BẢN TIN HÔM NAY

Sách như một cánh cổng diệu kỳ đưa ta đến những chân trời của lý tưởng, khát vọng và bình yên. Cuộc đời ta thay đổi theo hai cách: Qua những người ta gặp và qua những cuốn sách ta đọc. Đọc sách là nếp sống, là một nét đẹp văn hóa và là nguồn sống bất diệt. Việc đọc cũng giống như việc học. Có đọc, có học thì mới có nhân. Thói quen đọc sách chỉ được hình thành và duy trì khi chữ tâm và sách hòa quện làm một. Người đọc sách là người biết yêu thương bản thân mình và là người biết trân trọng cuộc sống. Việc đọc một cuốn sách có đem lại cho bạn lợi ích hay không, phụ thuộc vào thái độ và tâm thế của bạn khi đọc.

NƠI ẤY LÀ TÌNH YÊU

VIDEO GIỚI THIỆU SÁCH CỦA THƯ VIỆN

Thống kê

  • truy cập   (chi tiết)
    trong hôm nay
  • lượt xem
    trong hôm nay
  • thành viên
  • Thành viên trực tuyến

    2 khách và 0 thành viên

    CHÂM NGÔN HAY

    Những gì sách dạy chúng ta cũng giống như lửa. Chúng ta lấy nó từ nhà hàng xóm, thắp nó trong nhà ra, đem nó truyền cho người khác và nó trở thành tài sản của tất cả mọi người. - Voltaire Đọc sách có thể không giàu, nhưng không đọc, chắc chắn nghèo! Một cuốn sách hay thực sự hay dạy tôi nhiều điều hơn là đọc nó, Tôi phải nhanh chóng đặt nó xuống, bắt đầu sống theo những điều nó chỉ dẫn. Điều tôi bắt đầu bằng cách đọc, tôi phải kết thúc bằng hành động - Henry David Thoreau Đằng sau thành công của một con người không thể thiếu một cuốn sách gối đầu. Sách là kho báu tri thức của cả nhân loại, là kết tinh trí tuệ qua bao thế hệ con người. Một cuốn sách hay chính là chìa khóa quan trọng để mỗi con người có thể chinh phục mọi khó khăn và chạm đến thành công. Để cho con một hòm vàng không bằng dạy cho con một quyển sách hay. Lựa sách mà đọc cũng như lựa bạn mà chơi. Hãy coi chừng bạn giả.

    Ảnh ngẫu nhiên

    Anh_phong_thu_vien.jpg Toan5KetnoiBai1OntapsotunhienTiet1trang6.jpg Toan5KetnoiBai9LuyentapchungTiet2Trang30.jpg Toan5KetnoiBai9LuyentapchungTiet3Trang31.jpg IMG20240223151732.jpg IMG20240103091955.jpg IMG20240223144040.jpg IMG20240223140316.jpg Xep_sach_nghe_thuat_bac_giap.jpg 9ad2f57a8ea52ffb76b4.jpg 3f5be303b0dc118248cd.jpg 0145e51db6c2179c4ed3.jpg 3f5be303b0dc118248cd.jpg IMG20231129152201.jpg Bo_tri_sap_xep_sach_trong_TV_3.jpg Doc_sach_trong_thu_vien.flv Phong_thu_vien.flv Co_so_vat_chat_trong_thu_vien_4.jpg Co_so_vat_chat_trong_thu_vien_1.jpg Co_so_vat_chat_trong_thu_vien_2.jpg

    SÁCH ĐIỆN TỬ SGK, SGV

    HÌNH ẢNH TIÊU BIỂU

    Day la tieu de

    Day la dau de

    Phan noi dung cua tai lieu ...

    Thư viện là kho tàng tri thức của nhân loại

    Ý NGHĨA CỦA VIỆC ĐỌC SÁCH

    CÁC QUYỀN CƠ BẢN TRẺ EM

    Wait
    • Begin_button
    • Prev_button
    • Play_button
    • Stop_button
    • Next_button
    • End_button
    • 0 / 0
    • Loading_status
    Nhấn vào đây để tải về
    Báo tài liệu có sai sót
    Nhắn tin cho tác giả
    (Tài liệu chưa được thẩm định)
    Nguồn:
    Người gửi: Hoàng Thị Tuyết Trinh (trang riêng)
    Ngày gửi: 18h:45' 16-04-2024
    Dung lượng: 786.3 KB
    Số lượt tải: 19
    Số lượt thích: 0 người
    HỘI ĐỒNG CHỈ ĐẠO XUẤT BẢN
    Chủ tịch Hội đồng
    Phó Trưởng Ban Tuyên giáo Trung ương
    LÊ MẠNH HÙNG
    Phó Chủ tịch Hội đồng
    Q. Giám đốc - Tổng Biên tập
    Nhà xuất bản Chính trị quốc gia Sự thật
    PHẠM CHÍ THÀNH
    Thành viên
    TRẦN QUỐC DÂN
    NGUYỄN ĐỨC TÀI
    NGUYỄN NGUYÊN
    NGUYỄN HOÀI ANH

    LỜI NHÀ XUẤT BẢN

    Trải qua nhiều năm lịch sử của cuộc Chiến tranh thế
    giới thứ nhất, hàng triệu trẻ em trên thế giới bị đẩy vào
    hoàn cảnh khốn cùng chưa từng có. Quá trình công nghiệp
    hóa ở châu Âu cũng là một nhân tố chính dẫn đến tình
    trạng bóc lột sức lao động trẻ em diễn ra phổ biến thời bấy
    giờ. Đứng trước nguy cơ trẻ em bị xâm hại nhiều mặt, ảnh
    hưởng nghiêm trọng đến tương lai của loài người, một tổ
    chức cứu trợ đã được thành lập ở Anh và Thụy Điển vào
    năm 1919. Năm 1924, Tuyên bố Giơnevơ được Hội quốc
    liên thông qua đánh dấu những bước đi đầu tiên trong bảo
    vệ quyền trẻ em trên thế giới. Mặc dù vậy, phải đến
    năm 1989, bằng sự vận động tích cực của một số quốc gia,
    Liên hợp quốc mới thông qua Công ước quốc tế về quyền
    trẻ em và Việt Nam là nước đầu tiên ở châu Á, là nước thứ
    hai trên thế giới đã phê chuẩn Công ước này vào ngày
    20-2-1990. Lần đầu tiên trong lịch sử, một văn bản quốc tế
    đề cập toàn diện các vấn đề về quyền trẻ em theo hướng
    tiến bộ, bình đẳng và mang tính pháp lý cao. Đây là cơ sở
    cho việc thúc đẩy chăm sóc và bảo vệ các quyền trẻ em
    trên thế giới trong đó có Việt Nam. Đồng thời, Việt Nam
    cũng ban hành các văn bản pháp luật quy định cụ thể về
    quyền trẻ em và bảo vệ quyền trẻ em.

    5

    Nhằm phục vụ nhu cầu nghiên cứu, tìm hiểu các quy
    định của pháp luật quốc tế và pháp luật Việt Nam về
    quyền trẻ em, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia Sự thật
    xuất bản cuốn sách Các quyền cơ bản của trẻ em do
    tác giả Đăng Trường biên soạn. Cuốn sách đề cập lịch sử
    phát triển của bảo vệ quyền trẻ em trên thế giới và
    Việt Nam, từ đó, phân tích các quy định của pháp luật
    Việt Nam về quyền trẻ em hiện nay. Thêm vào đó, tác giả
    cũng đưa ra những nhận định cụ thể trong việc nhìn
    nhận vai trò của mỗi cá nhân, tổ chức trong công cuộc bảo
    vệ quyền trẻ em ở Việt Nam.
    Xin trân trọng giới thiệu cuốn sách với bạn đọc
    Tháng 10 năm 2018
    NHÀ XUẤT BẢN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA SỰ THẬT

    6

    LỜI NÓI ĐẦU

    “Một đứa bé không phải là một chiếc lọ hoa để
    đổ đầy mà là một ngọn lửa cần được thắp sáng” Rabelais từng nói. Thế giới có ngập tràn niềm vui
    hay là chìm trong nỗi đau phụ thuộc vào cách đối
    xử của xã hội đối với trẻ em. Một khi có điều kiện
    tốt để phát triển cả về thể chất lẫn tinh thần,
    được giáo dục về tình yêu thương nhân loại, hằng
    ngày được chứng kiến những hành động nhân văn
    thì không có lý nào trẻ em lại đem đến một màu
    buồn cho xã hội. Ngược lại, “những chủ nhân
    tương lai” lớn lên trong đói, lạnh... hay lớn lên
    trong sự quen thuộc của tiếng súng đạn chiến
    tranh thì đương nhiên không thể phát triển tốt về
    tinh thần và thể chất. Tác động của cuộc sống tới
    trẻ em là tác động sâu sắc và có ảnh hưởng rất lớn
    đối với nhân cách của trẻ sau này. Vì vậy, chúng
    ta không chỉ phải tạo điều kiện cho trẻ em phát
    triển đầy đủ về thể chất mà còn cần xây dựng một
    môi trường lành mạnh cho sự phát triển nhân
    cách của trẻ. Trước đây, ý thức về quyền của trẻ
    em chưa được chú trọng. Chẳng hạn, từ thế kỷ XIV,
    7

    khi châu Âu bước vào thời kỳ công nghiệp hóa,
    hàng loạt trẻ em buộc phải lao động dưới hầm mỏ.
    Số phận của trẻ em ngày càng bi đát khi Chiến
    tranh thế giới thứ nhất nổ ra, đẩy trẻ em vào tình
    cảnh khốn khổ cả về thể chất lẫn tinh thần. Tuy
    nhiên, thời kỳ đó không có những điều ước hay
    luật quốc tế điều chỉnh vấn đề quyền trẻ em. Cho
    tới tận năm 1923 mới có Hiến chương về quyền
    trẻ em. Và sau này, “vào ngày 26-9-1924 Hội quốc
    liên mới thông qua Tuyên ngôn Giơnevơ về quyền
    trẻ em; Tuyên ngôn gồm 5 điểm (do Hiệp hội quốc
    tế các quỹ cứu trợ trẻ em khởi thảo dựa trên Hiến
    chương về quyền trẻ em). Kể từ đây quyền trẻ em
    đã trở thành một khái niệm được khẳng định và
    thừa nhận”1.
    Phải trải qua một thời gian khá dài, vấn đề trẻ
    em mới được nhận thức rõ: đó là trẻ em là nhân tố
    ảnh hưởng trực tiếp đến tương lai nhân loại, trẻ
    em không chỉ là nhóm người dễ bị tổn thương, cần
    được quan tâm mà ý kiến và sự tham gia đóng
    góp của trẻ em còn đóng vai trò đáng kể trong tiến
    trình phát triển bền vững của thế giới.
    Công ước quốc tế về quyền trẻ em năm 1989 ra
    ___________
    1. Quỹ bảo trợ trẻ em Việt Nam: Hỏi - đáp về Công
    ước quyền trẻ em, http://www.nfvc.org.vn/kien-thuctre-em/hoi-dap-ve-cong-uoc-quyen-tre-em_t114c77n477#.
    W5pyWh_gLIU.

    8

    đời, được sự đồng tình và phê chuẩn của hàng loạt
    các quốc gia trên thế giới cho thấy, đây là vấn đề
    cấp thiết đối với sự phát triển của mỗi quốc gia
    nói riêng và toàn thế giới nói chung.
    Việt Nam là nước đầu tiên ở châu Á và nước
    thứ hai trên thế giới phê chuẩn Công ước quốc tế
    về quyền trẻ em năm 1989 vào ngày 20-2-1990.
    Từ đó đến nay, mặc dù còn nhiều khó khăn,
    Việt Nam đã đạt được nhiều tiến bộ trong việc
    đưa tinh thần và nội dung của Công ước vào chiến
    lược phát triển kinh tế - xã hội và luật pháp quốc
    gia, thể hiện qua nhiều bộ luật, luật được ban
    hành, sửa đổi, bổ sung nhằm bảo vệ quyền trẻ em
    như Luật Trẻ em năm 2016, sửa đổi, bổ sung năm
    2018 (tiền thân là Luật Bảo vệ, chăm sóc và giáo
    dục trẻ em năm 2004), Luật Giáo dục năm 2005,
    sửa đổi, bổ sung năm 2009, 2014, 2015, Bộ luật
    Lao động năm 2012, sửa đổi, bổ sung năm 2015,
    Bộ luật Dân sự năm 2015, Bộ luật Tố tụng hình
    sự năm 2015...
    Cuốn sách này nhằm giúp độc giả hiểu rõ
    quyền trẻ em là những đặc quyền tự nhiên mà các
    em được hưởng, được làm, được tôn trọng và thực
    hiện, là biện pháp bảo đảm cho các em không phải
    là những người tiếp thu thụ động tình thương hay
    lòng tốt của bất cứ ai, mà trở thành chủ thể của
    quyền, từ đó nâng cao nhận thức về quyền trẻ em,
    phòng, chống thương tích, tăng cường tiếng nói và
    9

    khả năng tự đại diện của các em, giúp cộng đồng
    và chính quyền địa phương nâng cao nhận thức về
    quyền trẻ em và củng cố các cơ chế hiện có để bảo
    vệ trẻ em khỏi bị ngược đãi, lãng quên, bóc lột,
    tránh nguy cơ thương tích và các mối nguy hiểm
    trong xã hội, đưa ra chính sách hỗ trợ phát triển
    đầy đủ và lành mạnh cho trẻ em.
    Xin trân trọng giới thiệu cuốn sách cùng bạn đọc.
    TÁC GIẢ

    10

    I. LỊCH SỬ VẤN ĐỀ QUYỀN TRẺ EM
    1. Khái niệm quyền
    Tri thức về quyền con người có ý nghĩa quan
    trọng trong sự phát triển và tiến bộ của nhân loại
    đồng thời là tiền đề cho sự phát triển đầy đủ về
    nhân cách và năng lực của mỗi cá nhân, là cơ sở
    cho hòa bình và thịnh vượng trên toàn thế giới.
    Tầm quan trọng của tri thức về quyền con
    người và vai trò của giáo dục trong việc phổ biến
    tri thức này đã được Liên hợp quốc khẳng định
    trong Tuyên ngôn quốc tế nhân quyền năm 1948.
    Một trong những mục tiêu của giáo dục là hướng
    tới và đạt được “sự tôn trọng nhân quyền và
    những quyền tự do căn bản”1.
    Giáo dục nhằm thúc đẩy sự tôn trọng quyền
    con người còn được đề cao trong nhiều văn kiện
    quốc tế khác của Liên hợp quốc như Công ước
    quốc tế về các quyền kinh tế, xã hội và văn hóa
    năm 1966, Công ước quốc tế về quyền trẻ em
    ___________
    1. Khoản 2 Điều 26 Tuyên ngôn quốc tế nhân quyền
    năm 1948.

    11

    năm 1989, Tuyên bố Viên và Chương trình hành
    động tại Hội nghị thế giới về nhân quyền tổ chức
    tại Viên (Áo) năm 1993...
    Gần 50 định nghĩa về quyền con người đã được
    công bố, trong đó mỗi định nghĩa tiếp cận vấn đề
    từ một góc độ nhất định, chỉ ra những thuộc tính
    nhất định, nhưng không định nghĩa nào bao hàm
    được tất cả các thuộc tính của quyền con người do
    sự nhìn nhận chủ quan của mỗi cá nhân.
    Riêng định nghĩa của Văn phòng Cao ủy Liên
    hợp quốc về quyền con người thường được các nhà
    nghiên cứu trích dẫn. Theo định nghĩa này, quyền
    con người là những bảo đảm pháp lý toàn cầu có
    tác dụng bảo vệ các cá nhân và các nhóm chống
    lại những hành động hoặc sự bỏ mặc, làm tổn hại
    đến nhân phẩm, những sự được phép và tự do cơ
    bản của con người.
    Ngoài định nghĩa trên, còn một định nghĩa
    cũng thường được trích dẫn: quyền con người là
    những sự được phép mà tất cả thành viên của
    cộng đồng nhân loại, không phân biệt giới tính,
    chủng tộc, tôn giáo, địa vị xã hội... đều có ngay từ
    khi sinh ra, đơn giản chỉ vì họ là con người.
    Ở Việt Nam, định nghĩa về quyền con người do
    một số chuyên gia, cơ quan nghiên cứu nêu ra
    không hoàn toàn giống nhau, nhưng nhìn chung,
    quyền con người thường được hiểu là những nhu
    cầu, lợi ích tự nhiên, vốn có và khách quan của
    12

    con người được ghi nhận và bảo vệ trong pháp
    luật quốc gia và các thỏa thuận pháp lý quốc tế1.
    Như vậy, quyền con người là những chuẩn mực
    được cộng đồng quốc tế thừa nhận và tuân thủ, là
    kết tinh những giá trị nhân văn của nhân loại. Dù
    cách nhìn nhận có những khác biệt nhất định,
    quyền con người là những giá trị cao cả cần được
    tôn trọng và bảo vệ trong mọi xã hội và mọi giai
    đoạn lịch sử.
    Trong mỗi xã hội, quyền là những đòi hỏi cơ
    bản và chính đáng của một con người phải được
    hưởng hoặc có thể được làm. Đó là quyền được
    công nhận về mặt pháp lý, quy định trách nhiệm,
    nghĩa vụ buộc người khác phải tôn trọng, bảo vệ
    và đáp ứng. Mỗi người đòi hỏi quyền cho bản thân
    và những người khác cũng vậy.
    Vì thế, mọi thành viên trong cộng đồng và xã hội
    đều có nghĩa vụ phải đáp ứng quyền tương ứng.
    Đòi hỏi đáp ứng hay tôn trọng một quyền nào
    đó của bản thân; cũng có nghĩa là phải có nghĩa
    vụ không làm bất cứ việc gì dẫn đến xâm phạm,
    lấy bớt hoặc tước đi quyền của người khác.
    Quyền trẻ em chính là quyền con người, là các
    ___________
    1. Hoàng Lan Anh: Bảo đảm quyền con người trong
    Hiến pháp Việt Nam - Luận văn thạc sĩ, 2014,
    http://www.fdvn.vn/wp-content/uploads/2017/08/Luan-vanBao-ve-quyen-con-nguoi-theo-Hien-phap-Viet-Nam.pdf.

    13

    quyền của trẻ em, được xây dựng dựa trên nhu
    cầu và đặc điểm của trẻ, nhằm bảo đảm cho sự
    tồn tại và phát triển của trẻ với các thuộc tính:
    - Bất khả xâm phạm;
    - Áp dụng bình đẳng với tất cả mọi trẻ em;
    - Liên quan với nhau và không thể tách rời,
    quyền phải đi đôi với trách nhiệm.
    2. Vấn đề trẻ em trong lịch sử phát triển
    của nhân loại
    Ngay từ thế kỷ XIV, XV ở châu Âu đã có
    những tổ chức cộng đồng hoạt động trên lĩnh
    vực bảo vệ trẻ em, tiêu biểu là Bệnh viện
    Spedan Digerli Innosanti ở Floren (Italia). Thời
    kỳ này, quá trình công nghiệp hóa ở châu Âu
    kéo theo tình trạng bóc lột sức lao động trẻ em
    một cách phổ biến. Thêm vào đó, Chiến tranh
    thế giới thứ nhất (1914 - 1918) đã đẩy hàng
    triệu trẻ em trên thế giới vào hoàn cảnh cùng
    khổ. Vì vậy, năm 1919, một số tổ chức cứu trợ
    trẻ em được thành lập ở Anh và Thụy Điển.
    Những năm tiếp theo, Tổ chức Lao động quốc
    tế (ILO) đã ban hành một số công ước nhằm bảo
    vệ trẻ em trong các lĩnh vực lao động, việc làm và
    bảo trợ xã hội. Tuy nhiên, những văn kiện thời kỳ
    đó chưa đặt vấn đề dưới góc độ “quyền” trẻ em.
    Năm 1923, Eglantyne Jebb soạn thảo Hiến
    chương về quyền trẻ em và chỉ đến năm 1924,
    14

    khái niệm quyền trẻ em được khẳng định và thừa
    nhận trong bản Tuyên ngôn Giơnevơ về quyền
    trẻ em do Hội quốc liên thông qua (Tuyên ngôn
    này do Hiệp hội quốc tế các quỹ cứu trợ trẻ em khởi
    thảo dựa trên Hiến chương về quyền trẻ em)1.
    Ngày 11-12-1946, Quỹ Nhi đồng Liên hợp quốc
    (UNICEF) một quỹ cứu tế được thành lập với tôn
    chỉ, mục đích ban đầu của tổ chức này là giúp trẻ
    em châu Âu gặp hoàn cảnh khó khăn sau Chiến
    tranh thế giới thứ hai.
    Năm 1948, Liên hợp quốc thông qua Tuyên ngôn
    quốc tế nhân quyền, trong đó khẳng định trẻ em
    cũng là chủ thể bình đẳng của các quyền con người.
    Năm 1953, UNICEF mở rộng tôn chỉ, mục đích
    của mình hướng tới các mục tiêu: chăm sóc, phục
    vụ và bảo vệ mọi quyền lợi cho sự phát triển của
    trẻ em trên toàn thế giới, đặc biệt là trẻ em ở các
    nước đang phát triển và kém phát triển. Các hình
    thức giúp đỡ phổ biến là: cung cấp các dịch vụ cơ
    bản về y tế kể cả thuốc thiết yếu, chăm sóc sức
    khỏe ban đầu, dinh dưỡng; nước và vệ sinh môi
    trường, giới và phát triển; các lĩnh vực liên quan
    đến trẻ em và phụ nữ.
    ___________
    1. Quỹ bảo trợ trẻ em: Hỏi đáp về Công ước quyền
    trẻ em, http://www.nfvc.org.vn/kien-thuc-tre-em/hoi-dapve-cong-uoc-quyen-tre-em_t114c77#.W5pyWh_gLIU.

    15

    Đặc biệt, UNICEF còn tham gia các hoạt động
    cứu trợ khẩn cấp. Mọi hỗ trợ của UNICEF tập
    trung vào các chương trình của cộng đồng với sự
    tham gia của mọi tầng lớp nhân dân nhằm đem
    lại lợi ích thiết thực cho trẻ em ở khắp mọi nơi
    trên thế giới. UNICEF trở thành một bộ phận
    thường trực của Liên hợp quốc - bắt đầu chiến
    dịch bài trừ bệnh yaws, một chứng bệnh tàn phá
    cơ thể hàng trăm triệu trẻ em nhưng có thể chữa
    bằng thuốc penicillin.
    Năm 1959, Liên hợp quốc thông qua bản Tuyên
    ngôn thứ hai, phát triển nội dung của Tuyên ngôn
    Giơnevơ năm 1924. Tuyên ngôn này đề cập quyền
    trẻ em: mọi trẻ em có quyền được bảo vệ, giáo dục,
    chăm lo sức khỏe, chỗ ở và dinh dưỡng.
    Năm 1961, UNICEF đưa ra chương trình giáo
    dục, thúc đẩy và giúp đỡ các quốc gia về vấn đề
    giáo dục trẻ em.
    Năm 1965, UNICEF được trao giải Nobel Hòa
    bình vì đã khích lệ tình thương và sự tương trợ giữa
    các quốc gia.
    Năm 1979, năm quốc tế thiếu nhi. Công việc soạn
    thảo Công ước về quyền trẻ em bắt đầu tiến hành.
    Năm 1981, UNICEF đưa ra chương trình vận
    động nuôi con bằng sữa mẹ nhằm làm giảm một
    số chứng bệnh ở trẻ em.
    Năm 1982, UNICEF phát động phong trào
    “Cách mạng về sự sống còn và phát triển của trẻ em”
    16

    dựa trên bốn nguyên tắc: theo dõi sức lớn của trẻ,
    nước uống, sữa mẹ và tiêm ngừa miễn nhiễm.
    Năm 1987, UNICEF tiến hành nghiên cứu
    “Thay đổi kinh tế và bộ mặt nhân loại” khiến thế
    giới phải lưu tâm đến vấn đề bảo vệ phụ nữ và trẻ
    em, đối phó với các tác hại của thay đổi kinh tế tại
    các quốc gia nghèo.
    Các nỗ lực của UNICEF đã dẫn tới Hội nghị
    thượng đỉnh thế giới về trẻ em được Liên hợp quốc
    tổ chức vào tháng 9-1990 và tháng 5-2002 tại
    New York với sự tham gia của nhiều nước và sự
    hiện diện của các nguyên thủ quốc gia. Hội nghị
    thượng đỉnh thế giới về trẻ em tháng 9-1990 đã
    nhất trí thông qua 27 mục tiêu về y tế, giáo dục
    và phúc lợi cho trẻ em và phụ nữ. Nội dung chính
    của các mục tiêu này là1:
    - Giảm 1/3 tỷ lệ tử vong của trẻ sơ sinh và trẻ
    dưới 5 tuổi.
    - Giảm 1/2 tỷ lệ tử vong của các bà mẹ.
    - Giảm 1/2 tỷ lệ suy dinh dưỡng của trẻ em
    dưới 5 tuổi.
    - Bảo đảm đa số người dân nông thôn được tiếp
    cận nước sạch.
    - Phổ cập giáo dục cơ bản; hoàn thành 80%
    ___________
    1. Bộ Ngoại giao Việt Nam - Quỹ Nhi đồng Liên hợp
    quốc, http://www.mofahcm.gov.vn/vi/mofa/ctc_quocte/
    un/nr040819155753/nr060928111253/ns070731090359.

    17

    giáo dục cấp tiểu học cho trẻ em ở độ tuổi đến
    trường.
    Cùng với sự phát triển lịch sử, vấn đề lao động
    trẻ em trở thành vấn đề nghiêm trọng, nhức nhối
    ở nhiều nơi trên thế giới. Do đó, vấn đề quyền trẻ
    em đã được đặt ra. Với sự nỗ lực của các quốc gia,
    Công ước quốc tế về quyền trẻ em được thông qua
    và ký kết ngày 20-11-1989, còn gọi là Công ước
    quốc tế về quyền trẻ em năm 1989, có hiệu lực từ
    ngày 2-9-1990.
    Công ước để ngỏ cho các quốc gia tham gia ký
    kết, phê chuẩn và gia nhập. Ngoài Lời nói đầu,
    nội dung của Công ước gồm 3 phần với 54 điều
    khoản, bao quát được tất cả những khía cạnh
    liên quan đến quyền trẻ em và xác định rõ
    nghĩa vụ của các quốc gia trong việc bảo đảm
    quyền trẻ em, mối quan hệ giữa trẻ em và
    quyền con người nói chung.
    Lần đầu tiên, vấn đề “trẻ em” được xác định,
    làm cơ sở cho việc thúc đẩy và bảo vệ các quyền
    trẻ em trên thực tế. Một tập hợp các quyền trẻ em
    trên tất cả các lĩnh vực (mà rất nhiều quyền chưa
    được đề cập ở các văn kiện trước đó) đã được Công
    ước ghi nhận, bảo đảm cho trẻ em được bảo vệ,
    chăm sóc một cách có hiệu quả; được phát triển
    toàn diện cả về thể chất, trí tuệ, tình cảm, đạo
    đức và xã hội.
    Không chỉ đề cập trẻ em nói chung, Công ước
    18

    còn đề cập việc bảo vệ quyền của những nhóm trẻ
    em đặc biệt (tàn tật, lang thang cơ nhỡ, bị ảnh
    hưởng của xung đột vũ trang...), đồng thời, xác
    định những biện pháp nhằm xóa bỏ những nguy
    cơ đang đe dọa nghiêm trọng cuộc sống của nhiều
    trẻ em như bị lạm dụng tình dục, bóc lột sức lao
    động, ảnh hưởng của chất ma túy, bị buộc phải
    tham gia vào các cuộc xung đột vũ trang... Cùng
    với các điều đó, Công ước còn xác lập một cơ chế
    quốc tế để giám sát việc thực hiện các quyền trẻ
    em trên thế giới, tạo điều kiện cần thiết để trẻ em
    được phát triển đầy đủ. Công ước được coi là văn
    kiện pháp lý quốc tế cơ bản và toàn diện nhất về
    quyền trẻ em.
    Năm 1996, UNICEF đã thông qua Tuyên ngôn
    UNICEF với nội dung1:
    - Thực hiện mọi chủ trương của Liên hợp quốc
    về bảo vệ các quyền của trẻ em đồng thời hỗ trợ,
    đáp ứng những yêu cầu cơ bản của trẻ em.
    - Hỗ trợ các quốc gia thực hiện những cam kết
    về trẻ em do Hội nghị thượng đỉnh về trẻ em của
    Liên hợp quốc (1990) đề ra.
    - Huy động mọi ý chí chính trị và các nguồn lực
    vật chất nhằm giúp các nước xây dựng năng lực,
    ___________
    1 Bộ Ngoại giao Việt Nam - Quỹ Nhi đồng Liên hợp
    quốc, http://www.mofahcm.gov.vn/vi/mofa/ctc_quocte/
    un/nr040819155753/nr060928111253/ns070731090359.

    19

    đề ra các chính sách phù hợp để chuyển giao dịch
    vụ trẻ em tới các hộ gia đình.
    - Cam kết bảo vệ những trẻ em gặp hoàn cảnh
    đặc biệt khó khăn như trẻ em là nạn nhân của
    xung đột vũ trang; trẻ em nghèo khó; trẻ em lang
    thang cơ nhỡ...
    - Thông qua các chương trình quốc gia nhằm
    khuyến khích quyền bình đẳng cho phụ nữ và trẻ
    em gái, đồng thời hỗ trợ họ tham gia các hoạt
    động phát triển kinh tế cũng như chính trị của
    các quốc gia và cộng đồng. UNICEF hợp tác với
    tất cả các chính phủ, các tổ chức quốc tế và các tổ
    chức phi chính phủ (NGO's) trong khuôn khổ
    Công ước quốc tế về quyền trẻ em năm 1989
    nhằm đạt được các mục tiêu về trẻ em do Hội nghị
    thượng đỉnh về trẻ em (1990) đề ra.
    Để thích ứng với điều kiện và hoàn cảnh thế
    giới mới nhằm phục vụ trẻ em một cách hiệu quả
    nhất, trong những năm gần đây, UNICEF đã xác
    định sứ mệnh và trách nhiệm của mình như sau:
    - Thực hiện trách nhiệm do Đại hội đồng
    Liên hợp quốc giao phó là chăm lo bảo vệ các
    quyền của trẻ em, giúp đỡ đáp ứng các nhu cầu
    cơ bản của trẻ em và tạo thêm cơ hội giúp trẻ
    em phát huy đầy đủ tiềm năng của mình.
    - Theo Công ước quốc tế về quyền trẻ em
    năm 1989, phải phấn đấu thiết lập các quyền của
    trẻ em như những nguyên tắc đạo lý bền vững
    20

    và các chuẩn mực quốc tế trong việc đối xử với
    trẻ em.
    - Nhấn mạnh sự sống còn, bảo vệ và phát triển
    của trẻ em là những đòi hỏi phát triển toàn cầu
    gắn liền với sự tiến bộ của con người.
    - Động viên ý chí chính trị và nguồn lực vật
    chất để giúp đỡ các nước, đặc biệt là các nước
    đang phát triển, bảo đảm phương châm trước
    tiên cho trẻ em và xây dựng năng lực, đề ra các
    chính sách phù hợp và cung ứng các dịch vụ cho
    trẻ em và gia đình của các em.
    - Cam kết bảo đảm sự bảo vệ đặc biệt đối với
    trẻ em chịu thiệt thòi nhất như nạn nhân của
    chiến tranh, thiên tai, đói nghèo cùng cực, của
    mọi hình thức bạo lực và bóc lột cũng như trẻ em
    bị tàn tật.
    - Ứng phó trong các trường hợp khẩn cấp để
    bảo vệ các quyền của trẻ em. Trong việc phối hợp
    với các đối tác của Liên hợp quốc và các cơ quan
    nhân đạo, UNICEF dành cho họ những phương
    tiện đáp ứng nhanh của mình nhằm giảm bớt
    những đau khổ của trẻ em và thực hiện việc chăm
    sóc đối với trẻ em.
    - UNICEF là một tổ chức không thiên vị và sự
    hợp tác của UNICEF là không phân biệt đối xử
    trong mọi hoạt động của mình, dành ưu tiên cho
    các trẻ em bị thiệt thòi nhất và những nước cần
    giúp đỡ nhất.
    21

    - Thông qua các chương trình quốc gia, thúc
    đẩy các quyền bình đẳng của phụ nữ và trẻ em
    gái, hỗ trợ họ tham gia đầy đủ vào sự phát triển
    chính trị, kinh tế và xã hội của cộng đồng.
    - Hợp tác với mọi đối tác để đạt được những
    mục tiêu phát triển con người bền vững đã được
    cộng đồng thế giới thông qua cũng như thực hiện
    triển vọng hoà bình và tiến bộ xã hội được ghi
    trong Hiến chương của Liên hợp quốc.
    Tại Hội nghị thượng đỉnh thế giới về trẻ em
    tháng 5-2002, các nguyên thủ các nước đã nhất trí
    thông qua bản Tuyên bố và kế hoạch hành động
    cho thập kỷ tới bằng văn kiện chính của khóa họp
    mang tên Một thế giới phù hợp với trẻ em. Tuyên
    bố gồm các điểm khẳng định nghĩa vụ phát huy,
    bảo vệ quyền và phúc lợi của trẻ em và kế hoạch
    hành động với các mục tiêu chính như sau1:
    - Giảm ít nhất 1/3 tỷ lệ tử vong trẻ sơ sinh và trẻ
    em dưới 5 tuổi để đến năm 2015 giảm được 2/3.
    - Giảm ít nhất 1/3 tỷ lệ tử vong bà mẹ liên
    quan thai sản để đến năm 2015 giảm được 2/3.
    - Giảm ít nhất 1/3 tỷ lệ suy dinh dưỡng của trẻ
    dưới 5 tuổi.
    - Giảm ít nhất 1/3 tỷ lệ các hộ gia đình không
    được tiếp cận với nước sạch và hố xí hợp vệ sinh.
    ___________
    1 Bộ Ngoại giao Việt Nam - Quỹ Nhi đồng Liên hợp
    quốc, http://www.mofahcm.gov.vn/vi/mofa/ctc_quocte/
    un/nr040819155753/nr060928111253/ns070731090359.

    22

    - Bảo đảm các chính sách phát triển tuổi thơ
    thông qua các chính sách và chương trình để trẻ
    em được phát triển cả về thể lực, xã hội, tình cảm
    và tinh thần.
    - Phát triển và thực hiện các chính sách với trẻ
    vị thành niên.
    - Bảo đảm cho mọi trẻ em ở các lứa tuổi phù
    hợp được tiếp cận hệ thống chăm sóc sức khỏe ban
    đầu và sức khỏe sinh sản.
    Khóa họp này không chỉ chú trọng vào cam kết
    chính trị mà đặt ra yêu cầu cao là phải hành động
    và thực hiện cam kết.
    Tóm lại, từ đầu thế kỷ XX đến nay, một loạt
    văn kiện quốc tế đã được thông qua, trực tiếp hoặc
    gián tiếp đề cập các quyền của trẻ em. Các văn
    kiện ban đầu hoặc không có tính ràng buộc về
    nghĩa vụ pháp lý hoặc chưa tiếp cận từ vị thế đặc
    biệt và chú trọng đến những nhu cầu đặc thù của
    trẻ em nên tác động trên thực tế rất hạn chế. Mục
    đích đặt ra là trẻ em phải được sống trong hòa
    bình, trong xã hội thân ái; cần phải được sự chăm
    sóc của Nhà nước, xã hội, gia đình và cần có sự
    bảo vệ về mặt pháp lý. Điều này đặc biệt có ý
    nghĩa ở những quốc gia đang phát triển.
    Năm 1996, báo cáo của Machel: “Tác hại của
    chiến tranh vũ khí đối với trẻ em” do UNICEF
    bảo trợ, cảnh báo việc xâm phạm quyền trẻ em.
    Năm 2000, để hỗ trợ cho Công ước quốc tế về
    23

    quyền trẻ em năm 1989, Liên hợp quốc đã thông
    qua hai Nghị định thư bổ sung, đề cập việc cấm
    sử dụng trẻ em trong các cuộc xung đột vũ trang,
    cấm buôn bán, bóc lột mại dâm trẻ em, cấm văn
    hóa phẩm khiêu dâm trẻ em.
    Nhìn chung, từ đầu thế kỷ XX đến nay, các văn
    kiện quốc tế liên quan đến quyền trẻ em liên tiếp
    được ban hành. Đây là thành quả đấu tranh liên
    tục của nhân loại nhằm cải thiện vị thế và cuộc
    sống trẻ em.
    Ngay sau khi Công ước quốc tế về quyền trẻ em
    năm 1989 có hiệu lực, Hội nghị thượng đỉnh thế
    giới về trẻ em đã được tổ chức tại New York từ
    ngày 29 đến 30-9-1990. Hội nghị thông qua
    Tuyên bố thế giới và kế hoạch hành động về sự
    sống còn, phát triển và bảo vệ trẻ em, đề cập
    những thách thức và mục tiêu cụ thể nhằm bảo
    đảm cuộc sống và các quyền của trẻ em trong giai
    đoạn 1990 - 2000.
    Kết thúc giai đoạn này, nhân loại đã đạt được
    những kết quả bước đầu nhưng rất to lớn trong
    việc bảo đảm quyền trẻ em. Bằng các chiến dịch
    tiêm chủng và phổ biến dùng muối iốt mà hàng
    năm, gần 3 triệu trẻ em trên thế giới được cứu
    sống, 75 vạn trẻ em khỏi bị tàn tật về thể chất,
    12 triệu trẻ em thoát khỏi nguy cơ mắc bệnh
    tâm thần. Bằng việc phổ biến dùng nước sạch,
    vệ sinh môi trường, nuôi con bằng sữa mẹ... mà
    24

    hàng năm có hàng chục triệu trẻ em không bị
    suy dinh dưỡng.
    Bằng việc giáo dục, tuyên truyền về quyền trẻ
    em, nhận thức về vị thế của trẻ em trong các xã
    hội đã thay đổi. Trẻ em từ chỗ bị xem là đối tượng
    phụ thuộc, phải chịu sự chi phối hoàn toàn của
    người lớn đến chỗ được thừa nhận, đối xử với tư
    cách là những chủ thể của quyền chứ không đơn
    thuần chỉ là đối tượng của tình thương hay lòng
    nhân đạo.
    So với các điều ước quốc tế nói chung, Điều ước
    quốc tế về quyền con người nói riêng, Công ước
    quốc tế về quyền trẻ em năm 1989 có những điểm
    nổi bật sau:
    - Thời gian từ khi ký đến khi Công ước có hiệu
    lực rất ngắn (9 tháng 18 ngày) và là điều ước quốc
    tế đa phương có số lượng các quốc gia thành viên
    lớn nhất (197 quốc gia) so với tất cả các điều ước
    quốc tế được ký trên thế giới. Đặc điểm này phản
    ánh tầm quan trọng của vấn đề bảo vệ quyền trẻ
    em cũng như sự quan tâm của các quốc gia đối với
    thế hệ trẻ.
    - Công ước quốc tế về quyền trẻ em năm 1989
    lần đầu tiên khái quát được các khía cạnh của
    quyền trẻ em và xác định rõ nghĩa vụ của các
    quốc gia trong việc bảo đảm quyền của trẻ em;
    mối quan hệ giữa quyền trẻ em với quyền con
    người nói chung.
    25

    - Theo Công ước quốc tế về quyền trẻ em năm
    1989, Ủy ban về quyền trẻ em được thành lập
    nhằm xem xét sự tiến bộ mà các quốc gia thành
    viên đạt được trong việc thực hiện các nghĩa vụ
    mà họ đã cam kết thông qua các báo cáo định kỳ.
    Đồng thời bên cạnh Ủy ban về quyền trẻ em, các
    cơ quan chuyên môn, Quỹ Nhi đồng Liên hợp quốc
    và các tổ chức khác thuộc Liên hợp quốc cũng có
    thẩm quyền giám sát, giúp đỡ các quốc gia thành
    viên trong quá trình thực hiện Công ước.
    Năm 2001, Chiến dịch “Nói đồng ý với trẻ em”một phong trào toàn cầu khuyến khích mọi người
    thay đổi thế giới bằng cách lưu tâm đến trẻ em.
    Hàng triệu người đã ký tên xác định sẽ tìm cách
    nâng cao đời sống trẻ em.
    Ngoài Quỹ Nhi đồng Liên hợp quốc, còn rất
    nhiều tổ chức phi chính phủ hoạt động vì quyền
    lợi của trẻ em, chẳng hạn tổ chức Children Action Tổ chức hành động vì trẻ em, là một quỹ từ thiện,
    cung cấp mọi loại trợ giúp cho các trẻ em bất
    hạnh, trong đó có chăm sóc y khoa, phẫu thuật,
    giúp đỡ tâm lý, chăm sóc phòng ngừa thanh thiếu
    niên tự tử v.v.. Tổ chức này được Bernard Sabrier
    thành lập năm 1994, có trụ sở ở Thụy Sĩ. Tổ chức
    đã tiến hành một số công việc giúp hỗ trợ trẻ em
    như Dự án phòng ngừa bỏ rơi trẻ em, trường học
    cho các trẻ em thiếu thốn, các phẫu thuật ngoại
    khoa cho trẻ em, thành lập Trung tâm dành cho
    26

    trẻ em khiếm thị, trợ giúp trẻ em bị nhiễm AIDS,
    trợ giúp trẻ em bị bệnh ung thư. Một số tổ chức
    phi chính phủ khác - như Tổ chức theo dõi nhân
    quyền đã quan tâm tới vấn đề lao động trẻ em, trẻ
    em đường phố, đòi chấm dứt sử dụng lính trẻ em
    trong chiến tranh...
    Bước sang thế kỷ XXI, mục tiêu thiên niên kỷ
    của Liên hợp quốc cũng đưa ra vấn đề về quyền trẻ
    em - một trong những nhóm dễ bị tổn thương, cần
    phải quan tâm vì đây là tương lai của nhân loại.

    II. KHÁI NIỆM TRẺ EM
    VÀ QUYỀN TRẺ EM
    1. Khái niệm trẻ em
    Công ước quốc tế về quyền trẻ em năm 1989
    quy định, trẻ em có nghĩa là bất kỳ người nào dưới
    18 tuổi, trừ khi luật pháp của quốc gia thành viên
    quy định tuổi thành niên sớm hơn.
    Theo Điều 1, Luật Trẻ em năm 2016, sửa đổi,
    bổ sung năm 2018 quy định: “Trẻ em là người
    dưới 16 tuổi”.
    Mỗi trẻ em là một con người với những đặc
    điểm riêng về thể chất và tâm sinh lý. Những đặc
    điểm và khả năng của trẻ rất khác nhau theo
    từng độ tuổi và sự trưởng thành, vì thế rất khác
    so với người trưởng thành.
    27

    Năng lực của trẻ được hình thành, thay đổi và
    phát triển. Do vậy, trẻ em có quyền được sống,
    trưởng thành, phát triển khỏe mạnh và hạnh
    phúc trong tình yêu thương của cha mẹ, gia đình
    và cộng đồng.
    2. Xác định quyền trẻ em
    Cuốn sách Quyền trẻ em (The Rights of
    Infants) xuất bản năm 1796 của Thomas Spence
    là một trong những cuốn sách đầu tiên viết
    bằng tiếng Anh, xác nhận các quyền của trẻ em.
    Trong suốt thập niên đầu tiên của thế kỷ XX,
    các nhà hoạt động vì quyền trẻ em đã nhóm
    họp, đòi hỏi quyền cho trẻ em vô gia cư và giáo
    dục công cộng.
    Tiếp đó, cuốn Quyền được tôn trọng của trẻ em
    (The Child's Right to Respect) xuất bản năm 1927
    của Janusz Korczak đã gây sự chú ý lớn về lĩnh
    vực này. Hiện nay, hàng chục tổ chức quốc tế
    đang hoạt động trên khắp thế giới để cổ động cho
    quyền trẻ em1.
    ___________
    1. Hoàng Minh Khôi: Hoàn thiện hệ thống tư pháp
    cho người chưa thành niên ở một số nước và những nội
    dung có thể tham khảo, website của Trung tâm tư vấn
    pháp luật Thành phố Hồ Chí Minh - Trung ương Hội
    Luật gia Việt Nam, http://nguoibaovequyenloi.com/user/
    thongtin_chitiet-aspx?MaTT=168201672110123641&
    MAMT=26.

    28

    Định nghĩa:
    Quyền trẻ em là tất cả những gì trẻ em cần có
    để được sống và lớn lên một cách lành mạnh và an
    toàn. Quyền trẻ em nhằm bảo đảm cho trẻ em
    không chỉ là người tiếp nhận thụ động lòng nhân
    từ của người lớn mà các em còn là những thành
    viên tham gia tích cực vào quá trình phát triển
    của nhân loại.
    Các quyền phải thực hiện ngay:
    - Các quyền dân sự, chính trị.
    - Các vấn đề như sự phân biệt đối xử, quyền
    được lắng nghe, quyền có họ tên, quốc tịch, quyền
    tự do biểu đạt và lập hội, quyền được đoàn tụ với
    gia đình, quyền được bảo vệ khỏi sự hành hạ và
    ngược đãi.
    - Những quy định đặc biệt về sự bảo vệ, can
    thiệp của nhà nước trong những tình huống và điều
    kiện mà theo đó, trẻ em có thể bị tước đoạt tự do.
    Các quyền thực hiện từng bước:
    - Các quyền về kinh tế, xã hội và văn hóa;
    - Các quyền về y tế và giáo dục;
    - Các quyền không thuộc nhóm quyền thứ nhất.
    Các quyền này được công nhận tại Điều 4 Công
    ước quốc tế về quyền trẻ em năm 1989 với nội
    dung: “... Về các quyền về kinh tế, xã hội và văn
    hóa các quốc gia thành viên phải thi hành những
    biện pháp như vậy ở mức tối đa theo khả năng
    29

    sẵn có của mình, và khi cần thiết, trong khuôn
    khổ hợp tác quốc tế”.
    Quá trình theo dõi, giám sát và thực
    hiện quyền:
    - Thành lập một ủy ban quốc gia giám sát việc
    thực hiện.
    - Đề ra các mục tiêu cụ thể trong một thời gian
    nhất định để thực hiện.
    - Thông qua các luật phù hợp với Công ước
    quốc tế về quyền trẻ em năm 1989.
    - Thực hiện các chương trình và hoạt động.
    - Xem xét tình hình hiện tại của trẻ em.
    - Xác định xem đã làm được những gì và những
    điều cần phải làm.
    - Báo cáo lần thứ nhất sau hai năm, sau đó, cứ
    năm năm một lần.
    III. CÁC NGUYÊN TẮC
    CỦA LIÊN HỢP QUỐC VỀ QUYỀN TRẺ EM
    Các nguyên tắc của Công ước quốc tế về quyền
    trẻ em năm 1989 là những quy định bắt buộc phải
    tuân thủ khi thực hiện bất kỳ quyền nào của trẻ
    em, được quy định trong Công ước.
    Các nguyên tắc của Công ước là công cụ định
    hướng giúp diễn giải rõ ràng tinh thần và thông
    điệp của Công ước. Các nguyên tắc này phải được
    bảo đảm thực hiện bất kỳ điều khoản nào của
    30

    Công ước. Công ước quốc tế về quyền trẻ em năm
    1989 bao gồm bốn nguyên tắc:
    * Nguyên tắc thứ nhất: Không phân biệt đối
    xử trong việc bảo đảm thực hiện quyền trẻ em.
    Nguyên tắc này được thể hiện qua các điều 5,
    17, 27, 38, 41 của Công ước.
    Theo các điều này, trước hết, trách nhiệm,
    quyền và nghĩa vụ của cha mẹ, của các thành viên
    trong gia đình mở rộng, của cộng đồng theo phong
    tục địa phương, của những người giám hộ pháp lý,
    những người chịu trách nhiệm về mặt pháp lý với
    đứa trẻ trong việc chỉ bảo và hướng dẫn trẻ thực
    hiện những quyền trong Công ước, phù hợp với
    mức độ phát triển về năng lực của trẻ. Trách
    nhiệm, quyền và nghĩa vụ này phải được các quốc
    g...
     
    Gửi ý kiến

    KÍNH CHÀO QUÝ THẦY CÔ VÀ QUÝ BẠN ĐỌC ĐÃ ĐẾN TƯỜNG WEBSITE CỦA THƯ VIỆN TRƯỜNG TIỂU HỌC LƯƠNG VĂN NẮM, TÂN YÊN , BẮC GIANG !