghiên cứu, tìm
    hiểu về Bác Hồ và đạo đức, tác phong của Bác.
    Xin trân trọng giới thiệu cuốn sách cùng bạn đọc.
    Tháng 4 năm 2015
    NHÀ XUẤT BẢN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA - SỰ THẬT

    6

    LỜI GIỚI THIỆU

    Sáng kiến của tác giả Hồng Khanh viết cuốn sách
    về Chuyện thường ngày của Bác Hồ chắc chắn được
    đông đảo bạn đọc hoan nghênh. Cuốn sách này góp
    phần vào việc giúp thế hệ trẻ tìm hiểu về con người
    vĩ đại của dân tộc ta qua đời thường bằng những
    mẩu chuyện sinh động. Một nét nổi bật trong cuộc
    sống đời thường thể hiện sự cao thượng của Bác Hồ
    là sự giản dị, gần gũi với mọi người, sống và làm
    việc như đồng bào, đồng chí.
    Những chuyện kể cũng cho chúng ta thấy những
    người là nhân chứng đã phục vụ Bác Hồ trên 20 năm
    Người làm Chủ tịch nước. Những nhân chứng này
    cũng nêu gương sáng về tinh thần phục vụ Tổ quốc
    bằng sự săn sóc chu đáo người lãnh đạo của nhân
    dân ta.
    Đồng chí Hồng Khanh là nhà báo lâu năm của
    báo Nhân dân. Trong thời gian kháng chiến chống Mỹ,
    7

    cứu nước, Hồng Khanh là phóng viên của một tờ báo
    ở Vĩnh Linh viết nhiều cho báo từ tuyến lửa ở dưới
    địa đạo. Sau chiến tranh, đồng chí viết về lĩnh vực
    kinh tế với những bài điều tra và bình luận sắc sảo.
    Là một nhà báo chiến sĩ, từng trải qua gian khổ, thử
    thách, Hồng Khanh là người có thể đảm trách những
    bài viết quan trọng của cuốn sách này.
    Ngày 11 tháng 6 năm 2003
    HOÀNG TÙNG
    Nguyên Bí thư Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam,
    nguyên Tổng Biên tập báo Nhân dân

    8

    NGƯỜI GIÚP VIỆC
    Người ta sinh ra ở đời, dù làm đến chức cao nhất
    nước, hay chỉ là người dân bình thường, hằng ngày
    đều phải ăn, mặc, ở, đi lại, làm việc, tiếp xúc với mọi
    người... Những sinh hoạt thường ngày không thể
    thiếu ấy được thể hiện cầu kỳ hay giản dị, lịch sự hay
    buông thả, xa hoa hay tiết kiệm, đài các hay bình
    dân..., phụ thuộc một phần điều kiện vật chất, hoàn
    cảnh xã hội, nhưng phần lớn hơn có tính quyết định
    là phụ thuộc ý thức, tư tưởng và ý chí rèn luyện
    không ngừng của con người đó.
    Chủ tịch Hồ Chí Minh - nhà cách mạng lỗi lạc,
    nhà văn hóa kiệt xuất của dân tộc Việt Nam. Người
    đã sáng lập Đảng Cộng sản Việt Nam, Mặt trận,
    Nhà nước và Quân đội nhân dân Việt Nam anh
    hùng. Bao nhiêu sách báo trong nước và ngoài nước
    đã, đang và tiếp tục viết về sự nghiệp hoạt động
    cách mạng, tư tưởng và cả cuộc sống sinh hoạt
    thường ngày của Người.
    9

    Từ Cách mạng Tháng Tám năm 1945 thành công
    đến ngày Người đi xa (2-9-1969), khoảng xấp xỉ tròn
    một phần tư thế kỷ ấy, đất nước Việt Nam gặp biết
    bao thăng trầm, sóng gió, nhưng dưới tay lái vững
    vàng của Chủ tịch Hồ Chí Minh, con thuyền cách
    mạng Việt Nam vẫn tiến lên vượt mọi khó khăn gian
    khổ, giành hết thắng lợi này đến thắng lợi khác. Chủ
    tịch Hồ Chí Minh - một con người Việt Nam không
    những vĩ đại trong tư tưởng, trong sự nghiệp vì dân,
    vì nước, mà còn vĩ đại, mẫu mực cả trong nếp sống
    thường ngày.
    Sau Cách mạng Tháng Tám năm 1945, Nhà nước
    Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ra đời. Để giúp việc
    Chủ tịch Hồ Chí Minh và Chính phủ điều hành đất
    nước, Văn phòng Phủ Thủ tướng được hình thành,
    trong đó có một bộ phận đặc biệt, bước đầu gồm tám
    người được phân công phục vụ trực tiếp Bác Hồ về
    các công việc sự vụ hằng ngày từ hành chính, cận vệ,
    chăm sóc sức khỏe đến lái xe...
    Sáng ngày 6-3-1947, tại một địa điểm sơ tán ở xã
    Cổ Tiết, huyện Tam Nông, tỉnh Phú Thọ, Chủ tịch
    Hồ Chí Minh và tám đồng chí trực tiếp giúp việc
    cho Người ngồi bàn công tác “quân sự hóa”. Nghĩa
    là cơ quan giúp việc cho Bác phải gọn, nhẹ, cơ động,
    10

    bí mật, nhanh chóng, đi không ai biết, đến không ai
    hay. Cho nên mỗi người phải có một cái balô. Ngoài
    ra, thêm một cái balô đựng máy chữ của Bác Hồ
    mang từ Hà Nội lên. Khi ấy, các đồng chí trực tiếp
    giúp việc cho Người được coi là cán bộ Văn phòng
    Chủ tịch nước, hoặc Văn phòng Thủ tướng Chính
    phủ, là một bộ phận đặc biệt thuộc biên chế Văn
    phòng Chủ tịch nước. Bởi lẽ, sau Tổng tuyển cử
    ngày 6-1-1946, Quốc hội khóa I của nước Việt Nam
    Dân chủ Cộng hòa bầu Người làm Chủ tịch nước
    kiêm luôn Thủ tướng Chính phủ1. Bộ phận này
    trong suốt thời gian ở chiến khu Việt Bắc, để bảo
    đảm bí mật, thường được gọi là C.Q41, nghĩa là cơ
    quan 41. Con số 41 là lấy hai số cuối của năm 1941,
    năm Bác Hồ về nước sau 30 năm bôn ba nước ngoài
    tìm đường cứu nước.
    Cuộc họp vừa kết thúc, cả tám đồng chí đang
    ngồi quanh Người, bỗng càng lấy làm phấn khởi
    khi thấy Chủ tịch Hồ Chí Minh âu yếm nhìn từng
    người một. Đó là các đồng chí: Võ Chương, quê ở
    ____________
    1. Mãi tới tháng 8-1949 mới có Phó Thủ tướng Phạm
    Văn Đồng ở bên Bác; đến tháng 9-1955, đồng chí Phạm Văn
    Đồng mới là Thủ tướng.

    11

    Thừa Thiên Huế, nguyên là giáo viên, hoạt động Việt
    Minh tại Thanh Hóa, Hà Nội, sau Cách mạng Tháng
    Tám năm 1945 trở thành chiến sĩ trong đội tự vệ cứu
    quốc thành Hoàng Diệu, được chọn bổ sung vào tổ
    cận vệ Bác Hồ. Đồng chí Nguyễn Cần, quê ở Thường
    Tín, Hà Nội, từng tham gia Thanh niên phản đế
    Trường Bưởi, Hà Nội, bị Sở Mật thám Pháp bắt giam
    ở Hỏa Lò năm 1943, tháng 3-1945 vượt ngục, trở về
    công tác tại nội thành Hà Nội. Đồng chí Nguyễn Văn
    Lý, quê ở tỉnh Thái Bình, tham gia hoạt động cách
    mạng trong phong trào công nhân từ trước năm
    1940, bị địch bắt giam ở Sơn La, Thái Nguyên, rồi
    vượt ngục trở về hoạt động ở căn cứ địa Tân Trào,
    tỉnh Tuyên Quang. Đồng chí Nguyễn Hữu Văn, quê
    ở tỉnh Hải Dương, từng hoạt động trong phong trào
    Thanh niên cứu quốc Hà Nội, cuối năm 1945 được
    tuyển vào tổ cận vệ Bác Hồ. Đồng chí Hoàng Văn
    Lâm, người dân tộc Tày ở Lạng Sơn, sớm giác ngộ
    cách mạng. Đồng chí Chu Phương Vương, người dân
    tộc Tày, quê ở tỉnh Cao Bằng, giúp việc cho Bác từ
    tháng 7-1945. Các đồng chí Nguyễn Quang Chí, Trần
    Đình, dân tộc Nùng, quê ở tỉnh Cao Bằng, là chiến sĩ
    giải phóng quân, giúp việc cho Bác trước tháng 8-1945
    ở khu giải phóng Việt Bắc.
    12

    Cả tám đồng chí nói trên đang im lặng thì bỗng
    thấy Bác vừa đưa tay chỉ từ trái sang phải theo thứ
    tự từng đồng chí đang ngồi sát nhau theo hình vòng
    tròn, vừa nhẹ nhàng nói:
    - Từ hôm nay, Bác đặt tên cho mỗi chú như sau:
    Chú Võ Chương là Trường; chú Nguyễn Cần là Kỳ;
    chú Nguyễn Văn Lý là Kháng; chú Nguyễn Hữu Văn
    là Chiến; chú Hoàng Văn Lâm là Nhất; chú Chu
    Phương Vương là Định; chú Nguyễn Quang Chí là
    Thắng; chú Trần Đình là Lợi.
    Nói xong, lặng im giây lát, Bác lại nhắc tên tám
    đồng chí vừa mới đặt: Trường, Kỳ, Kháng, Chiến,
    Nhất, Định, Thắng, Lợi.
    Rồi Bác nhẹ nhàng hỏi một câu:
    - Các chú có biết tại sao Bác đặt tên các chú như
    vậy không?
    Cả tám người liếc nhìn nhau, suy nghĩ, chưa ai
    lên tiếng. Bác giải thích luôn:
    - Nhân dân ta vừa giành được chính quyền chưa
    bao lâu thì đã phải bước vào cuộc kháng chiến chống
    thực dân Pháp xâm lược. Nhiệm vụ trước mắt và lâu
    dài của Bác là cùng với Đảng, Chính phủ lãnh đạo
    nhân dân ta tiến hành cuộc kháng chiến đến ngày
    thắng lợi. Bác đặt tên các chú theo khẩu hiệu “Trường
    13

    kỳ kháng chiến nhất định thắng lợi” là để hằng ngày
    Bác gọi đến tên các chú, hay nhớ đến các chú là nhắc
    nhở Bác phải lo làm sao tìm mọi mưu kế, biện pháp
    để hoàn thành bằng được nhiệm vụ cao cả đó.
    Niềm vinh dự, tự hào được Chủ tịch nước đặt
    tên mình gắn với ý chí và quyết tâm của toàn dân tộc
    đang bước vào cuộc trường kỳ kháng chiến chống
    thực dân Pháp xâm lược đầy gian khổ nhưng nhất
    định thắng lợi càng thôi thúc tám đồng chí không
    ngừng vươn lên làm tốt nhiệm vụ. Từ đấy, trong tiếp
    xúc hằng ngày, hai tiếng “Bác Hồ” chính thức được
    gọi thay cho năm chữ “Chủ tịch Hồ Chí Minh” với cả
    tấm lòng kính trọng, biết ơn, gần gũi và thương yêu
    vô hạn. Đối với những người được vinh dự trực tiếp
    giúp việc cho Bác Hồ càng hết sức vui mừng được
    Bác gọi bằng “chú” với cả tình thương ân cần, trìu
    mến, giúp đỡ, dạy bảo, không hề có chút cách biệt.
    Nhiều đồng chí đã lấy tên Bác đặt cho mình làm tên
    chính thức suốt đời, như Kỳ là đồng chí Vũ Kỳ - tức
    Nguyễn Cần; Kháng là đồng chí Hoàng Hữu Kháng tức là Nguyễn Văn Lý; Chiến là đồng chí Tạ Quang
    Chiến - tức Nguyễn Hữu Văn...
    Khi cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm
    lược bước sang giai đoạn chuẩn bị cho tổng phản công,
    14

    khối lượng công việc ở C.Q41 càng bề bộn, khẩn
    trương. Người nào cũng làm việc chăm chỉ, ít được
    ngơi nghỉ, hòa trong khí thế sôi động từ các chiến
    trường Bắc - Trung - Nam dội về nơi làm việc của
    Bác. Và càng náo nức, hồ hởi khi được Bác gợi ý là
    nên có một số chú đi xuống cơ sở dài ngày để vừa
    hiểu biết thực tế cuộc sống chiến đấu gian khổ
    nhưng rất anh dũng của đồng bào, đồng chí, vừa có
    dịp học tập, rèn luyện, góp phần phát huy khả năng
    của mình vào sự nghiệp cách mạng. Bác còn nhấn
    mạnh nếu chú nào cũng cứ ngồi hoài ở văn phòng để
    nắm tình hình qua các bản báo cáo hoặc điện thoại ở
    dưới gọi lên thì làm sao hiểu được thực tế, làm sao
    tiến kịp theo đà phát triển chung. Thực tế, ở cơ sở
    cũng là một trường học để rèn luyện mình. Ít hôm
    sau, được đồng chí Trường Chinh cho biết là Bác đã
    đưa gợi ý đó ra trước Thường vụ Trung ương Đảng
    và được Thường vụ rất đồng tình. Thế là cả C.Q41
    càng lấy làm phấn chấn và tích cực hưởng ứng gợi ý
    của Bác. Không bao lâu sau, đồng chí Vũ Kỳ được về
    Hà Nội làm công tác “địch vận”. Khi chuẩn bị mở
    chiến dịch Điện Biên Phủ, năm 1953, Bác lại chỉ đạo
    cho đồng chí Vũ Kỳ đi vào lực lượng thanh niên
    xung phong, phụ trách Đoàn Thanh niên xung phong
    15

    Trung ương. Cũng trong thời gian bí mật, khẩn
    trương, náo nức đó, một số đồng chí của C.Q41 cũng
    rời văn phòng xuống cơ sở, như đồng chí Tạ Quang
    Chiến xuống phụ trách Đội Thanh niên xung phong
    tại “An toàn khu”. Đồng chí Hoàng Hữu Kháng làm
    Trưởng Ban tiếp tế An toàn khu Trung ương, Cục
    trưởng Cục Cảnh vệ Bộ Công an... Số đồng chí ở lại
    giúp Bác càng làm việc bận rộn hơn. Thông cảm với
    hoàn cảnh đó, những khi chưa có người bổ sung kịp,
    Bác vừa thảo công văn, chỉ thị, vừa tự đánh máy lấy.
    Một không khí làm việc sôi động, hồ hởi, không
    quản mệt nhọc, tất cả vì cơ sở, vì tiền tuyến và chiến
    thắng. Những đồng chí do yêu cầu công việc phải
    chuyển sang đơn vị khác, Bác lại đặt tên cho đồng
    chí mới được bổ sung như tên đồng chí đã chuyển.
    Câu khẩu hiệu “Trường kỳ kháng chiến, nhất định
    thắng lợi” luôn ở bên Bác. Vì thế, khi kháng chiến
    thắng lợi đã có ba đồng chí mang tên Trường, hai
    đồng chí mang tên Nhất, hai đồng chí mang tên Thắng.
    Một số đồng chí bổ sung trong hai năm 1948 - 1949
    được Bác đặt tên mang những ý nghĩa mới: Trung,
    Dũng, Đồng, Tâm, Kiên, Quyết, Tiết, Kiệm.
    Một hôm, trong không khí hòa bình, mới về lại
    Thủ đô Hà Nội, nhân lúc Bác cháu đang nói chuyện
    16

    vui sau bữa cơm chiều, một đồng chí quá lạc quan,
    đề nghị với Bác:
    - Thưa Bác! Để phù hợp với tình hình mới, xin
    Bác cho đổi tên của hai đồng chí Kháng và Chiến
    thành hai tên Hòa và Bình!
    Bác nhẹ nhàng trả lời, nhưng nét mặt hơi nghiêm:
    - Có kháng chiến mới có hòa bình. Song hiện
    nay chưa thể gọi là hòa bình, còn phải chuẩn bị kháng
    chiến ở miền Nam, vì kẻ địch chưa dễ gì ngoan
    ngoãn làm theo Hiệp định Giơnevơ năm 1954. Chớ
    có chủ quan!
    Quả câu nói của Bác là một lời tiên tri. Thực tế đã
    diễn ra đúng như vậy. Hai mươi năm sau, giải
    phóng miền Nam, thống nhất Tổ quốc.
    Kết thúc thắng lợi chiến dịch Điện Biên Phủ,
    miền Bắc hoàn toàn giải phóng. Bác Hồ, Trung ương
    Đảng, Chính phủ rời chiến khu Việt Bắc, ngày 10-101954 về lại Thủ đô Hà Nội. Các đồng chí Vũ Kỳ, Tạ
    Quang Chiến lần lượt được trở lại giúp việc cho Bác
    Hồ. Từ đấy, trong hoàn cảnh miền Bắc được giải
    phóng, miền Nam còn tạm thời trong tay địch, tính
    chất công việc ở bộ phận trực tiếp giúp Bác lại càng
    đòi hỏi mỗi người làm việc sâu sát hơn, tỉ mỉ hơn,
    chính xác hơn, hiệu quả hơn. Một số đồng chí mới
    17

    rút từ Văn phòng Trung ương Đảng và một vài địa
    phương lần lượt được điều động, bổ sung vào bộ
    phận giúp việc cho Bác, như các đồng chí Đinh Văn
    Cẩn, Lê Văn Nhượng (bổ sung năm 1950), Cù Văn
    Chước, Lê Hữu Lập, Trần Văn Vượng, Nguyễn Văn
    Mùi, Lưu Quang Lập, Ngô Văn Các, Hoàng Tấn
    Quang... Tất cả gồm hơn mười người. Nếu kể tách
    bạch ra thì công tác văn thư chỉ có bốn người, kể cả
    đồng chí Vũ Kỳ. Số đồng chí khác được phân công:
    người lo đánh máy, người làm cần vụ, người lo nấu
    ăn, người lái xe, người làm vườn, người tiếp khách,
    phục vụ hội nghị do Bác chủ trì... Phân công chuyên
    môn như vậy, nhưng khi cần thiết là có sự hỗ trợ
    công việc lẫn nhau trong từng bộ phận văn thư hoặc
    hậu cần. Bộ phận bảo vệ tiếp cận Bác thuộc Cục
    Cảnh vệ, Bộ Công an. Về tổ chức, tài vụ, công tác
    đảng, văn phòng phẩm, lương cán bộ, nhân viên của
    số anh em giúp việc cho Bác đều do Văn phòng Phủ
    Thủ tướng phụ trách. Khi Bác đón những đoàn
    khách lớn nước ngoài hoặc tổ chức tiệc tùng chiêu
    đãi thì chuyển giao cho các bộ phận giao tế hoặc Bộ
    Ngoại giao đảm nhiệm.
    Hơn chục anh em trực tiếp giúp việc cho Bác chỉ
    lo làm sao bảo đảm được mọi nhu cầu về vật chất và
    18

    tinh thần cần thiết hằng ngày của Bác để Bác vừa có
    thêm thời gian lo việc dân, việc nước, vừa còn có thể
    thư giãn, nghỉ ngơi, giải trí. Anh em thường nói với
    nhau: “Sức khỏe của Bác là tài sản quốc gia”. “Ngày
    nào Bác cũng vui, cũng khỏe, cũng thanh thản là
    mong ước của đồng bào cả nước”. Vì vậy, hơn chục
    anh em này đều chí thú lo toan công việc được giao.
    Và mỗi khi Bác đi công tác xa vài ba ngày trở lên, Bác
    không quên nhắc đồng chí phụ trách có thể cho anh
    em thay nhau về nghỉ với vợ con, gia đình, quê
    hương. Sự quan tâm dù nhỏ ấy của Bác càng động
    viên anh em phấn khởi làm việc hết mình.
    *
    *

    *

    Năm 2001, năm đầu tiên của thế kỷ XXI. Tôi lần
    lượt tìm đến nhà riêng của những đồng chí đã có
    thời gian gần gũi giúp việc Bác. Với dụng ý, qua các
    nhân chứng đặc biệt này, có thể được biết thêm về
    những công việc sinh hoạt thường ngày của Bác Hồ.
    Nhất là trong suốt thời gian 24 năm Người làm Chủ
    tịch nước, bận trăm công nghìn việc của Đảng, của
    Chính phủ, của chế độ dân chủ cộng hòa mới ra đời
    19

    và hình thành. Hằng ngày, Bác vẫn rèn luyện, xây
    dựng cho mình một phong cách sống thư thái, giản
    dị, trong sáng, mẫu mực, hết lòng vì dân, vì nước.
    Trong số tám đồng chí đầu tiên giúp việc cho Bác
    Hồ mà đã vinh dự được Người đặt tên “Trường, Kỳ,
    Kháng, Chiến, Nhất, Định, Thắng, Lợi” thì đến năm
    2001 đã có sáu đồng chí nối tiếp nhau theo Bác Hồ về
    cõi vĩnh hằng trong những năm cuối của thế kỷ XX.
    Hai đồng chí còn lại, ít tuổi nhất so với các đồng chí
    kia, là đồng chí Vũ Kỳ, tuổi đã ngoài 80, sức khỏe có
    giảm, nhưng vẫn tỉnh táo, minh mẫn; đồng chí Tạ
    Quang Chiến, tuổi đã 77, trời cho còn khỏe mạnh,
    hồng hào, nói năng lưu loát. Các đồng chí bổ sung
    sau năm 1954, khi miền Bắc đã được giải phóng, tuổi
    cũng đã trên dưới 70. Nhưng may mắn thay là đồng
    chí nào cũng còn nhanh nhẹn, hoạt bát. Điều rất
    mừng là khi kể lại, đồng chí nào cũng còn nhớ khá
    đậm nét những kỷ niệm về công việc và sinh hoạt
    thường ngày của Bác Hồ mà các đồng chí đó, cũng
    như các đồng chí tiền nhiệm đã kể lại, được vinh dự
    ở bên Người, giúp việc cho Người trong suốt những
    năm tháng Người nhận trách nhiệm cao cả trước
    Đảng, trước nhân dân là làm Chủ tịch nước.
    Cuốn sách này chủ yếu ghi lại những lời kể về cuộc
    20

    sống đời thường: ăn, mặc, ở, đi lại, giải trí, rèn luyện
    sức khỏe của Bác Hồ mà các đồng chí giúp việc cho
    Người từng chứng kiến. Những việc thường ngày ấy
    cũng là một yếu tố rất quan trọng góp phần quyết
    định tạo nên con người Hồ Chí Minh với ý nghĩa đầy
    đủ, tuyệt vời cả tài - đức - trí - lực. Qua đó, giúp
    chúng ta hiểu thêm về phong cách, phẩm chất, tư
    tưởng nhất quán trong mục đích, hướng đi, sự
    nghiệp cách mạng của Bác Hồ - vị lãnh tụ muôn vàn
    kính yêu của dân tộc Việt Nam đã suốt đời hy sinh
    quên mình cho cách mạng, cho sự ấm no, tự do,
    hạnh phúc của nhân dân.
    Để bạn đọc tiện theo dõi, chúng tôi sắp xếp nội
    dung các câu chuyện theo thứ tự sau:
    - Những nơi ở
    - Khi mặt trời lên
    - Cách ăn mặc
    - Ngoài giờ làm việc
    - Đến với dân
    - Đêm xuống
    - Giấc ngủ ngon lành.
    TÁC GIẢ
    Hồng Khanh
    21

    NHỮNG NƠI Ở

    Các đồng chí kể rằng, nếu tính từ ngày rời căn cứ
    cách mạng Tân Trào, lần đầu tiên Bác về Hà Nội, vào
    nội thành là chiều thứ bảy, ngày 25-8-1945, tức ngày
    18-7 năm Ất Dậu. Ngày đó, Hà Nội mới giành được
    chính quyền trọn một tuần, đang trong khí thế sục
    sôi Cách mạng Tháng Tám. Phố xá treo đầy cờ đỏ
    sao vàng và biểu ngữ “Ủng hộ Việt Minh!”, “Việt
    Nam độc lập muôn năm!”. Vào lúc sâm sẩm tối, tại
    làng Phú Gia, cạnh sông Hồng, đồng chí Trường
    Chinh đã đến chờ sẵn để đón Bác. Chiếc xe Ford cũ
    màu đen đưa Bác từ Phú Gia chạy dọc theo đê sông
    Hồng, về Yên Phụ, xuống dốc Hàng Than, qua phố
    Chả Cá, đến trước số nhà 35 Hàng Cân, rồi rẽ vào
    phía trong có cửa phụ. Đến đây, xe ô tô dừng lại. Bác
    xuống xe. Đồng chí Trường Chinh - Tổng Bí thư của
    Đảng, mời Bác vào nhà, lên gác hai là nơi Thường vụ
    Trung ương Đảng bố trí Bác đến ở. Ngôi nhà này
    22

    xây ba tầng, khá cao giữa phố cũ Hà Nội, của một
    thương gia lớn là ông bà Trịnh Văn Bô. Nhà có cửa
    chính phía trước mang biển số 48 phố Hàng Ngang.
    Cửa chính bằng sắt chắc chắn, rất thuận lợi cho công
    tác bảo vệ. Gác hai của ngôi nhà này có một căn
    phòng rộng mà chủ nhà dùng làm phòng ăn. Giữa
    phòng kê một bàn gỗ dài, to. Quanh bàn có tám ghế
    tựa đệm mềm. Bộ bàn ghế này là nơi Bác Hồ thường
    làm việc với các đồng chí Thường vụ Trung ương
    Đảng. Cuối phòng, ở sát tường phía sau, kê một
    chiếc bàn tròn mà Bác và số đồng chí giúp việc cho
    Bác thường dùng làm chỗ ngồi ăn sáng và ăn cơm
    bữa tối. Bác Hồ thường ngồi suy nghĩ, làm việc, hoặc
    đánh máy ở chiếc bàn con kê sát tường góc phía
    trong. Mặt bàn này hình vuông, bọc da màu xanh lá
    mạ, vừa đủ để tập giấy, bút và chiếc máy chữ nhỏ,
    cũ, mang từ căn cứ cách mạng Tân Trào về. Chính tại
    gác hai ngôi nhà này, Bác Hồ đã trầm ngâm suy nghĩ
    phác thảo nên bản Tuyên ngôn độc lập lịch sử.
    Ngày 29-8, Bác Hồ và một số đồng chí giúp việc
    được Trung ương bố trí đến ở và làm việc tại nhà
    số 12 Ngô Quyền, cạnh vườn hoa Chí Linh, nơi
    trước đó là dinh của Thống sứ Bắc Kỳ, nay là Nhà
    khách Chính phủ.
    23

    Ngày 31-8, để chuẩn bị cho lễ ra mắt Chính phủ
    Cách mạng lâm thời trước quốc dân đồng bào, Bác
    hỏi anh em giúp việc:
    - Nơi dự định họp míttinh như thế nào? Các chú
    thử vẽ phác qua cho Bác xem.
    Xem xong sơ đồ, Bác hỏi:
    - Liệu chứa được bao nhiêu người?
    - Dạ! Thưa Bác khoảng vài vạn người!
    Bác hỏi thêm:
    - Đã bố trí chỗ đồng bào đi vệ sinh chưa?
    Thấy anh em nhìn nhau hơi lúng túng, đoán là
    chưa nghĩ đến, Bác gợi ý ngay:
    - Việc đó tuy nhỏ, nếu không chú ý bố trí cho tốt
    thì dễ mất trật tự.
    Theo gợi ý thêm của Bác, mọi công việc chuẩn bị
    cho cuộc míttinh được tiến hành khẩn trương, hoàn
    thành chu tất.
    Đúng ngày 2-9-1945, trước hàng vạn đồng bào,
    đồng chí tập trung ở Quảng trường Ba Đình, thay
    mặt Chính phủ Cách mạng lâm thời, Bác Hồ trịnh
    trọng đọc bản Tuyên ngôn độc lập. Đang đọc, bỗng
    Bác dừng lại hỏi một câu:
    - Tôi nói đồng bào nghe rõ không?
    24

    Cả biển người cả trai, gái, trẻ, già, ăn mặc đủ màu
    sắc, đồng thanh trả lời: “Nghe rõ! Nghe rõ!”.
    Bác trịnh trọng tuyên bố tiếp với đồng bào Thủ
    đô thay mặt nhân dân cả nước và qua làn sóng phát
    thanh truyền ra thế giới: “... Một dân tộc đã gan góc
    chống ách nô lệ của Pháp hơn 80 năm nay, một dân tộc đã
    gan góc đứng về phe Đồng minh chống phát xít mấy năm
    nay, dân tộc đó phải được tự do! Dân tộc đó phải được độc
    lập!... Toàn thể dân Việt Nam quyết đem tất cả tinh thần
    và lực lượng, tính mệnh và của cải để giữ vững quyền tự
    do và độc lập ấy”1.
    Từ đó, trong không khí đất nước hồ hởi giành
    được chính quyền về tay nhân dân, Bác Hồ và các
    đồng chí lãnh đạo càng bộn bề mọi công việc. Số
    nhà 12 Ngô Quyền không những là nơi ở và làm việc
    của Bác, mà còn là điểm son tìm đến của bao nhân sĩ,
    trí thức, người giàu có và nhân dân lao động để góp
    phần đem sự hiểu biết, lòng trung thành và của cải,
    sức lực của mình ra sức xây dựng và bảo vệ chính
    quyền cách mạng non trẻ do Bác Hồ lãnh đạo. Ít lâu
    sau, chính tại nơi ở 12 Ngô Quyền này, một sự việc
    ____________
    1. Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà
    Nội, 2011, t.4, tr.3.

    25

    hết sức đặc biệt đã xảy ra, bất ngờ sau hơn ba thập
    kỷ anh chị em ruột xa nhau. Đó là sau khi lần đầu
    tiên thấy ảnh Chủ tịch Hồ Chí Minh, bà con họ
    hàng bên nội ở làng Kim Liên, bên ngoại ở làng
    Hoàng Trù, thuộc huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An,
    bàn tán nhau nửa tin, nửa ngờ: “Phải chăng, Chủ tịch
    Hồ Chí Minh là Nguyễn Ái Quốc, là Nguyễn Tất
    Thành, là Nguyễn Sinh Côông?”1. Để rõ sự thật, bà
    con cả hai bên nội ngoại liền cử cô Thanh, tên thật là
    Nguyễn Thị Bích Liên - chị gái Bác Hồ, khăn gói lên
    đường ra Hà Nội xem sao.
    Khi đến cổng số 12 Ngô Quyền, cô Thanh để tạm
    xuống đất hai con vịt và chiếc bị cói trong đựng vài
    chục quả trứng gà xung quanh phủ trấu, mang từ
    trong quê ra. Rồi cô đứng phủi phủi bộ quần áo nâu
    đang mặc, sửa sang lại ngay ngắn chiếc khăn nhung
    đen vấn quanh đầu. Vừa lúc, người gác cổng bước
    đến hỏi cô:
    - Bà có việc gì, cần gặp ai?
    - Tôi là chị ruột Cụ Hồ. Tôi ra thăm Cụ một chút
    rồi tôi về!
    ____________
    1. Tên của Bác Hồ lúc còn nhỏ là Nguyễn Sinh Cung,
    tiếng địa phương gọi là Nguyễn Sinh Côông.

    26

    Nghe vậy, người gác cổng bảo cô chờ. Quả nhiên,
    chờ một chốc là có người ra dẫn cô vào nhà. Hai chị
    em gặp nhau sau mấy chục năm xa cách, người nào
    cũng nghẹn ngào xúc động. Chuyện trò được một
    lát, khoảng nửa giờ, thấy có người vào trình việc,
    biết Cụ Hồ đang phải giải quyết nhiều việc cần kíp
    của đất nước khi mới giành được độc lập, cô Thanh
    về nhà người quen ở phố Hàng Nón. Hôm biết cô
    Thanh sắp về quê, Bác Hồ đang bận rộn quá nhiều
    công việc, phải nhờ người đem đến biếu cô mấy mét
    vải lĩnh để về may quần áo gọi là chút quà kỷ niệm
    sau nhiều năm chị em xa cách giữa lúc đất nước
    chìm đắm trong tối tăm, nô lệ. Nay hai chị em gặp lại
    trong không khí Tổ quốc đã giành được chính quyền
    về tay nhân dân.
    Còn ông Cả Khiêm, tức Nguyễn Sinh Khiêm (tức
    Nguyễn Tất Đạt), người anh ruột hơn Bác Hồ hai
    tuổi, nhưng kém bà Thanh bốn tuổi, ít lâu sau cũng
    ra gặp Bác Hồ ở tầng hai của ngôi nhà số 12 Ngô
    Quyền. Khi thấy Bác Hồ trong phòng làm việc bước
    ra, nhận rõ là em ruột mình, không nén nổi xúc
    động, ông Cả Khiêm bước nhanh đến ôm chầm lấy
    Bác, miệng nói lặp đi, lặp lại:
    - Chú Côông! Chú Côông! Chú có khỏe không?
    27

    Bác Hồ cũng rất xúc động, ôm chặt lấy ông Cả
    Khiêm, áp chòm râu rung rung lên má người anh
    ruột của mình nói rất thân tình:
    - Anh đã ra thăm em... Đáng lẽ em phải về thăm
    anh trước... Anh có khỏe không?
    Hai người cứ ôm nhau như vậy, lặng đi hàng
    phút, rồi ông Cả Khiêm mới buông tay và nói tiếp:
    - Chị Thanh về có nói chuyện lại, bảo là chú gầy
    lắm, công việc bận suốt ngày...
    Nói xong, ông Cả Khiêm mở chiếc vali đan
    bằng sợi mây cũ kỹ, lấy mấy quả cam Xã Đoài biếu
    Bác Hồ.
    Bác Hồ đỡ lấy cam, cảm động rơm rớm nước
    mắt. Nỗi nhớ họ hàng, quê hương trào lên, Bác đọc
    luôn câu ca về xứ Nghệ:
    Quê ta ngọt mía Nam Đàn
    Bùi khoai Chợ Rộ, thơm cam Xã Đoài
    Ai về ai nhớ chăng ai
    Ta như dầu đượm thắp hoài năm canh.
    *
    *

    *

    Sau ngày 2-9-1945, Bác Hồ tuy hằng ngày làm
    28

    việc chính thức tại nhà số 12 Ngô Quyền, họp Hội
    đồng Chính phủ, tiếp khách trong nước và quốc tế,
    nhưng ban đêm rất ít khi Bác nghỉ tại đây mà về số 8
    Lê Thái Tổ, là nhà của nguyên chánh án Tòa thượng
    thẩm Đông Dương, trước là Nhà hàng Thủy Tạ
    bây giờ. Hoặc Bác lui tới địa điểm dự bị bí mật
    tại Đê La Thành gần chợ Bưởi (từ tháng 10-1945
    đến tháng 4-1946).
    Tại nơi ở nhà số 8 Lê Thái Tổ và nhà số 12 Ngô
    Quyền lúc đó có một số nhân viên phục vụ chính
    quyền cũ. Bác Hồ chỉ thị giữ lại cho họ có việc làm.
    Tất cả số người này tận tụy phục vụ chính quyền
    cách mạng, và sau đó đi theo kháng chiến. Con cái
    của họ đều công tác tiến bộ; có hai người là đại tá
    Quân đội nhân dân Việt Nam.
    Kháng chiến toàn quốc sắp bùng nổ, Bác tạm sơ
    tán về làng Vạn Phúc, Hà Đông. Tại đây, Bác ở, làm
    việc và ăn ngủ trong một căn gác xép của một nhà
    dân. Ban đêm, các đồng chí Trường Chinh, Lê Đức
    Thọ, Võ Nguyên Giáp... từ Hà Nội vào báo cáo tình
    hình cho Bác, rồi lại trở về Hà Nội. Chính tại căn gác
    xép ở làng Vạn Phúc này, với ngọn đèn dầu leo lét,
    chiếc bút sắt, cái bàn gỗ cũ, ngày 19-12-1946, Bác Hồ
    đã viết lời kêu gọi Toàn quốc kháng chiến: ... Chúng ta
    29

    thà hy sinh tất cả, chứ nhất định không chịu mất
    nước, nhất định không chịu làm nô lệ.
    Hỡi đồng bào!
    Chúng ta phải đứng lên!1.
    Ngày 19-12-1946, lúc 18 giờ 45 phút, Bác Hồ và
    anh em giúp việc rời làng Vạn Phúc, mang balô, máy
    chữ và những thứ cần thiết lên Xuyên Dương, Cần
    Kiệm, Sài Sơn. Rồi từ Sài Sơn, Hà Nội, đi lần lên
    chiến khu Việt Bắc để cùng toàn Đảng, toàn quân,
    toàn dân tiến hành cuộc kháng chiến chín năm chống
    thực dân Pháp xâm lược.
    Trong những năm tháng đầy gian khổ và kiên
    cường đó, do hoàn cảnh giữ bí mật phải sơ tán luôn,
    Bác đã di chuyển nơi ở và làm việc tới 30 địa điểm
    trên địa bàn của các tỉnh Phú Thọ, Thái Nguyên,
    Tuyên Quang, Cao Bằng, Bắc Kạn... Thay đổi chỗ ở
    luôn, cũng có nghĩa là mỗi lần đến địa điểm mới lại
    phải làm nhà mới. Thời gian đầu chưa có người biết
    làm nhà, anh em giúp việc Bác chỉ dựng tạm tre nứa
    như một túp lều để ở. Sau đó Cơ quan 41 (C.Q41) bổ
    sung thêm các đồng chí Cần, Kiệm công tác tại Ban
    xây dựng An toàn khu Trung ương là hai thợ mộc
    ____________
    1. Xem Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.4, tr.534.

    30

    khéo tay; việc làm nhà đỡ vất vả hơn. Mỗi lần
    chuyển đến địa điểm mới, anh em giúp việc thường
    cố gắng đáp ứng yêu cầu của Bác là chỉ cần một mái
    lán tranh xinh xinh, dưới tán cây cao, gần sông hoặc
    suối thì càng tốt. Dần dần anh em làm nhà cho Bác
    theo kiểu nhà sàn ở miền núi, Bác rất thích nhưng chỉ
    cho làm vừa đủ ở và làm việc. Nhà sàn đó, tầng dưới
    dùng làm việc ban ngày; tầng trên dùng làm việc và
    nghỉ ban đêm. Kiểu nhà sàn này tránh được khí hậu
    ẩm thấp và phòng thú dữ bất ngờ tấn công. Ngôi nhà
    sàn ấy chiều cao mỗi tầng có thể đứng nhón chân với
    tay được; chiều ngang thì đưa tay sang phải, đưa tay
    sang trái là có thể lấy được các vật dụng gài trên
    vách. Từng tầng tuy đơn sơ, nhưng vẫn có cái bàn
    con và mấy chiếc ghế đơn giản. Đồ dùng của Bác
    cũng giản dị, chỉ có cái chăn chiên, cái màn một, vài
    bộ quần áo... Cho nên khi phải di chuyển chỉ việc lấy
    quần áo, màn cuộn vào cái chăn thành một gói nhỏ.
    Số tài liệu cần thì đựng trong chiếc túi vải Bác mang
    lấy. Bác chỉ để anh em giúp việc mang hộ chiếc máy
    chữ. Nơi Bác ở lâu nhất khoảng hơn năm tháng là
    Khâu Lấu, Tuyên Quang, và Điềm Mặc, Định Hóa,
    Thái Nguyên (từ tháng 5 đến tháng 10-1947). Tổng
    cộng trong chín năm kháng chiến chống thực dân
    31

    Pháp, Bác Hồ và bộ phận giúp việc cho Bác đã ở các
    địa điểm thuộc tỉnh Thái Nguyên là 19 tháng, thuộc
    tỉnh Tuyên Quang là 5 năm, 10 tháng... Có địa điểm
    ở rồi chuyển đi, năm sau lại trở về, như: Khuôn Tát
    (Thái Nguyên) ba lần; Khâu Lấu (Tuyên Quang) bốn
    lần... Dạo ở Khâu Lấu, Sơn Dương, Tuyên Quang,
    nhà sàn của Bác được làm gần sông, dưới tán cây
    rừng ken dày lá. Có vạt đất rộng, bằng, làm được sân
    bóng chuyền để chiều chiều sau khi làm việc căng
    thẳng, Bác có điều kiện chơi bóng chuyền. Cạnh sân
    bóng chuyền Bác cho làm một dãy bàn tre. Hai bên
    bàn tre là hai dãy ghế dài dùng làm nơi ngồi nghỉ
    cho những “cầu thủ” trong khi tập, vừa là chỗ tiếp
    khách khi cần, vừa làm nơi ăn cơm của Bác và số anh
    em giúp việc. Dưới gầm nhà sàn có đường hào đi ra
    hầm trú ẩn. Những quả bầu, quả bí do Bác trồng
    được quanh nhà sàn thì để gần nhà bếp nấu ăn. Bác
    thường nói với anh em giúp việc:
    - Trồng bầu, trồng bí là nhanh thu hoạch, cho
    ta ăn được cả hoa, lá, quả. Nếu phải chuyển địa
    điểm đến nơi khác thì để lại cây tăng gia được cho
    bà con khác.
    Hàm ý của Bác dạo đó là giáo dục mọi người
    luôn quán triệt tư tưởng đánh địch lâu dài: “Trường
    32

    kỳ kháng chiến, nhất định thắng lợi”. Cho nên mỗi
    lần một vài cán bộ của các ngành, đơn vị có dịp đến
    báo cáo công việc cho Bác nghe, gặp lúc vào mùa
    quả, trước khi ra về, thường được Bác tặng, người thì
    quả bầu, người thì quả bí. Vừa tặng, Bác vừa nói rất
    tự nhiên:
    - Chú cầm về..., góp thêm cải thiện bữa ăn.
    *
    *

    *

    Cuộc kháng chiến chín năm chống thực dân
    Pháp xâm lược thắng lợi. Ngày 10-10-1954, Thủ đô
    Hà Nội được giải phóng. Bác Hồ, Trung ương Đảng,
    Chính phủ về lại Thủ đô. Để đề phòng âm mưu phá
    hoại của địch, Bác Hồ và một số đồng chí trong Bộ
    Chính trị cùng Văn phòng Trung ương Đảng đến ở
    tạm tại nhà thương Đồn Thủy của Pháp, nay là Bệnh
    viện Hữu nghị và Bệnh viện Quân đội 108. Trong
    thời gian đó, Văn phòng Chính phủ và Văn phòng
    Trung ương Đảng giao cho một số anh em chuẩn bị
    nơi ở và nơi làm việc cho Bác và Trung ương. Do biết
    là Bác Hồ không chịu về ở và làm việc tại Dinh Toàn
    quyền cũ mà ta vừa tiếp quản, cho nên anh em đã
    33

    chọn một căn nhà hai tầng, lợp ngói, trong khu nhà
    làm việc của các viên chức giúp việc viên Toàn
    quyền Pháp trước kia, tại góc khuôn viên của Phủ
    Toàn quyền, nay là Phủ Chủ tịch. Ngôi nhà này có
    sáu phòng. Anh em đã sửa sang lại và trang bị đầy
    đủ đồ đạc cho từng phòng: Bàn ghế ở phòng ăn;
    salông ở phòng khách; tủ áo, giường lò xo có đệm
    và khăn trải giường ở phòng ngủ… Tấ...
     
    Gửi ý kiến

    KÍNH CHÀO QUÝ THẦY CÔ VÀ QUÝ BẠN ĐỌC ĐÃ ĐẾN TƯỜNG WEBSITE CỦA THƯ VIỆN TRƯỜNG TIỂU HỌC LƯƠNG VĂN NẮM, TÂN YÊN , BẮC GIANG !