Ý NGHĨA CỦA VIỆC ĐỌC SÁCH
Chuyện thường ngày của Bác Hồ

- 0 / 0
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: Lê Thị Minh Hiền
Ngày gửi: 14h:54' 21-02-2024
Dung lượng: 1.4 MB
Số lượt tải: 13
Nguồn:
Người gửi: Lê Thị Minh Hiền
Ngày gửi: 14h:54' 21-02-2024
Dung lượng: 1.4 MB
Số lượt tải: 13
Số lượt thích:
0 người
LỜI NHÀ XUẤT BẢN
Chủ tịch Hồ Chí Minh là tấm gương đạo đức của
một vĩ nhân, một lãnh tụ cách mạng, người cộng sản vĩ
đại, anh hùng giải phóng dân tộc, nhà văn hóa lớn,
nhưng đồng thời cũng là một con người bình dị, gần
gũi, ai cũng có thể học và làm theo, đặc biệt về phong
cách của Bác.
Trong đời sống hằng ngày, ngoài những lúc làm
việc và tiếp khách, Bác thường tranh thủ đi thăm,
chuyện trò thân tình với các cụ già, gặp gỡ chiến sĩ và
đồng bào các địa phương để nắm tình hình và tâm tư,
nguyện vọng của nhân dân. Bác đến với mọi người một
cách rất tự nhiên và bình dị. Điều đó đã trở thành một
nhu cầu, một nếp sống, trở thành điều tâm niệm suốt
đời của Người.
Để tiếp tục đẩy mạnh việc tuyên truyền, học tập và
làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh, Nhà xuất
bản Chính trị quốc gia - Sự thật xuất bản cuốn sách:
5
Chuyện thường ngày của Bác Hồ của Nhà báo Hồng
Khanh - Nguyên ủy viên Ban Biên tập Báo Nhân dân.
Cuốn sách được khởi thảo năm 2003 và liên tục
được tái bản tại Nhà xuất bản Thanh niên, lần xuất bản
gần đây nhất là năm 2011 tại Nhà xuất bản Thế giới.
Thông qua lời kể của các đồng chí nguyên là cận vệ của
Bác, Nhà báo Hồng Khanh đã ghi lại những câu
chuyện thường ngày của Bác theo các chủ đề: Người
giúp việc; Những nơi ở; Khi mặt trời lên; Cách ăn mặc;
Ngoài giờ làm việc; Đến với dân; Đêm xuống; Giấc ngủ
ngon lành. Mỗi câu chuyện đều thể hiện phong cách
giản dị, gần gũi nhưng rất tinh tế của Bác. Lối sống, tác
phong quần chúng thường ngày của Bác luôn là chuẩn
mực nhân cách con người cách mạng nhưng lại không
xa lạ với mỗi con người bình thường, mà ai cũng có thể
soi mình, học tập, noi theo.
Cuốn sách mỏng, nội dung phong phú, dễ hiểu, rất
bổ ích cho những ai muốn quan tâm nghiên cứu, tìm
hiểu về Bác Hồ và đạo đức, tác phong của Bác.
Xin trân trọng giới thiệu cuốn sách cùng bạn đọc.
Tháng 4 năm 2015
NHÀ XUẤT BẢN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA - SỰ THẬT
6
LỜI GIỚI THIỆU
Sáng kiến của tác giả Hồng Khanh viết cuốn sách
về Chuyện thường ngày của Bác Hồ chắc chắn được
đông đảo bạn đọc hoan nghênh. Cuốn sách này góp
phần vào việc giúp thế hệ trẻ tìm hiểu về con người
vĩ đại của dân tộc ta qua đời thường bằng những
mẩu chuyện sinh động. Một nét nổi bật trong cuộc
sống đời thường thể hiện sự cao thượng của Bác Hồ
là sự giản dị, gần gũi với mọi người, sống và làm
việc như đồng bào, đồng chí.
Những chuyện kể cũng cho chúng ta thấy những
người là nhân chứng đã phục vụ Bác Hồ trên 20 năm
Người làm Chủ tịch nước. Những nhân chứng này
cũng nêu gương sáng về tinh thần phục vụ Tổ quốc
bằng sự săn sóc chu đáo người lãnh đạo của nhân
dân ta.
Đồng chí Hồng Khanh là nhà báo lâu năm của
báo Nhân dân. Trong thời gian kháng chiến chống Mỹ,
7
cứu nước, Hồng Khanh là phóng viên của một tờ báo
ở Vĩnh Linh viết nhiều cho báo từ tuyến lửa ở dưới
địa đạo. Sau chiến tranh, đồng chí viết về lĩnh vực
kinh tế với những bài điều tra và bình luận sắc sảo.
Là một nhà báo chiến sĩ, từng trải qua gian khổ, thử
thách, Hồng Khanh là người có thể đảm trách những
bài viết quan trọng của cuốn sách này.
Ngày 11 tháng 6 năm 2003
HOÀNG TÙNG
Nguyên Bí thư Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam,
nguyên Tổng Biên tập báo Nhân dân
8
NGƯỜI GIÚP VIỆC
Người ta sinh ra ở đời, dù làm đến chức cao nhất
nước, hay chỉ là người dân bình thường, hằng ngày
đều phải ăn, mặc, ở, đi lại, làm việc, tiếp xúc với mọi
người... Những sinh hoạt thường ngày không thể
thiếu ấy được thể hiện cầu kỳ hay giản dị, lịch sự hay
buông thả, xa hoa hay tiết kiệm, đài các hay bình
dân..., phụ thuộc một phần điều kiện vật chất, hoàn
cảnh xã hội, nhưng phần lớn hơn có tính quyết định
là phụ thuộc ý thức, tư tưởng và ý chí rèn luyện
không ngừng của con người đó.
Chủ tịch Hồ Chí Minh - nhà cách mạng lỗi lạc,
nhà văn hóa kiệt xuất của dân tộc Việt Nam. Người
đã sáng lập Đảng Cộng sản Việt Nam, Mặt trận,
Nhà nước và Quân đội nhân dân Việt Nam anh
hùng. Bao nhiêu sách báo trong nước và ngoài nước
đã, đang và tiếp tục viết về sự nghiệp hoạt động
cách mạng, tư tưởng và cả cuộc sống sinh hoạt
thường ngày của Người.
9
Từ Cách mạng Tháng Tám năm 1945 thành công
đến ngày Người đi xa (2-9-1969), khoảng xấp xỉ tròn
một phần tư thế kỷ ấy, đất nước Việt Nam gặp biết
bao thăng trầm, sóng gió, nhưng dưới tay lái vững
vàng của Chủ tịch Hồ Chí Minh, con thuyền cách
mạng Việt Nam vẫn tiến lên vượt mọi khó khăn gian
khổ, giành hết thắng lợi này đến thắng lợi khác. Chủ
tịch Hồ Chí Minh - một con người Việt Nam không
những vĩ đại trong tư tưởng, trong sự nghiệp vì dân,
vì nước, mà còn vĩ đại, mẫu mực cả trong nếp sống
thường ngày.
Sau Cách mạng Tháng Tám năm 1945, Nhà nước
Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ra đời. Để giúp việc
Chủ tịch Hồ Chí Minh và Chính phủ điều hành đất
nước, Văn phòng Phủ Thủ tướng được hình thành,
trong đó có một bộ phận đặc biệt, bước đầu gồm tám
người được phân công phục vụ trực tiếp Bác Hồ về
các công việc sự vụ hằng ngày từ hành chính, cận vệ,
chăm sóc sức khỏe đến lái xe...
Sáng ngày 6-3-1947, tại một địa điểm sơ tán ở xã
Cổ Tiết, huyện Tam Nông, tỉnh Phú Thọ, Chủ tịch
Hồ Chí Minh và tám đồng chí trực tiếp giúp việc
cho Người ngồi bàn công tác “quân sự hóa”. Nghĩa
là cơ quan giúp việc cho Bác phải gọn, nhẹ, cơ động,
10
bí mật, nhanh chóng, đi không ai biết, đến không ai
hay. Cho nên mỗi người phải có một cái balô. Ngoài
ra, thêm một cái balô đựng máy chữ của Bác Hồ
mang từ Hà Nội lên. Khi ấy, các đồng chí trực tiếp
giúp việc cho Người được coi là cán bộ Văn phòng
Chủ tịch nước, hoặc Văn phòng Thủ tướng Chính
phủ, là một bộ phận đặc biệt thuộc biên chế Văn
phòng Chủ tịch nước. Bởi lẽ, sau Tổng tuyển cử
ngày 6-1-1946, Quốc hội khóa I của nước Việt Nam
Dân chủ Cộng hòa bầu Người làm Chủ tịch nước
kiêm luôn Thủ tướng Chính phủ1. Bộ phận này
trong suốt thời gian ở chiến khu Việt Bắc, để bảo
đảm bí mật, thường được gọi là C.Q41, nghĩa là cơ
quan 41. Con số 41 là lấy hai số cuối của năm 1941,
năm Bác Hồ về nước sau 30 năm bôn ba nước ngoài
tìm đường cứu nước.
Cuộc họp vừa kết thúc, cả tám đồng chí đang
ngồi quanh Người, bỗng càng lấy làm phấn khởi
khi thấy Chủ tịch Hồ Chí Minh âu yếm nhìn từng
người một. Đó là các đồng chí: Võ Chương, quê ở
____________
1. Mãi tới tháng 8-1949 mới có Phó Thủ tướng Phạm
Văn Đồng ở bên Bác; đến tháng 9-1955, đồng chí Phạm Văn
Đồng mới là Thủ tướng.
11
Thừa Thiên Huế, nguyên là giáo viên, hoạt động Việt
Minh tại Thanh Hóa, Hà Nội, sau Cách mạng Tháng
Tám năm 1945 trở thành chiến sĩ trong đội tự vệ cứu
quốc thành Hoàng Diệu, được chọn bổ sung vào tổ
cận vệ Bác Hồ. Đồng chí Nguyễn Cần, quê ở Thường
Tín, Hà Nội, từng tham gia Thanh niên phản đế
Trường Bưởi, Hà Nội, bị Sở Mật thám Pháp bắt giam
ở Hỏa Lò năm 1943, tháng 3-1945 vượt ngục, trở về
công tác tại nội thành Hà Nội. Đồng chí Nguyễn Văn
Lý, quê ở tỉnh Thái Bình, tham gia hoạt động cách
mạng trong phong trào công nhân từ trước năm
1940, bị địch bắt giam ở Sơn La, Thái Nguyên, rồi
vượt ngục trở về hoạt động ở căn cứ địa Tân Trào,
tỉnh Tuyên Quang. Đồng chí Nguyễn Hữu Văn, quê
ở tỉnh Hải Dương, từng hoạt động trong phong trào
Thanh niên cứu quốc Hà Nội, cuối năm 1945 được
tuyển vào tổ cận vệ Bác Hồ. Đồng chí Hoàng Văn
Lâm, người dân tộc Tày ở Lạng Sơn, sớm giác ngộ
cách mạng. Đồng chí Chu Phương Vương, người dân
tộc Tày, quê ở tỉnh Cao Bằng, giúp việc cho Bác từ
tháng 7-1945. Các đồng chí Nguyễn Quang Chí, Trần
Đình, dân tộc Nùng, quê ở tỉnh Cao Bằng, là chiến sĩ
giải phóng quân, giúp việc cho Bác trước tháng 8-1945
ở khu giải phóng Việt Bắc.
12
Cả tám đồng chí nói trên đang im lặng thì bỗng
thấy Bác vừa đưa tay chỉ từ trái sang phải theo thứ
tự từng đồng chí đang ngồi sát nhau theo hình vòng
tròn, vừa nhẹ nhàng nói:
- Từ hôm nay, Bác đặt tên cho mỗi chú như sau:
Chú Võ Chương là Trường; chú Nguyễn Cần là Kỳ;
chú Nguyễn Văn Lý là Kháng; chú Nguyễn Hữu Văn
là Chiến; chú Hoàng Văn Lâm là Nhất; chú Chu
Phương Vương là Định; chú Nguyễn Quang Chí là
Thắng; chú Trần Đình là Lợi.
Nói xong, lặng im giây lát, Bác lại nhắc tên tám
đồng chí vừa mới đặt: Trường, Kỳ, Kháng, Chiến,
Nhất, Định, Thắng, Lợi.
Rồi Bác nhẹ nhàng hỏi một câu:
- Các chú có biết tại sao Bác đặt tên các chú như
vậy không?
Cả tám người liếc nhìn nhau, suy nghĩ, chưa ai
lên tiếng. Bác giải thích luôn:
- Nhân dân ta vừa giành được chính quyền chưa
bao lâu thì đã phải bước vào cuộc kháng chiến chống
thực dân Pháp xâm lược. Nhiệm vụ trước mắt và lâu
dài của Bác là cùng với Đảng, Chính phủ lãnh đạo
nhân dân ta tiến hành cuộc kháng chiến đến ngày
thắng lợi. Bác đặt tên các chú theo khẩu hiệu “Trường
13
kỳ kháng chiến nhất định thắng lợi” là để hằng ngày
Bác gọi đến tên các chú, hay nhớ đến các chú là nhắc
nhở Bác phải lo làm sao tìm mọi mưu kế, biện pháp
để hoàn thành bằng được nhiệm vụ cao cả đó.
Niềm vinh dự, tự hào được Chủ tịch nước đặt
tên mình gắn với ý chí và quyết tâm của toàn dân tộc
đang bước vào cuộc trường kỳ kháng chiến chống
thực dân Pháp xâm lược đầy gian khổ nhưng nhất
định thắng lợi càng thôi thúc tám đồng chí không
ngừng vươn lên làm tốt nhiệm vụ. Từ đấy, trong tiếp
xúc hằng ngày, hai tiếng “Bác Hồ” chính thức được
gọi thay cho năm chữ “Chủ tịch Hồ Chí Minh” với cả
tấm lòng kính trọng, biết ơn, gần gũi và thương yêu
vô hạn. Đối với những người được vinh dự trực tiếp
giúp việc cho Bác Hồ càng hết sức vui mừng được
Bác gọi bằng “chú” với cả tình thương ân cần, trìu
mến, giúp đỡ, dạy bảo, không hề có chút cách biệt.
Nhiều đồng chí đã lấy tên Bác đặt cho mình làm tên
chính thức suốt đời, như Kỳ là đồng chí Vũ Kỳ - tức
Nguyễn Cần; Kháng là đồng chí Hoàng Hữu Kháng tức là Nguyễn Văn Lý; Chiến là đồng chí Tạ Quang
Chiến - tức Nguyễn Hữu Văn...
Khi cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm
lược bước sang giai đoạn chuẩn bị cho tổng phản công,
14
khối lượng công việc ở C.Q41 càng bề bộn, khẩn
trương. Người nào cũng làm việc chăm chỉ, ít được
ngơi nghỉ, hòa trong khí thế sôi động từ các chiến
trường Bắc - Trung - Nam dội về nơi làm việc của
Bác. Và càng náo nức, hồ hởi khi được Bác gợi ý là
nên có một số chú đi xuống cơ sở dài ngày để vừa
hiểu biết thực tế cuộc sống chiến đấu gian khổ
nhưng rất anh dũng của đồng bào, đồng chí, vừa có
dịp học tập, rèn luyện, góp phần phát huy khả năng
của mình vào sự nghiệp cách mạng. Bác còn nhấn
mạnh nếu chú nào cũng cứ ngồi hoài ở văn phòng để
nắm tình hình qua các bản báo cáo hoặc điện thoại ở
dưới gọi lên thì làm sao hiểu được thực tế, làm sao
tiến kịp theo đà phát triển chung. Thực tế, ở cơ sở
cũng là một trường học để rèn luyện mình. Ít hôm
sau, được đồng chí Trường Chinh cho biết là Bác đã
đưa gợi ý đó ra trước Thường vụ Trung ương Đảng
và được Thường vụ rất đồng tình. Thế là cả C.Q41
càng lấy làm phấn chấn và tích cực hưởng ứng gợi ý
của Bác. Không bao lâu sau, đồng chí Vũ Kỳ được về
Hà Nội làm công tác “địch vận”. Khi chuẩn bị mở
chiến dịch Điện Biên Phủ, năm 1953, Bác lại chỉ đạo
cho đồng chí Vũ Kỳ đi vào lực lượng thanh niên
xung phong, phụ trách Đoàn Thanh niên xung phong
15
Trung ương. Cũng trong thời gian bí mật, khẩn
trương, náo nức đó, một số đồng chí của C.Q41 cũng
rời văn phòng xuống cơ sở, như đồng chí Tạ Quang
Chiến xuống phụ trách Đội Thanh niên xung phong
tại “An toàn khu”. Đồng chí Hoàng Hữu Kháng làm
Trưởng Ban tiếp tế An toàn khu Trung ương, Cục
trưởng Cục Cảnh vệ Bộ Công an... Số đồng chí ở lại
giúp Bác càng làm việc bận rộn hơn. Thông cảm với
hoàn cảnh đó, những khi chưa có người bổ sung kịp,
Bác vừa thảo công văn, chỉ thị, vừa tự đánh máy lấy.
Một không khí làm việc sôi động, hồ hởi, không
quản mệt nhọc, tất cả vì cơ sở, vì tiền tuyến và chiến
thắng. Những đồng chí do yêu cầu công việc phải
chuyển sang đơn vị khác, Bác lại đặt tên cho đồng
chí mới được bổ sung như tên đồng chí đã chuyển.
Câu khẩu hiệu “Trường kỳ kháng chiến, nhất định
thắng lợi” luôn ở bên Bác. Vì thế, khi kháng chiến
thắng lợi đã có ba đồng chí mang tên Trường, hai
đồng chí mang tên Nhất, hai đồng chí mang tên Thắng.
Một số đồng chí bổ sung trong hai năm 1948 - 1949
được Bác đặt tên mang những ý nghĩa mới: Trung,
Dũng, Đồng, Tâm, Kiên, Quyết, Tiết, Kiệm.
Một hôm, trong không khí hòa bình, mới về lại
Thủ đô Hà Nội, nhân lúc Bác cháu đang nói chuyện
16
vui sau bữa cơm chiều, một đồng chí quá lạc quan,
đề nghị với Bác:
- Thưa Bác! Để phù hợp với tình hình mới, xin
Bác cho đổi tên của hai đồng chí Kháng và Chiến
thành hai tên Hòa và Bình!
Bác nhẹ nhàng trả lời, nhưng nét mặt hơi nghiêm:
- Có kháng chiến mới có hòa bình. Song hiện
nay chưa thể gọi là hòa bình, còn phải chuẩn bị kháng
chiến ở miền Nam, vì kẻ địch chưa dễ gì ngoan
ngoãn làm theo Hiệp định Giơnevơ năm 1954. Chớ
có chủ quan!
Quả câu nói của Bác là một lời tiên tri. Thực tế đã
diễn ra đúng như vậy. Hai mươi năm sau, giải
phóng miền Nam, thống nhất Tổ quốc.
Kết thúc thắng lợi chiến dịch Điện Biên Phủ,
miền Bắc hoàn toàn giải phóng. Bác Hồ, Trung ương
Đảng, Chính phủ rời chiến khu Việt Bắc, ngày 10-101954 về lại Thủ đô Hà Nội. Các đồng chí Vũ Kỳ, Tạ
Quang Chiến lần lượt được trở lại giúp việc cho Bác
Hồ. Từ đấy, trong hoàn cảnh miền Bắc được giải
phóng, miền Nam còn tạm thời trong tay địch, tính
chất công việc ở bộ phận trực tiếp giúp Bác lại càng
đòi hỏi mỗi người làm việc sâu sát hơn, tỉ mỉ hơn,
chính xác hơn, hiệu quả hơn. Một số đồng chí mới
17
rút từ Văn phòng Trung ương Đảng và một vài địa
phương lần lượt được điều động, bổ sung vào bộ
phận giúp việc cho Bác, như các đồng chí Đinh Văn
Cẩn, Lê Văn Nhượng (bổ sung năm 1950), Cù Văn
Chước, Lê Hữu Lập, Trần Văn Vượng, Nguyễn Văn
Mùi, Lưu Quang Lập, Ngô Văn Các, Hoàng Tấn
Quang... Tất cả gồm hơn mười người. Nếu kể tách
bạch ra thì công tác văn thư chỉ có bốn người, kể cả
đồng chí Vũ Kỳ. Số đồng chí khác được phân công:
người lo đánh máy, người làm cần vụ, người lo nấu
ăn, người lái xe, người làm vườn, người tiếp khách,
phục vụ hội nghị do Bác chủ trì... Phân công chuyên
môn như vậy, nhưng khi cần thiết là có sự hỗ trợ
công việc lẫn nhau trong từng bộ phận văn thư hoặc
hậu cần. Bộ phận bảo vệ tiếp cận Bác thuộc Cục
Cảnh vệ, Bộ Công an. Về tổ chức, tài vụ, công tác
đảng, văn phòng phẩm, lương cán bộ, nhân viên của
số anh em giúp việc cho Bác đều do Văn phòng Phủ
Thủ tướng phụ trách. Khi Bác đón những đoàn
khách lớn nước ngoài hoặc tổ chức tiệc tùng chiêu
đãi thì chuyển giao cho các bộ phận giao tế hoặc Bộ
Ngoại giao đảm nhiệm.
Hơn chục anh em trực tiếp giúp việc cho Bác chỉ
lo làm sao bảo đảm được mọi nhu cầu về vật chất và
18
tinh thần cần thiết hằng ngày của Bác để Bác vừa có
thêm thời gian lo việc dân, việc nước, vừa còn có thể
thư giãn, nghỉ ngơi, giải trí. Anh em thường nói với
nhau: “Sức khỏe của Bác là tài sản quốc gia”. “Ngày
nào Bác cũng vui, cũng khỏe, cũng thanh thản là
mong ước của đồng bào cả nước”. Vì vậy, hơn chục
anh em này đều chí thú lo toan công việc được giao.
Và mỗi khi Bác đi công tác xa vài ba ngày trở lên, Bác
không quên nhắc đồng chí phụ trách có thể cho anh
em thay nhau về nghỉ với vợ con, gia đình, quê
hương. Sự quan tâm dù nhỏ ấy của Bác càng động
viên anh em phấn khởi làm việc hết mình.
*
*
*
Năm 2001, năm đầu tiên của thế kỷ XXI. Tôi lần
lượt tìm đến nhà riêng của những đồng chí đã có
thời gian gần gũi giúp việc Bác. Với dụng ý, qua các
nhân chứng đặc biệt này, có thể được biết thêm về
những công việc sinh hoạt thường ngày của Bác Hồ.
Nhất là trong suốt thời gian 24 năm Người làm Chủ
tịch nước, bận trăm công nghìn việc của Đảng, của
Chính phủ, của chế độ dân chủ cộng hòa mới ra đời
19
và hình thành. Hằng ngày, Bác vẫn rèn luyện, xây
dựng cho mình một phong cách sống thư thái, giản
dị, trong sáng, mẫu mực, hết lòng vì dân, vì nước.
Trong số tám đồng chí đầu tiên giúp việc cho Bác
Hồ mà đã vinh dự được Người đặt tên “Trường, Kỳ,
Kháng, Chiến, Nhất, Định, Thắng, Lợi” thì đến năm
2001 đã có sáu đồng chí nối tiếp nhau theo Bác Hồ về
cõi vĩnh hằng trong những năm cuối của thế kỷ XX.
Hai đồng chí còn lại, ít tuổi nhất so với các đồng chí
kia, là đồng chí Vũ Kỳ, tuổi đã ngoài 80, sức khỏe có
giảm, nhưng vẫn tỉnh táo, minh mẫn; đồng chí Tạ
Quang Chiến, tuổi đã 77, trời cho còn khỏe mạnh,
hồng hào, nói năng lưu loát. Các đồng chí bổ sung
sau năm 1954, khi miền Bắc đã được giải phóng, tuổi
cũng đã trên dưới 70. Nhưng may mắn thay là đồng
chí nào cũng còn nhanh nhẹn, hoạt bát. Điều rất
mừng là khi kể lại, đồng chí nào cũng còn nhớ khá
đậm nét những kỷ niệm về công việc và sinh hoạt
thường ngày của Bác Hồ mà các đồng chí đó, cũng
như các đồng chí tiền nhiệm đã kể lại, được vinh dự
ở bên Người, giúp việc cho Người trong suốt những
năm tháng Người nhận trách nhiệm cao cả trước
Đảng, trước nhân dân là làm Chủ tịch nước.
Cuốn sách này chủ yếu ghi lại những lời kể về cuộc
20
sống đời thường: ăn, mặc, ở, đi lại, giải trí, rèn luyện
sức khỏe của Bác Hồ mà các đồng chí giúp việc cho
Người từng chứng kiến. Những việc thường ngày ấy
cũng là một yếu tố rất quan trọng góp phần quyết
định tạo nên con người Hồ Chí Minh với ý nghĩa đầy
đủ, tuyệt vời cả tài - đức - trí - lực. Qua đó, giúp
chúng ta hiểu thêm về phong cách, phẩm chất, tư
tưởng nhất quán trong mục đích, hướng đi, sự
nghiệp cách mạng của Bác Hồ - vị lãnh tụ muôn vàn
kính yêu của dân tộc Việt Nam đã suốt đời hy sinh
quên mình cho cách mạng, cho sự ấm no, tự do,
hạnh phúc của nhân dân.
Để bạn đọc tiện theo dõi, chúng tôi sắp xếp nội
dung các câu chuyện theo thứ tự sau:
- Những nơi ở
- Khi mặt trời lên
- Cách ăn mặc
- Ngoài giờ làm việc
- Đến với dân
- Đêm xuống
- Giấc ngủ ngon lành.
TÁC GIẢ
Hồng Khanh
21
NHỮNG NƠI Ở
Các đồng chí kể rằng, nếu tính từ ngày rời căn cứ
cách mạng Tân Trào, lần đầu tiên Bác về Hà Nội, vào
nội thành là chiều thứ bảy, ngày 25-8-1945, tức ngày
18-7 năm Ất Dậu. Ngày đó, Hà Nội mới giành được
chính quyền trọn một tuần, đang trong khí thế sục
sôi Cách mạng Tháng Tám. Phố xá treo đầy cờ đỏ
sao vàng và biểu ngữ “Ủng hộ Việt Minh!”, “Việt
Nam độc lập muôn năm!”. Vào lúc sâm sẩm tối, tại
làng Phú Gia, cạnh sông Hồng, đồng chí Trường
Chinh đã đến chờ sẵn để đón Bác. Chiếc xe Ford cũ
màu đen đưa Bác từ Phú Gia chạy dọc theo đê sông
Hồng, về Yên Phụ, xuống dốc Hàng Than, qua phố
Chả Cá, đến trước số nhà 35 Hàng Cân, rồi rẽ vào
phía trong có cửa phụ. Đến đây, xe ô tô dừng lại. Bác
xuống xe. Đồng chí Trường Chinh - Tổng Bí thư của
Đảng, mời Bác vào nhà, lên gác hai là nơi Thường vụ
Trung ương Đảng bố trí Bác đến ở. Ngôi nhà này
22
xây ba tầng, khá cao giữa phố cũ Hà Nội, của một
thương gia lớn là ông bà Trịnh Văn Bô. Nhà có cửa
chính phía trước mang biển số 48 phố Hàng Ngang.
Cửa chính bằng sắt chắc chắn, rất thuận lợi cho công
tác bảo vệ. Gác hai của ngôi nhà này có một căn
phòng rộng mà chủ nhà dùng làm phòng ăn. Giữa
phòng kê một bàn gỗ dài, to. Quanh bàn có tám ghế
tựa đệm mềm. Bộ bàn ghế này là nơi Bác Hồ thường
làm việc với các đồng chí Thường vụ Trung ương
Đảng. Cuối phòng, ở sát tường phía sau, kê một
chiếc bàn tròn mà Bác và số đồng chí giúp việc cho
Bác thường dùng làm chỗ ngồi ăn sáng và ăn cơm
bữa tối. Bác Hồ thường ngồi suy nghĩ, làm việc, hoặc
đánh máy ở chiếc bàn con kê sát tường góc phía
trong. Mặt bàn này hình vuông, bọc da màu xanh lá
mạ, vừa đủ để tập giấy, bút và chiếc máy chữ nhỏ,
cũ, mang từ căn cứ cách mạng Tân Trào về. Chính tại
gác hai ngôi nhà này, Bác Hồ đã trầm ngâm suy nghĩ
phác thảo nên bản Tuyên ngôn độc lập lịch sử.
Ngày 29-8, Bác Hồ và một số đồng chí giúp việc
được Trung ương bố trí đến ở và làm việc tại nhà
số 12 Ngô Quyền, cạnh vườn hoa Chí Linh, nơi
trước đó là dinh của Thống sứ Bắc Kỳ, nay là Nhà
khách Chính phủ.
23
Ngày 31-8, để chuẩn bị cho lễ ra mắt Chính phủ
Cách mạng lâm thời trước quốc dân đồng bào, Bác
hỏi anh em giúp việc:
- Nơi dự định họp míttinh như thế nào? Các chú
thử vẽ phác qua cho Bác xem.
Xem xong sơ đồ, Bác hỏi:
- Liệu chứa được bao nhiêu người?
- Dạ! Thưa Bác khoảng vài vạn người!
Bác hỏi thêm:
- Đã bố trí chỗ đồng bào đi vệ sinh chưa?
Thấy anh em nhìn nhau hơi lúng túng, đoán là
chưa nghĩ đến, Bác gợi ý ngay:
- Việc đó tuy nhỏ, nếu không chú ý bố trí cho tốt
thì dễ mất trật tự.
Theo gợi ý thêm của Bác, mọi công việc chuẩn bị
cho cuộc míttinh được tiến hành khẩn trương, hoàn
thành chu tất.
Đúng ngày 2-9-1945, trước hàng vạn đồng bào,
đồng chí tập trung ở Quảng trường Ba Đình, thay
mặt Chính phủ Cách mạng lâm thời, Bác Hồ trịnh
trọng đọc bản Tuyên ngôn độc lập. Đang đọc, bỗng
Bác dừng lại hỏi một câu:
- Tôi nói đồng bào nghe rõ không?
24
Cả biển người cả trai, gái, trẻ, già, ăn mặc đủ màu
sắc, đồng thanh trả lời: “Nghe rõ! Nghe rõ!”.
Bác trịnh trọng tuyên bố tiếp với đồng bào Thủ
đô thay mặt nhân dân cả nước và qua làn sóng phát
thanh truyền ra thế giới: “... Một dân tộc đã gan góc
chống ách nô lệ của Pháp hơn 80 năm nay, một dân tộc đã
gan góc đứng về phe Đồng minh chống phát xít mấy năm
nay, dân tộc đó phải được tự do! Dân tộc đó phải được độc
lập!... Toàn thể dân Việt Nam quyết đem tất cả tinh thần
và lực lượng, tính mệnh và của cải để giữ vững quyền tự
do và độc lập ấy”1.
Từ đó, trong không khí đất nước hồ hởi giành
được chính quyền về tay nhân dân, Bác Hồ và các
đồng chí lãnh đạo càng bộn bề mọi công việc. Số
nhà 12 Ngô Quyền không những là nơi ở và làm việc
của Bác, mà còn là điểm son tìm đến của bao nhân sĩ,
trí thức, người giàu có và nhân dân lao động để góp
phần đem sự hiểu biết, lòng trung thành và của cải,
sức lực của mình ra sức xây dựng và bảo vệ chính
quyền cách mạng non trẻ do Bác Hồ lãnh đạo. Ít lâu
sau, chính tại nơi ở 12 Ngô Quyền này, một sự việc
____________
1. Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà
Nội, 2011, t.4, tr.3.
25
hết sức đặc biệt đã xảy ra, bất ngờ sau hơn ba thập
kỷ anh chị em ruột xa nhau. Đó là sau khi lần đầu
tiên thấy ảnh Chủ tịch Hồ Chí Minh, bà con họ
hàng bên nội ở làng Kim Liên, bên ngoại ở làng
Hoàng Trù, thuộc huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An,
bàn tán nhau nửa tin, nửa ngờ: “Phải chăng, Chủ tịch
Hồ Chí Minh là Nguyễn Ái Quốc, là Nguyễn Tất
Thành, là Nguyễn Sinh Côông?”1. Để rõ sự thật, bà
con cả hai bên nội ngoại liền cử cô Thanh, tên thật là
Nguyễn Thị Bích Liên - chị gái Bác Hồ, khăn gói lên
đường ra Hà Nội xem sao.
Khi đến cổng số 12 Ngô Quyền, cô Thanh để tạm
xuống đất hai con vịt và chiếc bị cói trong đựng vài
chục quả trứng gà xung quanh phủ trấu, mang từ
trong quê ra. Rồi cô đứng phủi phủi bộ quần áo nâu
đang mặc, sửa sang lại ngay ngắn chiếc khăn nhung
đen vấn quanh đầu. Vừa lúc, người gác cổng bước
đến hỏi cô:
- Bà có việc gì, cần gặp ai?
- Tôi là chị ruột Cụ Hồ. Tôi ra thăm Cụ một chút
rồi tôi về!
____________
1. Tên của Bác Hồ lúc còn nhỏ là Nguyễn Sinh Cung,
tiếng địa phương gọi là Nguyễn Sinh Côông.
26
Nghe vậy, người gác cổng bảo cô chờ. Quả nhiên,
chờ một chốc là có người ra dẫn cô vào nhà. Hai chị
em gặp nhau sau mấy chục năm xa cách, người nào
cũng nghẹn ngào xúc động. Chuyện trò được một
lát, khoảng nửa giờ, thấy có người vào trình việc,
biết Cụ Hồ đang phải giải quyết nhiều việc cần kíp
của đất nước khi mới giành được độc lập, cô Thanh
về nhà người quen ở phố Hàng Nón. Hôm biết cô
Thanh sắp về quê, Bác Hồ đang bận rộn quá nhiều
công việc, phải nhờ người đem đến biếu cô mấy mét
vải lĩnh để về may quần áo gọi là chút quà kỷ niệm
sau nhiều năm chị em xa cách giữa lúc đất nước
chìm đắm trong tối tăm, nô lệ. Nay hai chị em gặp lại
trong không khí Tổ quốc đã giành được chính quyền
về tay nhân dân.
Còn ông Cả Khiêm, tức Nguyễn Sinh Khiêm (tức
Nguyễn Tất Đạt), người anh ruột hơn Bác Hồ hai
tuổi, nhưng kém bà Thanh bốn tuổi, ít lâu sau cũng
ra gặp Bác Hồ ở tầng hai của ngôi nhà số 12 Ngô
Quyền. Khi thấy Bác Hồ trong phòng làm việc bước
ra, nhận rõ là em ruột mình, không nén nổi xúc
động, ông Cả Khiêm bước nhanh đến ôm chầm lấy
Bác, miệng nói lặp đi, lặp lại:
- Chú Côông! Chú Côông! Chú có khỏe không?
27
Bác Hồ cũng rất xúc động, ôm chặt lấy ông Cả
Khiêm, áp chòm râu rung rung lên má người anh
ruột của mình nói rất thân tình:
- Anh đã ra thăm em... Đáng lẽ em phải về thăm
anh trước... Anh có khỏe không?
Hai người cứ ôm nhau như vậy, lặng đi hàng
phút, rồi ông Cả Khiêm mới buông tay và nói tiếp:
- Chị Thanh về có nói chuyện lại, bảo là chú gầy
lắm, công việc bận suốt ngày...
Nói xong, ông Cả Khiêm mở chiếc vali đan
bằng sợi mây cũ kỹ, lấy mấy quả cam Xã Đoài biếu
Bác Hồ.
Bác Hồ đỡ lấy cam, cảm động rơm rớm nước
mắt. Nỗi nhớ họ hàng, quê hương trào lên, Bác đọc
luôn câu ca về xứ Nghệ:
Quê ta ngọt mía Nam Đàn
Bùi khoai Chợ Rộ, thơm cam Xã Đoài
Ai về ai nhớ chăng ai
Ta như dầu đượm thắp hoài năm canh.
*
*
*
Sau ngày 2-9-1945, Bác Hồ tuy hằng ngày làm
28
việc chính thức tại nhà số 12 Ngô Quyền, họp Hội
đồng Chính phủ, tiếp khách trong nước và quốc tế,
nhưng ban đêm rất ít khi Bác nghỉ tại đây mà về số 8
Lê Thái Tổ, là nhà của nguyên chánh án Tòa thượng
thẩm Đông Dương, trước là Nhà hàng Thủy Tạ
bây giờ. Hoặc Bác lui tới địa điểm dự bị bí mật
tại Đê La Thành gần chợ Bưởi (từ tháng 10-1945
đến tháng 4-1946).
Tại nơi ở nhà số 8 Lê Thái Tổ và nhà số 12 Ngô
Quyền lúc đó có một số nhân viên phục vụ chính
quyền cũ. Bác Hồ chỉ thị giữ lại cho họ có việc làm.
Tất cả số người này tận tụy phục vụ chính quyền
cách mạng, và sau đó đi theo kháng chiến. Con cái
của họ đều công tác tiến bộ; có hai người là đại tá
Quân đội nhân dân Việt Nam.
Kháng chiến toàn quốc sắp bùng nổ, Bác tạm sơ
tán về làng Vạn Phúc, Hà Đông. Tại đây, Bác ở, làm
việc và ăn ngủ trong một căn gác xép của một nhà
dân. Ban đêm, các đồng chí Trường Chinh, Lê Đức
Thọ, Võ Nguyên Giáp... từ Hà Nội vào báo cáo tình
hình cho Bác, rồi lại trở về Hà Nội. Chính tại căn gác
xép ở làng Vạn Phúc này, với ngọn đèn dầu leo lét,
chiếc bút sắt, cái bàn gỗ cũ, ngày 19-12-1946, Bác Hồ
đã viết lời kêu gọi Toàn quốc kháng chiến: ... Chúng ta
29
thà hy sinh tất cả, chứ nhất định không chịu mất
nước, nhất định không chịu làm nô lệ.
Hỡi đồng bào!
Chúng ta phải đứng lên!1.
Ngày 19-12-1946, lúc 18 giờ 45 phút, Bác Hồ và
anh em giúp việc rời làng Vạn Phúc, mang balô, máy
chữ và những thứ cần thiết lên Xuyên Dương, Cần
Kiệm, Sài Sơn. Rồi từ Sài Sơn, Hà Nội, đi lần lên
chiến khu Việt Bắc để cùng toàn Đảng, toàn quân,
toàn dân tiến hành cuộc kháng chiến chín năm chống
thực dân Pháp xâm lược.
Trong những năm tháng đầy gian khổ và kiên
cường đó, do hoàn cảnh giữ bí mật phải sơ tán luôn,
Bác đã di chuyển nơi ở và làm việc tới 30 địa điểm
trên địa bàn của các tỉnh Phú Thọ, Thái Nguyên,
Tuyên Quang, Cao Bằng, Bắc Kạn... Thay đổi chỗ ở
luôn, cũng có nghĩa là mỗi lần đến địa điểm mới lại
phải làm nhà mới. Thời gian đầu chưa có người biết
làm nhà, anh em giúp việc Bác chỉ dựng tạm tre nứa
như một túp lều để ở. Sau đó Cơ quan 41 (C.Q41) bổ
sung thêm các đồng chí Cần, Kiệm công tác tại Ban
xây dựng An toàn khu Trung ương là hai thợ mộc
____________
1. Xem Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.4, tr.534.
30
khéo tay; việc làm nhà đỡ vất vả hơn. Mỗi lần
chuyển đến địa điểm mới, anh em giúp việc thường
cố gắng đáp ứng yêu cầu của Bác là chỉ cần một mái
lán tranh xinh xinh, dưới tán cây cao, gần sông hoặc
suối thì càng tốt. Dần dần anh em làm nhà cho Bác
theo kiểu nhà sàn ở miền núi, Bác rất thích nhưng chỉ
cho làm vừa đủ ở và làm việc. Nhà sàn đó, tầng dưới
dùng làm việc ban ngày; tầng trên dùng làm việc và
nghỉ ban đêm. Kiểu nhà sàn này tránh được khí hậu
ẩm thấp và phòng thú dữ bất ngờ tấn công. Ngôi nhà
sàn ấy chiều cao mỗi tầng có thể đứng nhón chân với
tay được; chiều ngang thì đưa tay sang phải, đưa tay
sang trái là có thể lấy được các vật dụng gài trên
vách. Từng tầng tuy đơn sơ, nhưng vẫn có cái bàn
con và mấy chiếc ghế đơn giản. Đồ dùng của Bác
cũng giản dị, chỉ có cái chăn chiên, cái màn một, vài
bộ quần áo... Cho nên khi phải di chuyển chỉ việc lấy
quần áo, màn cuộn vào cái chăn thành một gói nhỏ.
Số tài liệu cần thì đựng trong chiếc túi vải Bác mang
lấy. Bác chỉ để anh em giúp việc mang hộ chiếc máy
chữ. Nơi Bác ở lâu nhất khoảng hơn năm tháng là
Khâu Lấu, Tuyên Quang, và Điềm Mặc, Định Hóa,
Thái Nguyên (từ tháng 5 đến tháng 10-1947). Tổng
cộng trong chín năm kháng chiến chống thực dân
31
Pháp, Bác Hồ và bộ phận giúp việc cho Bác đã ở các
địa điểm thuộc tỉnh Thái Nguyên là 19 tháng, thuộc
tỉnh Tuyên Quang là 5 năm, 10 tháng... Có địa điểm
ở rồi chuyển đi, năm sau lại trở về, như: Khuôn Tát
(Thái Nguyên) ba lần; Khâu Lấu (Tuyên Quang) bốn
lần... Dạo ở Khâu Lấu, Sơn Dương, Tuyên Quang,
nhà sàn của Bác được làm gần sông, dưới tán cây
rừng ken dày lá. Có vạt đất rộng, bằng, làm được sân
bóng chuyền để chiều chiều sau khi làm việc căng
thẳng, Bác có điều kiện chơi bóng chuyền. Cạnh sân
bóng chuyền Bác cho làm một dãy bàn tre. Hai bên
bàn tre là hai dãy ghế dài dùng làm nơi ngồi nghỉ
cho những “cầu thủ” trong khi tập, vừa là chỗ tiếp
khách khi cần, vừa làm nơi ăn cơm của Bác và số anh
em giúp việc. Dưới gầm nhà sàn có đường hào đi ra
hầm trú ẩn. Những quả bầu, quả bí do Bác trồng
được quanh nhà sàn thì để gần nhà bếp nấu ăn. Bác
thường nói với anh em giúp việc:
- Trồng bầu, trồng bí là nhanh thu hoạch, cho
ta ăn được cả hoa, lá, quả. Nếu phải chuyển địa
điểm đến nơi khác thì để lại cây tăng gia được cho
bà con khác.
Hàm ý của Bác dạo đó là giáo dục mọi người
luôn quán triệt tư tưởng đánh địch lâu dài: “Trường
32
kỳ kháng chiến, nhất định thắng lợi”. Cho nên mỗi
lần một vài cán bộ của các ngành, đơn vị có dịp đến
báo cáo công việc cho Bác nghe, gặp lúc vào mùa
quả, trước khi ra về, thường được Bác tặng, người thì
quả bầu, người thì quả bí. Vừa tặng, Bác vừa nói rất
tự nhiên:
- Chú cầm về..., góp thêm cải thiện bữa ăn.
*
*
*
Cuộc kháng chiến chín năm chống thực dân
Pháp xâm lược thắng lợi. Ngày 10-10-1954, Thủ đô
Hà Nội được giải phóng. Bác Hồ, Trung ương Đảng,
Chính phủ về lại Thủ đô. Để đề phòng âm mưu phá
hoại của địch, Bác Hồ và một số đồng chí trong Bộ
Chính trị cùng Văn phòng Trung ương Đảng đến ở
tạm tại nhà thương Đồn Thủy của Pháp, nay là Bệnh
viện Hữu nghị và Bệnh viện Quân đội 108. Trong
thời gian đó, Văn phòng Chính phủ và Văn phòng
Trung ương Đảng giao cho một số anh em chuẩn bị
nơi ở và nơi làm việc cho Bác và Trung ương. Do biết
là Bác Hồ không chịu về ở và làm việc tại Dinh Toàn
quyền cũ mà ta vừa tiếp quản, cho nên anh em đã
33
chọn một căn nhà hai tầng, lợp ngói, trong khu nhà
làm việc của các viên chức giúp việc viên Toàn
quyền Pháp trước kia, tại góc khuôn viên của Phủ
Toàn quyền, nay là Phủ Chủ tịch. Ngôi nhà này có
sáu phòng. Anh em đã sửa sang lại và trang bị đầy
đủ đồ đạc cho từng phòng: Bàn ghế ở phòng ăn;
salông ở phòng khách; tủ áo, giường lò xo có đệm
và khăn trải giường ở phòng ngủ… Tấ...
Chủ tịch Hồ Chí Minh là tấm gương đạo đức của
một vĩ nhân, một lãnh tụ cách mạng, người cộng sản vĩ
đại, anh hùng giải phóng dân tộc, nhà văn hóa lớn,
nhưng đồng thời cũng là một con người bình dị, gần
gũi, ai cũng có thể học và làm theo, đặc biệt về phong
cách của Bác.
Trong đời sống hằng ngày, ngoài những lúc làm
việc và tiếp khách, Bác thường tranh thủ đi thăm,
chuyện trò thân tình với các cụ già, gặp gỡ chiến sĩ và
đồng bào các địa phương để nắm tình hình và tâm tư,
nguyện vọng của nhân dân. Bác đến với mọi người một
cách rất tự nhiên và bình dị. Điều đó đã trở thành một
nhu cầu, một nếp sống, trở thành điều tâm niệm suốt
đời của Người.
Để tiếp tục đẩy mạnh việc tuyên truyền, học tập và
làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh, Nhà xuất
bản Chính trị quốc gia - Sự thật xuất bản cuốn sách:
5
Chuyện thường ngày của Bác Hồ của Nhà báo Hồng
Khanh - Nguyên ủy viên Ban Biên tập Báo Nhân dân.
Cuốn sách được khởi thảo năm 2003 và liên tục
được tái bản tại Nhà xuất bản Thanh niên, lần xuất bản
gần đây nhất là năm 2011 tại Nhà xuất bản Thế giới.
Thông qua lời kể của các đồng chí nguyên là cận vệ của
Bác, Nhà báo Hồng Khanh đã ghi lại những câu
chuyện thường ngày của Bác theo các chủ đề: Người
giúp việc; Những nơi ở; Khi mặt trời lên; Cách ăn mặc;
Ngoài giờ làm việc; Đến với dân; Đêm xuống; Giấc ngủ
ngon lành. Mỗi câu chuyện đều thể hiện phong cách
giản dị, gần gũi nhưng rất tinh tế của Bác. Lối sống, tác
phong quần chúng thường ngày của Bác luôn là chuẩn
mực nhân cách con người cách mạng nhưng lại không
xa lạ với mỗi con người bình thường, mà ai cũng có thể
soi mình, học tập, noi theo.
Cuốn sách mỏng, nội dung phong phú, dễ hiểu, rất
bổ ích cho những ai muốn quan tâm nghiên cứu, tìm
hiểu về Bác Hồ và đạo đức, tác phong của Bác.
Xin trân trọng giới thiệu cuốn sách cùng bạn đọc.
Tháng 4 năm 2015
NHÀ XUẤT BẢN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA - SỰ THẬT
6
LỜI GIỚI THIỆU
Sáng kiến của tác giả Hồng Khanh viết cuốn sách
về Chuyện thường ngày của Bác Hồ chắc chắn được
đông đảo bạn đọc hoan nghênh. Cuốn sách này góp
phần vào việc giúp thế hệ trẻ tìm hiểu về con người
vĩ đại của dân tộc ta qua đời thường bằng những
mẩu chuyện sinh động. Một nét nổi bật trong cuộc
sống đời thường thể hiện sự cao thượng của Bác Hồ
là sự giản dị, gần gũi với mọi người, sống và làm
việc như đồng bào, đồng chí.
Những chuyện kể cũng cho chúng ta thấy những
người là nhân chứng đã phục vụ Bác Hồ trên 20 năm
Người làm Chủ tịch nước. Những nhân chứng này
cũng nêu gương sáng về tinh thần phục vụ Tổ quốc
bằng sự săn sóc chu đáo người lãnh đạo của nhân
dân ta.
Đồng chí Hồng Khanh là nhà báo lâu năm của
báo Nhân dân. Trong thời gian kháng chiến chống Mỹ,
7
cứu nước, Hồng Khanh là phóng viên của một tờ báo
ở Vĩnh Linh viết nhiều cho báo từ tuyến lửa ở dưới
địa đạo. Sau chiến tranh, đồng chí viết về lĩnh vực
kinh tế với những bài điều tra và bình luận sắc sảo.
Là một nhà báo chiến sĩ, từng trải qua gian khổ, thử
thách, Hồng Khanh là người có thể đảm trách những
bài viết quan trọng của cuốn sách này.
Ngày 11 tháng 6 năm 2003
HOÀNG TÙNG
Nguyên Bí thư Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam,
nguyên Tổng Biên tập báo Nhân dân
8
NGƯỜI GIÚP VIỆC
Người ta sinh ra ở đời, dù làm đến chức cao nhất
nước, hay chỉ là người dân bình thường, hằng ngày
đều phải ăn, mặc, ở, đi lại, làm việc, tiếp xúc với mọi
người... Những sinh hoạt thường ngày không thể
thiếu ấy được thể hiện cầu kỳ hay giản dị, lịch sự hay
buông thả, xa hoa hay tiết kiệm, đài các hay bình
dân..., phụ thuộc một phần điều kiện vật chất, hoàn
cảnh xã hội, nhưng phần lớn hơn có tính quyết định
là phụ thuộc ý thức, tư tưởng và ý chí rèn luyện
không ngừng của con người đó.
Chủ tịch Hồ Chí Minh - nhà cách mạng lỗi lạc,
nhà văn hóa kiệt xuất của dân tộc Việt Nam. Người
đã sáng lập Đảng Cộng sản Việt Nam, Mặt trận,
Nhà nước và Quân đội nhân dân Việt Nam anh
hùng. Bao nhiêu sách báo trong nước và ngoài nước
đã, đang và tiếp tục viết về sự nghiệp hoạt động
cách mạng, tư tưởng và cả cuộc sống sinh hoạt
thường ngày của Người.
9
Từ Cách mạng Tháng Tám năm 1945 thành công
đến ngày Người đi xa (2-9-1969), khoảng xấp xỉ tròn
một phần tư thế kỷ ấy, đất nước Việt Nam gặp biết
bao thăng trầm, sóng gió, nhưng dưới tay lái vững
vàng của Chủ tịch Hồ Chí Minh, con thuyền cách
mạng Việt Nam vẫn tiến lên vượt mọi khó khăn gian
khổ, giành hết thắng lợi này đến thắng lợi khác. Chủ
tịch Hồ Chí Minh - một con người Việt Nam không
những vĩ đại trong tư tưởng, trong sự nghiệp vì dân,
vì nước, mà còn vĩ đại, mẫu mực cả trong nếp sống
thường ngày.
Sau Cách mạng Tháng Tám năm 1945, Nhà nước
Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ra đời. Để giúp việc
Chủ tịch Hồ Chí Minh và Chính phủ điều hành đất
nước, Văn phòng Phủ Thủ tướng được hình thành,
trong đó có một bộ phận đặc biệt, bước đầu gồm tám
người được phân công phục vụ trực tiếp Bác Hồ về
các công việc sự vụ hằng ngày từ hành chính, cận vệ,
chăm sóc sức khỏe đến lái xe...
Sáng ngày 6-3-1947, tại một địa điểm sơ tán ở xã
Cổ Tiết, huyện Tam Nông, tỉnh Phú Thọ, Chủ tịch
Hồ Chí Minh và tám đồng chí trực tiếp giúp việc
cho Người ngồi bàn công tác “quân sự hóa”. Nghĩa
là cơ quan giúp việc cho Bác phải gọn, nhẹ, cơ động,
10
bí mật, nhanh chóng, đi không ai biết, đến không ai
hay. Cho nên mỗi người phải có một cái balô. Ngoài
ra, thêm một cái balô đựng máy chữ của Bác Hồ
mang từ Hà Nội lên. Khi ấy, các đồng chí trực tiếp
giúp việc cho Người được coi là cán bộ Văn phòng
Chủ tịch nước, hoặc Văn phòng Thủ tướng Chính
phủ, là một bộ phận đặc biệt thuộc biên chế Văn
phòng Chủ tịch nước. Bởi lẽ, sau Tổng tuyển cử
ngày 6-1-1946, Quốc hội khóa I của nước Việt Nam
Dân chủ Cộng hòa bầu Người làm Chủ tịch nước
kiêm luôn Thủ tướng Chính phủ1. Bộ phận này
trong suốt thời gian ở chiến khu Việt Bắc, để bảo
đảm bí mật, thường được gọi là C.Q41, nghĩa là cơ
quan 41. Con số 41 là lấy hai số cuối của năm 1941,
năm Bác Hồ về nước sau 30 năm bôn ba nước ngoài
tìm đường cứu nước.
Cuộc họp vừa kết thúc, cả tám đồng chí đang
ngồi quanh Người, bỗng càng lấy làm phấn khởi
khi thấy Chủ tịch Hồ Chí Minh âu yếm nhìn từng
người một. Đó là các đồng chí: Võ Chương, quê ở
____________
1. Mãi tới tháng 8-1949 mới có Phó Thủ tướng Phạm
Văn Đồng ở bên Bác; đến tháng 9-1955, đồng chí Phạm Văn
Đồng mới là Thủ tướng.
11
Thừa Thiên Huế, nguyên là giáo viên, hoạt động Việt
Minh tại Thanh Hóa, Hà Nội, sau Cách mạng Tháng
Tám năm 1945 trở thành chiến sĩ trong đội tự vệ cứu
quốc thành Hoàng Diệu, được chọn bổ sung vào tổ
cận vệ Bác Hồ. Đồng chí Nguyễn Cần, quê ở Thường
Tín, Hà Nội, từng tham gia Thanh niên phản đế
Trường Bưởi, Hà Nội, bị Sở Mật thám Pháp bắt giam
ở Hỏa Lò năm 1943, tháng 3-1945 vượt ngục, trở về
công tác tại nội thành Hà Nội. Đồng chí Nguyễn Văn
Lý, quê ở tỉnh Thái Bình, tham gia hoạt động cách
mạng trong phong trào công nhân từ trước năm
1940, bị địch bắt giam ở Sơn La, Thái Nguyên, rồi
vượt ngục trở về hoạt động ở căn cứ địa Tân Trào,
tỉnh Tuyên Quang. Đồng chí Nguyễn Hữu Văn, quê
ở tỉnh Hải Dương, từng hoạt động trong phong trào
Thanh niên cứu quốc Hà Nội, cuối năm 1945 được
tuyển vào tổ cận vệ Bác Hồ. Đồng chí Hoàng Văn
Lâm, người dân tộc Tày ở Lạng Sơn, sớm giác ngộ
cách mạng. Đồng chí Chu Phương Vương, người dân
tộc Tày, quê ở tỉnh Cao Bằng, giúp việc cho Bác từ
tháng 7-1945. Các đồng chí Nguyễn Quang Chí, Trần
Đình, dân tộc Nùng, quê ở tỉnh Cao Bằng, là chiến sĩ
giải phóng quân, giúp việc cho Bác trước tháng 8-1945
ở khu giải phóng Việt Bắc.
12
Cả tám đồng chí nói trên đang im lặng thì bỗng
thấy Bác vừa đưa tay chỉ từ trái sang phải theo thứ
tự từng đồng chí đang ngồi sát nhau theo hình vòng
tròn, vừa nhẹ nhàng nói:
- Từ hôm nay, Bác đặt tên cho mỗi chú như sau:
Chú Võ Chương là Trường; chú Nguyễn Cần là Kỳ;
chú Nguyễn Văn Lý là Kháng; chú Nguyễn Hữu Văn
là Chiến; chú Hoàng Văn Lâm là Nhất; chú Chu
Phương Vương là Định; chú Nguyễn Quang Chí là
Thắng; chú Trần Đình là Lợi.
Nói xong, lặng im giây lát, Bác lại nhắc tên tám
đồng chí vừa mới đặt: Trường, Kỳ, Kháng, Chiến,
Nhất, Định, Thắng, Lợi.
Rồi Bác nhẹ nhàng hỏi một câu:
- Các chú có biết tại sao Bác đặt tên các chú như
vậy không?
Cả tám người liếc nhìn nhau, suy nghĩ, chưa ai
lên tiếng. Bác giải thích luôn:
- Nhân dân ta vừa giành được chính quyền chưa
bao lâu thì đã phải bước vào cuộc kháng chiến chống
thực dân Pháp xâm lược. Nhiệm vụ trước mắt và lâu
dài của Bác là cùng với Đảng, Chính phủ lãnh đạo
nhân dân ta tiến hành cuộc kháng chiến đến ngày
thắng lợi. Bác đặt tên các chú theo khẩu hiệu “Trường
13
kỳ kháng chiến nhất định thắng lợi” là để hằng ngày
Bác gọi đến tên các chú, hay nhớ đến các chú là nhắc
nhở Bác phải lo làm sao tìm mọi mưu kế, biện pháp
để hoàn thành bằng được nhiệm vụ cao cả đó.
Niềm vinh dự, tự hào được Chủ tịch nước đặt
tên mình gắn với ý chí và quyết tâm của toàn dân tộc
đang bước vào cuộc trường kỳ kháng chiến chống
thực dân Pháp xâm lược đầy gian khổ nhưng nhất
định thắng lợi càng thôi thúc tám đồng chí không
ngừng vươn lên làm tốt nhiệm vụ. Từ đấy, trong tiếp
xúc hằng ngày, hai tiếng “Bác Hồ” chính thức được
gọi thay cho năm chữ “Chủ tịch Hồ Chí Minh” với cả
tấm lòng kính trọng, biết ơn, gần gũi và thương yêu
vô hạn. Đối với những người được vinh dự trực tiếp
giúp việc cho Bác Hồ càng hết sức vui mừng được
Bác gọi bằng “chú” với cả tình thương ân cần, trìu
mến, giúp đỡ, dạy bảo, không hề có chút cách biệt.
Nhiều đồng chí đã lấy tên Bác đặt cho mình làm tên
chính thức suốt đời, như Kỳ là đồng chí Vũ Kỳ - tức
Nguyễn Cần; Kháng là đồng chí Hoàng Hữu Kháng tức là Nguyễn Văn Lý; Chiến là đồng chí Tạ Quang
Chiến - tức Nguyễn Hữu Văn...
Khi cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm
lược bước sang giai đoạn chuẩn bị cho tổng phản công,
14
khối lượng công việc ở C.Q41 càng bề bộn, khẩn
trương. Người nào cũng làm việc chăm chỉ, ít được
ngơi nghỉ, hòa trong khí thế sôi động từ các chiến
trường Bắc - Trung - Nam dội về nơi làm việc của
Bác. Và càng náo nức, hồ hởi khi được Bác gợi ý là
nên có một số chú đi xuống cơ sở dài ngày để vừa
hiểu biết thực tế cuộc sống chiến đấu gian khổ
nhưng rất anh dũng của đồng bào, đồng chí, vừa có
dịp học tập, rèn luyện, góp phần phát huy khả năng
của mình vào sự nghiệp cách mạng. Bác còn nhấn
mạnh nếu chú nào cũng cứ ngồi hoài ở văn phòng để
nắm tình hình qua các bản báo cáo hoặc điện thoại ở
dưới gọi lên thì làm sao hiểu được thực tế, làm sao
tiến kịp theo đà phát triển chung. Thực tế, ở cơ sở
cũng là một trường học để rèn luyện mình. Ít hôm
sau, được đồng chí Trường Chinh cho biết là Bác đã
đưa gợi ý đó ra trước Thường vụ Trung ương Đảng
và được Thường vụ rất đồng tình. Thế là cả C.Q41
càng lấy làm phấn chấn và tích cực hưởng ứng gợi ý
của Bác. Không bao lâu sau, đồng chí Vũ Kỳ được về
Hà Nội làm công tác “địch vận”. Khi chuẩn bị mở
chiến dịch Điện Biên Phủ, năm 1953, Bác lại chỉ đạo
cho đồng chí Vũ Kỳ đi vào lực lượng thanh niên
xung phong, phụ trách Đoàn Thanh niên xung phong
15
Trung ương. Cũng trong thời gian bí mật, khẩn
trương, náo nức đó, một số đồng chí của C.Q41 cũng
rời văn phòng xuống cơ sở, như đồng chí Tạ Quang
Chiến xuống phụ trách Đội Thanh niên xung phong
tại “An toàn khu”. Đồng chí Hoàng Hữu Kháng làm
Trưởng Ban tiếp tế An toàn khu Trung ương, Cục
trưởng Cục Cảnh vệ Bộ Công an... Số đồng chí ở lại
giúp Bác càng làm việc bận rộn hơn. Thông cảm với
hoàn cảnh đó, những khi chưa có người bổ sung kịp,
Bác vừa thảo công văn, chỉ thị, vừa tự đánh máy lấy.
Một không khí làm việc sôi động, hồ hởi, không
quản mệt nhọc, tất cả vì cơ sở, vì tiền tuyến và chiến
thắng. Những đồng chí do yêu cầu công việc phải
chuyển sang đơn vị khác, Bác lại đặt tên cho đồng
chí mới được bổ sung như tên đồng chí đã chuyển.
Câu khẩu hiệu “Trường kỳ kháng chiến, nhất định
thắng lợi” luôn ở bên Bác. Vì thế, khi kháng chiến
thắng lợi đã có ba đồng chí mang tên Trường, hai
đồng chí mang tên Nhất, hai đồng chí mang tên Thắng.
Một số đồng chí bổ sung trong hai năm 1948 - 1949
được Bác đặt tên mang những ý nghĩa mới: Trung,
Dũng, Đồng, Tâm, Kiên, Quyết, Tiết, Kiệm.
Một hôm, trong không khí hòa bình, mới về lại
Thủ đô Hà Nội, nhân lúc Bác cháu đang nói chuyện
16
vui sau bữa cơm chiều, một đồng chí quá lạc quan,
đề nghị với Bác:
- Thưa Bác! Để phù hợp với tình hình mới, xin
Bác cho đổi tên của hai đồng chí Kháng và Chiến
thành hai tên Hòa và Bình!
Bác nhẹ nhàng trả lời, nhưng nét mặt hơi nghiêm:
- Có kháng chiến mới có hòa bình. Song hiện
nay chưa thể gọi là hòa bình, còn phải chuẩn bị kháng
chiến ở miền Nam, vì kẻ địch chưa dễ gì ngoan
ngoãn làm theo Hiệp định Giơnevơ năm 1954. Chớ
có chủ quan!
Quả câu nói của Bác là một lời tiên tri. Thực tế đã
diễn ra đúng như vậy. Hai mươi năm sau, giải
phóng miền Nam, thống nhất Tổ quốc.
Kết thúc thắng lợi chiến dịch Điện Biên Phủ,
miền Bắc hoàn toàn giải phóng. Bác Hồ, Trung ương
Đảng, Chính phủ rời chiến khu Việt Bắc, ngày 10-101954 về lại Thủ đô Hà Nội. Các đồng chí Vũ Kỳ, Tạ
Quang Chiến lần lượt được trở lại giúp việc cho Bác
Hồ. Từ đấy, trong hoàn cảnh miền Bắc được giải
phóng, miền Nam còn tạm thời trong tay địch, tính
chất công việc ở bộ phận trực tiếp giúp Bác lại càng
đòi hỏi mỗi người làm việc sâu sát hơn, tỉ mỉ hơn,
chính xác hơn, hiệu quả hơn. Một số đồng chí mới
17
rút từ Văn phòng Trung ương Đảng và một vài địa
phương lần lượt được điều động, bổ sung vào bộ
phận giúp việc cho Bác, như các đồng chí Đinh Văn
Cẩn, Lê Văn Nhượng (bổ sung năm 1950), Cù Văn
Chước, Lê Hữu Lập, Trần Văn Vượng, Nguyễn Văn
Mùi, Lưu Quang Lập, Ngô Văn Các, Hoàng Tấn
Quang... Tất cả gồm hơn mười người. Nếu kể tách
bạch ra thì công tác văn thư chỉ có bốn người, kể cả
đồng chí Vũ Kỳ. Số đồng chí khác được phân công:
người lo đánh máy, người làm cần vụ, người lo nấu
ăn, người lái xe, người làm vườn, người tiếp khách,
phục vụ hội nghị do Bác chủ trì... Phân công chuyên
môn như vậy, nhưng khi cần thiết là có sự hỗ trợ
công việc lẫn nhau trong từng bộ phận văn thư hoặc
hậu cần. Bộ phận bảo vệ tiếp cận Bác thuộc Cục
Cảnh vệ, Bộ Công an. Về tổ chức, tài vụ, công tác
đảng, văn phòng phẩm, lương cán bộ, nhân viên của
số anh em giúp việc cho Bác đều do Văn phòng Phủ
Thủ tướng phụ trách. Khi Bác đón những đoàn
khách lớn nước ngoài hoặc tổ chức tiệc tùng chiêu
đãi thì chuyển giao cho các bộ phận giao tế hoặc Bộ
Ngoại giao đảm nhiệm.
Hơn chục anh em trực tiếp giúp việc cho Bác chỉ
lo làm sao bảo đảm được mọi nhu cầu về vật chất và
18
tinh thần cần thiết hằng ngày của Bác để Bác vừa có
thêm thời gian lo việc dân, việc nước, vừa còn có thể
thư giãn, nghỉ ngơi, giải trí. Anh em thường nói với
nhau: “Sức khỏe của Bác là tài sản quốc gia”. “Ngày
nào Bác cũng vui, cũng khỏe, cũng thanh thản là
mong ước của đồng bào cả nước”. Vì vậy, hơn chục
anh em này đều chí thú lo toan công việc được giao.
Và mỗi khi Bác đi công tác xa vài ba ngày trở lên, Bác
không quên nhắc đồng chí phụ trách có thể cho anh
em thay nhau về nghỉ với vợ con, gia đình, quê
hương. Sự quan tâm dù nhỏ ấy của Bác càng động
viên anh em phấn khởi làm việc hết mình.
*
*
*
Năm 2001, năm đầu tiên của thế kỷ XXI. Tôi lần
lượt tìm đến nhà riêng của những đồng chí đã có
thời gian gần gũi giúp việc Bác. Với dụng ý, qua các
nhân chứng đặc biệt này, có thể được biết thêm về
những công việc sinh hoạt thường ngày của Bác Hồ.
Nhất là trong suốt thời gian 24 năm Người làm Chủ
tịch nước, bận trăm công nghìn việc của Đảng, của
Chính phủ, của chế độ dân chủ cộng hòa mới ra đời
19
và hình thành. Hằng ngày, Bác vẫn rèn luyện, xây
dựng cho mình một phong cách sống thư thái, giản
dị, trong sáng, mẫu mực, hết lòng vì dân, vì nước.
Trong số tám đồng chí đầu tiên giúp việc cho Bác
Hồ mà đã vinh dự được Người đặt tên “Trường, Kỳ,
Kháng, Chiến, Nhất, Định, Thắng, Lợi” thì đến năm
2001 đã có sáu đồng chí nối tiếp nhau theo Bác Hồ về
cõi vĩnh hằng trong những năm cuối của thế kỷ XX.
Hai đồng chí còn lại, ít tuổi nhất so với các đồng chí
kia, là đồng chí Vũ Kỳ, tuổi đã ngoài 80, sức khỏe có
giảm, nhưng vẫn tỉnh táo, minh mẫn; đồng chí Tạ
Quang Chiến, tuổi đã 77, trời cho còn khỏe mạnh,
hồng hào, nói năng lưu loát. Các đồng chí bổ sung
sau năm 1954, khi miền Bắc đã được giải phóng, tuổi
cũng đã trên dưới 70. Nhưng may mắn thay là đồng
chí nào cũng còn nhanh nhẹn, hoạt bát. Điều rất
mừng là khi kể lại, đồng chí nào cũng còn nhớ khá
đậm nét những kỷ niệm về công việc và sinh hoạt
thường ngày của Bác Hồ mà các đồng chí đó, cũng
như các đồng chí tiền nhiệm đã kể lại, được vinh dự
ở bên Người, giúp việc cho Người trong suốt những
năm tháng Người nhận trách nhiệm cao cả trước
Đảng, trước nhân dân là làm Chủ tịch nước.
Cuốn sách này chủ yếu ghi lại những lời kể về cuộc
20
sống đời thường: ăn, mặc, ở, đi lại, giải trí, rèn luyện
sức khỏe của Bác Hồ mà các đồng chí giúp việc cho
Người từng chứng kiến. Những việc thường ngày ấy
cũng là một yếu tố rất quan trọng góp phần quyết
định tạo nên con người Hồ Chí Minh với ý nghĩa đầy
đủ, tuyệt vời cả tài - đức - trí - lực. Qua đó, giúp
chúng ta hiểu thêm về phong cách, phẩm chất, tư
tưởng nhất quán trong mục đích, hướng đi, sự
nghiệp cách mạng của Bác Hồ - vị lãnh tụ muôn vàn
kính yêu của dân tộc Việt Nam đã suốt đời hy sinh
quên mình cho cách mạng, cho sự ấm no, tự do,
hạnh phúc của nhân dân.
Để bạn đọc tiện theo dõi, chúng tôi sắp xếp nội
dung các câu chuyện theo thứ tự sau:
- Những nơi ở
- Khi mặt trời lên
- Cách ăn mặc
- Ngoài giờ làm việc
- Đến với dân
- Đêm xuống
- Giấc ngủ ngon lành.
TÁC GIẢ
Hồng Khanh
21
NHỮNG NƠI Ở
Các đồng chí kể rằng, nếu tính từ ngày rời căn cứ
cách mạng Tân Trào, lần đầu tiên Bác về Hà Nội, vào
nội thành là chiều thứ bảy, ngày 25-8-1945, tức ngày
18-7 năm Ất Dậu. Ngày đó, Hà Nội mới giành được
chính quyền trọn một tuần, đang trong khí thế sục
sôi Cách mạng Tháng Tám. Phố xá treo đầy cờ đỏ
sao vàng và biểu ngữ “Ủng hộ Việt Minh!”, “Việt
Nam độc lập muôn năm!”. Vào lúc sâm sẩm tối, tại
làng Phú Gia, cạnh sông Hồng, đồng chí Trường
Chinh đã đến chờ sẵn để đón Bác. Chiếc xe Ford cũ
màu đen đưa Bác từ Phú Gia chạy dọc theo đê sông
Hồng, về Yên Phụ, xuống dốc Hàng Than, qua phố
Chả Cá, đến trước số nhà 35 Hàng Cân, rồi rẽ vào
phía trong có cửa phụ. Đến đây, xe ô tô dừng lại. Bác
xuống xe. Đồng chí Trường Chinh - Tổng Bí thư của
Đảng, mời Bác vào nhà, lên gác hai là nơi Thường vụ
Trung ương Đảng bố trí Bác đến ở. Ngôi nhà này
22
xây ba tầng, khá cao giữa phố cũ Hà Nội, của một
thương gia lớn là ông bà Trịnh Văn Bô. Nhà có cửa
chính phía trước mang biển số 48 phố Hàng Ngang.
Cửa chính bằng sắt chắc chắn, rất thuận lợi cho công
tác bảo vệ. Gác hai của ngôi nhà này có một căn
phòng rộng mà chủ nhà dùng làm phòng ăn. Giữa
phòng kê một bàn gỗ dài, to. Quanh bàn có tám ghế
tựa đệm mềm. Bộ bàn ghế này là nơi Bác Hồ thường
làm việc với các đồng chí Thường vụ Trung ương
Đảng. Cuối phòng, ở sát tường phía sau, kê một
chiếc bàn tròn mà Bác và số đồng chí giúp việc cho
Bác thường dùng làm chỗ ngồi ăn sáng và ăn cơm
bữa tối. Bác Hồ thường ngồi suy nghĩ, làm việc, hoặc
đánh máy ở chiếc bàn con kê sát tường góc phía
trong. Mặt bàn này hình vuông, bọc da màu xanh lá
mạ, vừa đủ để tập giấy, bút và chiếc máy chữ nhỏ,
cũ, mang từ căn cứ cách mạng Tân Trào về. Chính tại
gác hai ngôi nhà này, Bác Hồ đã trầm ngâm suy nghĩ
phác thảo nên bản Tuyên ngôn độc lập lịch sử.
Ngày 29-8, Bác Hồ và một số đồng chí giúp việc
được Trung ương bố trí đến ở và làm việc tại nhà
số 12 Ngô Quyền, cạnh vườn hoa Chí Linh, nơi
trước đó là dinh của Thống sứ Bắc Kỳ, nay là Nhà
khách Chính phủ.
23
Ngày 31-8, để chuẩn bị cho lễ ra mắt Chính phủ
Cách mạng lâm thời trước quốc dân đồng bào, Bác
hỏi anh em giúp việc:
- Nơi dự định họp míttinh như thế nào? Các chú
thử vẽ phác qua cho Bác xem.
Xem xong sơ đồ, Bác hỏi:
- Liệu chứa được bao nhiêu người?
- Dạ! Thưa Bác khoảng vài vạn người!
Bác hỏi thêm:
- Đã bố trí chỗ đồng bào đi vệ sinh chưa?
Thấy anh em nhìn nhau hơi lúng túng, đoán là
chưa nghĩ đến, Bác gợi ý ngay:
- Việc đó tuy nhỏ, nếu không chú ý bố trí cho tốt
thì dễ mất trật tự.
Theo gợi ý thêm của Bác, mọi công việc chuẩn bị
cho cuộc míttinh được tiến hành khẩn trương, hoàn
thành chu tất.
Đúng ngày 2-9-1945, trước hàng vạn đồng bào,
đồng chí tập trung ở Quảng trường Ba Đình, thay
mặt Chính phủ Cách mạng lâm thời, Bác Hồ trịnh
trọng đọc bản Tuyên ngôn độc lập. Đang đọc, bỗng
Bác dừng lại hỏi một câu:
- Tôi nói đồng bào nghe rõ không?
24
Cả biển người cả trai, gái, trẻ, già, ăn mặc đủ màu
sắc, đồng thanh trả lời: “Nghe rõ! Nghe rõ!”.
Bác trịnh trọng tuyên bố tiếp với đồng bào Thủ
đô thay mặt nhân dân cả nước và qua làn sóng phát
thanh truyền ra thế giới: “... Một dân tộc đã gan góc
chống ách nô lệ của Pháp hơn 80 năm nay, một dân tộc đã
gan góc đứng về phe Đồng minh chống phát xít mấy năm
nay, dân tộc đó phải được tự do! Dân tộc đó phải được độc
lập!... Toàn thể dân Việt Nam quyết đem tất cả tinh thần
và lực lượng, tính mệnh và của cải để giữ vững quyền tự
do và độc lập ấy”1.
Từ đó, trong không khí đất nước hồ hởi giành
được chính quyền về tay nhân dân, Bác Hồ và các
đồng chí lãnh đạo càng bộn bề mọi công việc. Số
nhà 12 Ngô Quyền không những là nơi ở và làm việc
của Bác, mà còn là điểm son tìm đến của bao nhân sĩ,
trí thức, người giàu có và nhân dân lao động để góp
phần đem sự hiểu biết, lòng trung thành và của cải,
sức lực của mình ra sức xây dựng và bảo vệ chính
quyền cách mạng non trẻ do Bác Hồ lãnh đạo. Ít lâu
sau, chính tại nơi ở 12 Ngô Quyền này, một sự việc
____________
1. Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà
Nội, 2011, t.4, tr.3.
25
hết sức đặc biệt đã xảy ra, bất ngờ sau hơn ba thập
kỷ anh chị em ruột xa nhau. Đó là sau khi lần đầu
tiên thấy ảnh Chủ tịch Hồ Chí Minh, bà con họ
hàng bên nội ở làng Kim Liên, bên ngoại ở làng
Hoàng Trù, thuộc huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An,
bàn tán nhau nửa tin, nửa ngờ: “Phải chăng, Chủ tịch
Hồ Chí Minh là Nguyễn Ái Quốc, là Nguyễn Tất
Thành, là Nguyễn Sinh Côông?”1. Để rõ sự thật, bà
con cả hai bên nội ngoại liền cử cô Thanh, tên thật là
Nguyễn Thị Bích Liên - chị gái Bác Hồ, khăn gói lên
đường ra Hà Nội xem sao.
Khi đến cổng số 12 Ngô Quyền, cô Thanh để tạm
xuống đất hai con vịt và chiếc bị cói trong đựng vài
chục quả trứng gà xung quanh phủ trấu, mang từ
trong quê ra. Rồi cô đứng phủi phủi bộ quần áo nâu
đang mặc, sửa sang lại ngay ngắn chiếc khăn nhung
đen vấn quanh đầu. Vừa lúc, người gác cổng bước
đến hỏi cô:
- Bà có việc gì, cần gặp ai?
- Tôi là chị ruột Cụ Hồ. Tôi ra thăm Cụ một chút
rồi tôi về!
____________
1. Tên của Bác Hồ lúc còn nhỏ là Nguyễn Sinh Cung,
tiếng địa phương gọi là Nguyễn Sinh Côông.
26
Nghe vậy, người gác cổng bảo cô chờ. Quả nhiên,
chờ một chốc là có người ra dẫn cô vào nhà. Hai chị
em gặp nhau sau mấy chục năm xa cách, người nào
cũng nghẹn ngào xúc động. Chuyện trò được một
lát, khoảng nửa giờ, thấy có người vào trình việc,
biết Cụ Hồ đang phải giải quyết nhiều việc cần kíp
của đất nước khi mới giành được độc lập, cô Thanh
về nhà người quen ở phố Hàng Nón. Hôm biết cô
Thanh sắp về quê, Bác Hồ đang bận rộn quá nhiều
công việc, phải nhờ người đem đến biếu cô mấy mét
vải lĩnh để về may quần áo gọi là chút quà kỷ niệm
sau nhiều năm chị em xa cách giữa lúc đất nước
chìm đắm trong tối tăm, nô lệ. Nay hai chị em gặp lại
trong không khí Tổ quốc đã giành được chính quyền
về tay nhân dân.
Còn ông Cả Khiêm, tức Nguyễn Sinh Khiêm (tức
Nguyễn Tất Đạt), người anh ruột hơn Bác Hồ hai
tuổi, nhưng kém bà Thanh bốn tuổi, ít lâu sau cũng
ra gặp Bác Hồ ở tầng hai của ngôi nhà số 12 Ngô
Quyền. Khi thấy Bác Hồ trong phòng làm việc bước
ra, nhận rõ là em ruột mình, không nén nổi xúc
động, ông Cả Khiêm bước nhanh đến ôm chầm lấy
Bác, miệng nói lặp đi, lặp lại:
- Chú Côông! Chú Côông! Chú có khỏe không?
27
Bác Hồ cũng rất xúc động, ôm chặt lấy ông Cả
Khiêm, áp chòm râu rung rung lên má người anh
ruột của mình nói rất thân tình:
- Anh đã ra thăm em... Đáng lẽ em phải về thăm
anh trước... Anh có khỏe không?
Hai người cứ ôm nhau như vậy, lặng đi hàng
phút, rồi ông Cả Khiêm mới buông tay và nói tiếp:
- Chị Thanh về có nói chuyện lại, bảo là chú gầy
lắm, công việc bận suốt ngày...
Nói xong, ông Cả Khiêm mở chiếc vali đan
bằng sợi mây cũ kỹ, lấy mấy quả cam Xã Đoài biếu
Bác Hồ.
Bác Hồ đỡ lấy cam, cảm động rơm rớm nước
mắt. Nỗi nhớ họ hàng, quê hương trào lên, Bác đọc
luôn câu ca về xứ Nghệ:
Quê ta ngọt mía Nam Đàn
Bùi khoai Chợ Rộ, thơm cam Xã Đoài
Ai về ai nhớ chăng ai
Ta như dầu đượm thắp hoài năm canh.
*
*
*
Sau ngày 2-9-1945, Bác Hồ tuy hằng ngày làm
28
việc chính thức tại nhà số 12 Ngô Quyền, họp Hội
đồng Chính phủ, tiếp khách trong nước và quốc tế,
nhưng ban đêm rất ít khi Bác nghỉ tại đây mà về số 8
Lê Thái Tổ, là nhà của nguyên chánh án Tòa thượng
thẩm Đông Dương, trước là Nhà hàng Thủy Tạ
bây giờ. Hoặc Bác lui tới địa điểm dự bị bí mật
tại Đê La Thành gần chợ Bưởi (từ tháng 10-1945
đến tháng 4-1946).
Tại nơi ở nhà số 8 Lê Thái Tổ và nhà số 12 Ngô
Quyền lúc đó có một số nhân viên phục vụ chính
quyền cũ. Bác Hồ chỉ thị giữ lại cho họ có việc làm.
Tất cả số người này tận tụy phục vụ chính quyền
cách mạng, và sau đó đi theo kháng chiến. Con cái
của họ đều công tác tiến bộ; có hai người là đại tá
Quân đội nhân dân Việt Nam.
Kháng chiến toàn quốc sắp bùng nổ, Bác tạm sơ
tán về làng Vạn Phúc, Hà Đông. Tại đây, Bác ở, làm
việc và ăn ngủ trong một căn gác xép của một nhà
dân. Ban đêm, các đồng chí Trường Chinh, Lê Đức
Thọ, Võ Nguyên Giáp... từ Hà Nội vào báo cáo tình
hình cho Bác, rồi lại trở về Hà Nội. Chính tại căn gác
xép ở làng Vạn Phúc này, với ngọn đèn dầu leo lét,
chiếc bút sắt, cái bàn gỗ cũ, ngày 19-12-1946, Bác Hồ
đã viết lời kêu gọi Toàn quốc kháng chiến: ... Chúng ta
29
thà hy sinh tất cả, chứ nhất định không chịu mất
nước, nhất định không chịu làm nô lệ.
Hỡi đồng bào!
Chúng ta phải đứng lên!1.
Ngày 19-12-1946, lúc 18 giờ 45 phút, Bác Hồ và
anh em giúp việc rời làng Vạn Phúc, mang balô, máy
chữ và những thứ cần thiết lên Xuyên Dương, Cần
Kiệm, Sài Sơn. Rồi từ Sài Sơn, Hà Nội, đi lần lên
chiến khu Việt Bắc để cùng toàn Đảng, toàn quân,
toàn dân tiến hành cuộc kháng chiến chín năm chống
thực dân Pháp xâm lược.
Trong những năm tháng đầy gian khổ và kiên
cường đó, do hoàn cảnh giữ bí mật phải sơ tán luôn,
Bác đã di chuyển nơi ở và làm việc tới 30 địa điểm
trên địa bàn của các tỉnh Phú Thọ, Thái Nguyên,
Tuyên Quang, Cao Bằng, Bắc Kạn... Thay đổi chỗ ở
luôn, cũng có nghĩa là mỗi lần đến địa điểm mới lại
phải làm nhà mới. Thời gian đầu chưa có người biết
làm nhà, anh em giúp việc Bác chỉ dựng tạm tre nứa
như một túp lều để ở. Sau đó Cơ quan 41 (C.Q41) bổ
sung thêm các đồng chí Cần, Kiệm công tác tại Ban
xây dựng An toàn khu Trung ương là hai thợ mộc
____________
1. Xem Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.4, tr.534.
30
khéo tay; việc làm nhà đỡ vất vả hơn. Mỗi lần
chuyển đến địa điểm mới, anh em giúp việc thường
cố gắng đáp ứng yêu cầu của Bác là chỉ cần một mái
lán tranh xinh xinh, dưới tán cây cao, gần sông hoặc
suối thì càng tốt. Dần dần anh em làm nhà cho Bác
theo kiểu nhà sàn ở miền núi, Bác rất thích nhưng chỉ
cho làm vừa đủ ở và làm việc. Nhà sàn đó, tầng dưới
dùng làm việc ban ngày; tầng trên dùng làm việc và
nghỉ ban đêm. Kiểu nhà sàn này tránh được khí hậu
ẩm thấp và phòng thú dữ bất ngờ tấn công. Ngôi nhà
sàn ấy chiều cao mỗi tầng có thể đứng nhón chân với
tay được; chiều ngang thì đưa tay sang phải, đưa tay
sang trái là có thể lấy được các vật dụng gài trên
vách. Từng tầng tuy đơn sơ, nhưng vẫn có cái bàn
con và mấy chiếc ghế đơn giản. Đồ dùng của Bác
cũng giản dị, chỉ có cái chăn chiên, cái màn một, vài
bộ quần áo... Cho nên khi phải di chuyển chỉ việc lấy
quần áo, màn cuộn vào cái chăn thành một gói nhỏ.
Số tài liệu cần thì đựng trong chiếc túi vải Bác mang
lấy. Bác chỉ để anh em giúp việc mang hộ chiếc máy
chữ. Nơi Bác ở lâu nhất khoảng hơn năm tháng là
Khâu Lấu, Tuyên Quang, và Điềm Mặc, Định Hóa,
Thái Nguyên (từ tháng 5 đến tháng 10-1947). Tổng
cộng trong chín năm kháng chiến chống thực dân
31
Pháp, Bác Hồ và bộ phận giúp việc cho Bác đã ở các
địa điểm thuộc tỉnh Thái Nguyên là 19 tháng, thuộc
tỉnh Tuyên Quang là 5 năm, 10 tháng... Có địa điểm
ở rồi chuyển đi, năm sau lại trở về, như: Khuôn Tát
(Thái Nguyên) ba lần; Khâu Lấu (Tuyên Quang) bốn
lần... Dạo ở Khâu Lấu, Sơn Dương, Tuyên Quang,
nhà sàn của Bác được làm gần sông, dưới tán cây
rừng ken dày lá. Có vạt đất rộng, bằng, làm được sân
bóng chuyền để chiều chiều sau khi làm việc căng
thẳng, Bác có điều kiện chơi bóng chuyền. Cạnh sân
bóng chuyền Bác cho làm một dãy bàn tre. Hai bên
bàn tre là hai dãy ghế dài dùng làm nơi ngồi nghỉ
cho những “cầu thủ” trong khi tập, vừa là chỗ tiếp
khách khi cần, vừa làm nơi ăn cơm của Bác và số anh
em giúp việc. Dưới gầm nhà sàn có đường hào đi ra
hầm trú ẩn. Những quả bầu, quả bí do Bác trồng
được quanh nhà sàn thì để gần nhà bếp nấu ăn. Bác
thường nói với anh em giúp việc:
- Trồng bầu, trồng bí là nhanh thu hoạch, cho
ta ăn được cả hoa, lá, quả. Nếu phải chuyển địa
điểm đến nơi khác thì để lại cây tăng gia được cho
bà con khác.
Hàm ý của Bác dạo đó là giáo dục mọi người
luôn quán triệt tư tưởng đánh địch lâu dài: “Trường
32
kỳ kháng chiến, nhất định thắng lợi”. Cho nên mỗi
lần một vài cán bộ của các ngành, đơn vị có dịp đến
báo cáo công việc cho Bác nghe, gặp lúc vào mùa
quả, trước khi ra về, thường được Bác tặng, người thì
quả bầu, người thì quả bí. Vừa tặng, Bác vừa nói rất
tự nhiên:
- Chú cầm về..., góp thêm cải thiện bữa ăn.
*
*
*
Cuộc kháng chiến chín năm chống thực dân
Pháp xâm lược thắng lợi. Ngày 10-10-1954, Thủ đô
Hà Nội được giải phóng. Bác Hồ, Trung ương Đảng,
Chính phủ về lại Thủ đô. Để đề phòng âm mưu phá
hoại của địch, Bác Hồ và một số đồng chí trong Bộ
Chính trị cùng Văn phòng Trung ương Đảng đến ở
tạm tại nhà thương Đồn Thủy của Pháp, nay là Bệnh
viện Hữu nghị và Bệnh viện Quân đội 108. Trong
thời gian đó, Văn phòng Chính phủ và Văn phòng
Trung ương Đảng giao cho một số anh em chuẩn bị
nơi ở và nơi làm việc cho Bác và Trung ương. Do biết
là Bác Hồ không chịu về ở và làm việc tại Dinh Toàn
quyền cũ mà ta vừa tiếp quản, cho nên anh em đã
33
chọn một căn nhà hai tầng, lợp ngói, trong khu nhà
làm việc của các viên chức giúp việc viên Toàn
quyền Pháp trước kia, tại góc khuôn viên của Phủ
Toàn quyền, nay là Phủ Chủ tịch. Ngôi nhà này có
sáu phòng. Anh em đã sửa sang lại và trang bị đầy
đủ đồ đạc cho từng phòng: Bàn ghế ở phòng ăn;
salông ở phòng khách; tủ áo, giường lò xo có đệm
và khăn trải giường ở phòng ngủ… Tấ...
 





