Ý NGHĨA CỦA VIỆC ĐỌC SÁCH
CÁC QUYỀN CƠ BẢN TRẺ EM

- 0 / 0
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: Hoàng Thị Tuyết Trinh (trang riêng)
Ngày gửi: 18h:45' 16-04-2024
Dung lượng: 786.3 KB
Số lượt tải: 19
Nguồn:
Người gửi: Hoàng Thị Tuyết Trinh (trang riêng)
Ngày gửi: 18h:45' 16-04-2024
Dung lượng: 786.3 KB
Số lượt tải: 19
Số lượt thích:
0 người
HỘI ĐỒNG CHỈ ĐẠO XUẤT BẢN
Chủ tịch Hội đồng
Phó Trưởng Ban Tuyên giáo Trung ương
LÊ MẠNH HÙNG
Phó Chủ tịch Hội đồng
Q. Giám đốc - Tổng Biên tập
Nhà xuất bản Chính trị quốc gia Sự thật
PHẠM CHÍ THÀNH
Thành viên
TRẦN QUỐC DÂN
NGUYỄN ĐỨC TÀI
NGUYỄN NGUYÊN
NGUYỄN HOÀI ANH
LỜI NHÀ XUẤT BẢN
Trải qua nhiều năm lịch sử của cuộc Chiến tranh thế
giới thứ nhất, hàng triệu trẻ em trên thế giới bị đẩy vào
hoàn cảnh khốn cùng chưa từng có. Quá trình công nghiệp
hóa ở châu Âu cũng là một nhân tố chính dẫn đến tình
trạng bóc lột sức lao động trẻ em diễn ra phổ biến thời bấy
giờ. Đứng trước nguy cơ trẻ em bị xâm hại nhiều mặt, ảnh
hưởng nghiêm trọng đến tương lai của loài người, một tổ
chức cứu trợ đã được thành lập ở Anh và Thụy Điển vào
năm 1919. Năm 1924, Tuyên bố Giơnevơ được Hội quốc
liên thông qua đánh dấu những bước đi đầu tiên trong bảo
vệ quyền trẻ em trên thế giới. Mặc dù vậy, phải đến
năm 1989, bằng sự vận động tích cực của một số quốc gia,
Liên hợp quốc mới thông qua Công ước quốc tế về quyền
trẻ em và Việt Nam là nước đầu tiên ở châu Á, là nước thứ
hai trên thế giới đã phê chuẩn Công ước này vào ngày
20-2-1990. Lần đầu tiên trong lịch sử, một văn bản quốc tế
đề cập toàn diện các vấn đề về quyền trẻ em theo hướng
tiến bộ, bình đẳng và mang tính pháp lý cao. Đây là cơ sở
cho việc thúc đẩy chăm sóc và bảo vệ các quyền trẻ em
trên thế giới trong đó có Việt Nam. Đồng thời, Việt Nam
cũng ban hành các văn bản pháp luật quy định cụ thể về
quyền trẻ em và bảo vệ quyền trẻ em.
5
Nhằm phục vụ nhu cầu nghiên cứu, tìm hiểu các quy
định của pháp luật quốc tế và pháp luật Việt Nam về
quyền trẻ em, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia Sự thật
xuất bản cuốn sách Các quyền cơ bản của trẻ em do
tác giả Đăng Trường biên soạn. Cuốn sách đề cập lịch sử
phát triển của bảo vệ quyền trẻ em trên thế giới và
Việt Nam, từ đó, phân tích các quy định của pháp luật
Việt Nam về quyền trẻ em hiện nay. Thêm vào đó, tác giả
cũng đưa ra những nhận định cụ thể trong việc nhìn
nhận vai trò của mỗi cá nhân, tổ chức trong công cuộc bảo
vệ quyền trẻ em ở Việt Nam.
Xin trân trọng giới thiệu cuốn sách với bạn đọc
Tháng 10 năm 2018
NHÀ XUẤT BẢN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA SỰ THẬT
6
LỜI NÓI ĐẦU
“Một đứa bé không phải là một chiếc lọ hoa để
đổ đầy mà là một ngọn lửa cần được thắp sáng” Rabelais từng nói. Thế giới có ngập tràn niềm vui
hay là chìm trong nỗi đau phụ thuộc vào cách đối
xử của xã hội đối với trẻ em. Một khi có điều kiện
tốt để phát triển cả về thể chất lẫn tinh thần,
được giáo dục về tình yêu thương nhân loại, hằng
ngày được chứng kiến những hành động nhân văn
thì không có lý nào trẻ em lại đem đến một màu
buồn cho xã hội. Ngược lại, “những chủ nhân
tương lai” lớn lên trong đói, lạnh... hay lớn lên
trong sự quen thuộc của tiếng súng đạn chiến
tranh thì đương nhiên không thể phát triển tốt về
tinh thần và thể chất. Tác động của cuộc sống tới
trẻ em là tác động sâu sắc và có ảnh hưởng rất lớn
đối với nhân cách của trẻ sau này. Vì vậy, chúng
ta không chỉ phải tạo điều kiện cho trẻ em phát
triển đầy đủ về thể chất mà còn cần xây dựng một
môi trường lành mạnh cho sự phát triển nhân
cách của trẻ. Trước đây, ý thức về quyền của trẻ
em chưa được chú trọng. Chẳng hạn, từ thế kỷ XIV,
7
khi châu Âu bước vào thời kỳ công nghiệp hóa,
hàng loạt trẻ em buộc phải lao động dưới hầm mỏ.
Số phận của trẻ em ngày càng bi đát khi Chiến
tranh thế giới thứ nhất nổ ra, đẩy trẻ em vào tình
cảnh khốn khổ cả về thể chất lẫn tinh thần. Tuy
nhiên, thời kỳ đó không có những điều ước hay
luật quốc tế điều chỉnh vấn đề quyền trẻ em. Cho
tới tận năm 1923 mới có Hiến chương về quyền
trẻ em. Và sau này, “vào ngày 26-9-1924 Hội quốc
liên mới thông qua Tuyên ngôn Giơnevơ về quyền
trẻ em; Tuyên ngôn gồm 5 điểm (do Hiệp hội quốc
tế các quỹ cứu trợ trẻ em khởi thảo dựa trên Hiến
chương về quyền trẻ em). Kể từ đây quyền trẻ em
đã trở thành một khái niệm được khẳng định và
thừa nhận”1.
Phải trải qua một thời gian khá dài, vấn đề trẻ
em mới được nhận thức rõ: đó là trẻ em là nhân tố
ảnh hưởng trực tiếp đến tương lai nhân loại, trẻ
em không chỉ là nhóm người dễ bị tổn thương, cần
được quan tâm mà ý kiến và sự tham gia đóng
góp của trẻ em còn đóng vai trò đáng kể trong tiến
trình phát triển bền vững của thế giới.
Công ước quốc tế về quyền trẻ em năm 1989 ra
___________
1. Quỹ bảo trợ trẻ em Việt Nam: Hỏi - đáp về Công
ước quyền trẻ em, http://www.nfvc.org.vn/kien-thuctre-em/hoi-dap-ve-cong-uoc-quyen-tre-em_t114c77n477#.
W5pyWh_gLIU.
8
đời, được sự đồng tình và phê chuẩn của hàng loạt
các quốc gia trên thế giới cho thấy, đây là vấn đề
cấp thiết đối với sự phát triển của mỗi quốc gia
nói riêng và toàn thế giới nói chung.
Việt Nam là nước đầu tiên ở châu Á và nước
thứ hai trên thế giới phê chuẩn Công ước quốc tế
về quyền trẻ em năm 1989 vào ngày 20-2-1990.
Từ đó đến nay, mặc dù còn nhiều khó khăn,
Việt Nam đã đạt được nhiều tiến bộ trong việc
đưa tinh thần và nội dung của Công ước vào chiến
lược phát triển kinh tế - xã hội và luật pháp quốc
gia, thể hiện qua nhiều bộ luật, luật được ban
hành, sửa đổi, bổ sung nhằm bảo vệ quyền trẻ em
như Luật Trẻ em năm 2016, sửa đổi, bổ sung năm
2018 (tiền thân là Luật Bảo vệ, chăm sóc và giáo
dục trẻ em năm 2004), Luật Giáo dục năm 2005,
sửa đổi, bổ sung năm 2009, 2014, 2015, Bộ luật
Lao động năm 2012, sửa đổi, bổ sung năm 2015,
Bộ luật Dân sự năm 2015, Bộ luật Tố tụng hình
sự năm 2015...
Cuốn sách này nhằm giúp độc giả hiểu rõ
quyền trẻ em là những đặc quyền tự nhiên mà các
em được hưởng, được làm, được tôn trọng và thực
hiện, là biện pháp bảo đảm cho các em không phải
là những người tiếp thu thụ động tình thương hay
lòng tốt của bất cứ ai, mà trở thành chủ thể của
quyền, từ đó nâng cao nhận thức về quyền trẻ em,
phòng, chống thương tích, tăng cường tiếng nói và
9
khả năng tự đại diện của các em, giúp cộng đồng
và chính quyền địa phương nâng cao nhận thức về
quyền trẻ em và củng cố các cơ chế hiện có để bảo
vệ trẻ em khỏi bị ngược đãi, lãng quên, bóc lột,
tránh nguy cơ thương tích và các mối nguy hiểm
trong xã hội, đưa ra chính sách hỗ trợ phát triển
đầy đủ và lành mạnh cho trẻ em.
Xin trân trọng giới thiệu cuốn sách cùng bạn đọc.
TÁC GIẢ
10
I. LỊCH SỬ VẤN ĐỀ QUYỀN TRẺ EM
1. Khái niệm quyền
Tri thức về quyền con người có ý nghĩa quan
trọng trong sự phát triển và tiến bộ của nhân loại
đồng thời là tiền đề cho sự phát triển đầy đủ về
nhân cách và năng lực của mỗi cá nhân, là cơ sở
cho hòa bình và thịnh vượng trên toàn thế giới.
Tầm quan trọng của tri thức về quyền con
người và vai trò của giáo dục trong việc phổ biến
tri thức này đã được Liên hợp quốc khẳng định
trong Tuyên ngôn quốc tế nhân quyền năm 1948.
Một trong những mục tiêu của giáo dục là hướng
tới và đạt được “sự tôn trọng nhân quyền và
những quyền tự do căn bản”1.
Giáo dục nhằm thúc đẩy sự tôn trọng quyền
con người còn được đề cao trong nhiều văn kiện
quốc tế khác của Liên hợp quốc như Công ước
quốc tế về các quyền kinh tế, xã hội và văn hóa
năm 1966, Công ước quốc tế về quyền trẻ em
___________
1. Khoản 2 Điều 26 Tuyên ngôn quốc tế nhân quyền
năm 1948.
11
năm 1989, Tuyên bố Viên và Chương trình hành
động tại Hội nghị thế giới về nhân quyền tổ chức
tại Viên (Áo) năm 1993...
Gần 50 định nghĩa về quyền con người đã được
công bố, trong đó mỗi định nghĩa tiếp cận vấn đề
từ một góc độ nhất định, chỉ ra những thuộc tính
nhất định, nhưng không định nghĩa nào bao hàm
được tất cả các thuộc tính của quyền con người do
sự nhìn nhận chủ quan của mỗi cá nhân.
Riêng định nghĩa của Văn phòng Cao ủy Liên
hợp quốc về quyền con người thường được các nhà
nghiên cứu trích dẫn. Theo định nghĩa này, quyền
con người là những bảo đảm pháp lý toàn cầu có
tác dụng bảo vệ các cá nhân và các nhóm chống
lại những hành động hoặc sự bỏ mặc, làm tổn hại
đến nhân phẩm, những sự được phép và tự do cơ
bản của con người.
Ngoài định nghĩa trên, còn một định nghĩa
cũng thường được trích dẫn: quyền con người là
những sự được phép mà tất cả thành viên của
cộng đồng nhân loại, không phân biệt giới tính,
chủng tộc, tôn giáo, địa vị xã hội... đều có ngay từ
khi sinh ra, đơn giản chỉ vì họ là con người.
Ở Việt Nam, định nghĩa về quyền con người do
một số chuyên gia, cơ quan nghiên cứu nêu ra
không hoàn toàn giống nhau, nhưng nhìn chung,
quyền con người thường được hiểu là những nhu
cầu, lợi ích tự nhiên, vốn có và khách quan của
12
con người được ghi nhận và bảo vệ trong pháp
luật quốc gia và các thỏa thuận pháp lý quốc tế1.
Như vậy, quyền con người là những chuẩn mực
được cộng đồng quốc tế thừa nhận và tuân thủ, là
kết tinh những giá trị nhân văn của nhân loại. Dù
cách nhìn nhận có những khác biệt nhất định,
quyền con người là những giá trị cao cả cần được
tôn trọng và bảo vệ trong mọi xã hội và mọi giai
đoạn lịch sử.
Trong mỗi xã hội, quyền là những đòi hỏi cơ
bản và chính đáng của một con người phải được
hưởng hoặc có thể được làm. Đó là quyền được
công nhận về mặt pháp lý, quy định trách nhiệm,
nghĩa vụ buộc người khác phải tôn trọng, bảo vệ
và đáp ứng. Mỗi người đòi hỏi quyền cho bản thân
và những người khác cũng vậy.
Vì thế, mọi thành viên trong cộng đồng và xã hội
đều có nghĩa vụ phải đáp ứng quyền tương ứng.
Đòi hỏi đáp ứng hay tôn trọng một quyền nào
đó của bản thân; cũng có nghĩa là phải có nghĩa
vụ không làm bất cứ việc gì dẫn đến xâm phạm,
lấy bớt hoặc tước đi quyền của người khác.
Quyền trẻ em chính là quyền con người, là các
___________
1. Hoàng Lan Anh: Bảo đảm quyền con người trong
Hiến pháp Việt Nam - Luận văn thạc sĩ, 2014,
http://www.fdvn.vn/wp-content/uploads/2017/08/Luan-vanBao-ve-quyen-con-nguoi-theo-Hien-phap-Viet-Nam.pdf.
13
quyền của trẻ em, được xây dựng dựa trên nhu
cầu và đặc điểm của trẻ, nhằm bảo đảm cho sự
tồn tại và phát triển của trẻ với các thuộc tính:
- Bất khả xâm phạm;
- Áp dụng bình đẳng với tất cả mọi trẻ em;
- Liên quan với nhau và không thể tách rời,
quyền phải đi đôi với trách nhiệm.
2. Vấn đề trẻ em trong lịch sử phát triển
của nhân loại
Ngay từ thế kỷ XIV, XV ở châu Âu đã có
những tổ chức cộng đồng hoạt động trên lĩnh
vực bảo vệ trẻ em, tiêu biểu là Bệnh viện
Spedan Digerli Innosanti ở Floren (Italia). Thời
kỳ này, quá trình công nghiệp hóa ở châu Âu
kéo theo tình trạng bóc lột sức lao động trẻ em
một cách phổ biến. Thêm vào đó, Chiến tranh
thế giới thứ nhất (1914 - 1918) đã đẩy hàng
triệu trẻ em trên thế giới vào hoàn cảnh cùng
khổ. Vì vậy, năm 1919, một số tổ chức cứu trợ
trẻ em được thành lập ở Anh và Thụy Điển.
Những năm tiếp theo, Tổ chức Lao động quốc
tế (ILO) đã ban hành một số công ước nhằm bảo
vệ trẻ em trong các lĩnh vực lao động, việc làm và
bảo trợ xã hội. Tuy nhiên, những văn kiện thời kỳ
đó chưa đặt vấn đề dưới góc độ “quyền” trẻ em.
Năm 1923, Eglantyne Jebb soạn thảo Hiến
chương về quyền trẻ em và chỉ đến năm 1924,
14
khái niệm quyền trẻ em được khẳng định và thừa
nhận trong bản Tuyên ngôn Giơnevơ về quyền
trẻ em do Hội quốc liên thông qua (Tuyên ngôn
này do Hiệp hội quốc tế các quỹ cứu trợ trẻ em khởi
thảo dựa trên Hiến chương về quyền trẻ em)1.
Ngày 11-12-1946, Quỹ Nhi đồng Liên hợp quốc
(UNICEF) một quỹ cứu tế được thành lập với tôn
chỉ, mục đích ban đầu của tổ chức này là giúp trẻ
em châu Âu gặp hoàn cảnh khó khăn sau Chiến
tranh thế giới thứ hai.
Năm 1948, Liên hợp quốc thông qua Tuyên ngôn
quốc tế nhân quyền, trong đó khẳng định trẻ em
cũng là chủ thể bình đẳng của các quyền con người.
Năm 1953, UNICEF mở rộng tôn chỉ, mục đích
của mình hướng tới các mục tiêu: chăm sóc, phục
vụ và bảo vệ mọi quyền lợi cho sự phát triển của
trẻ em trên toàn thế giới, đặc biệt là trẻ em ở các
nước đang phát triển và kém phát triển. Các hình
thức giúp đỡ phổ biến là: cung cấp các dịch vụ cơ
bản về y tế kể cả thuốc thiết yếu, chăm sóc sức
khỏe ban đầu, dinh dưỡng; nước và vệ sinh môi
trường, giới và phát triển; các lĩnh vực liên quan
đến trẻ em và phụ nữ.
___________
1. Quỹ bảo trợ trẻ em: Hỏi đáp về Công ước quyền
trẻ em, http://www.nfvc.org.vn/kien-thuc-tre-em/hoi-dapve-cong-uoc-quyen-tre-em_t114c77#.W5pyWh_gLIU.
15
Đặc biệt, UNICEF còn tham gia các hoạt động
cứu trợ khẩn cấp. Mọi hỗ trợ của UNICEF tập
trung vào các chương trình của cộng đồng với sự
tham gia của mọi tầng lớp nhân dân nhằm đem
lại lợi ích thiết thực cho trẻ em ở khắp mọi nơi
trên thế giới. UNICEF trở thành một bộ phận
thường trực của Liên hợp quốc - bắt đầu chiến
dịch bài trừ bệnh yaws, một chứng bệnh tàn phá
cơ thể hàng trăm triệu trẻ em nhưng có thể chữa
bằng thuốc penicillin.
Năm 1959, Liên hợp quốc thông qua bản Tuyên
ngôn thứ hai, phát triển nội dung của Tuyên ngôn
Giơnevơ năm 1924. Tuyên ngôn này đề cập quyền
trẻ em: mọi trẻ em có quyền được bảo vệ, giáo dục,
chăm lo sức khỏe, chỗ ở và dinh dưỡng.
Năm 1961, UNICEF đưa ra chương trình giáo
dục, thúc đẩy và giúp đỡ các quốc gia về vấn đề
giáo dục trẻ em.
Năm 1965, UNICEF được trao giải Nobel Hòa
bình vì đã khích lệ tình thương và sự tương trợ giữa
các quốc gia.
Năm 1979, năm quốc tế thiếu nhi. Công việc soạn
thảo Công ước về quyền trẻ em bắt đầu tiến hành.
Năm 1981, UNICEF đưa ra chương trình vận
động nuôi con bằng sữa mẹ nhằm làm giảm một
số chứng bệnh ở trẻ em.
Năm 1982, UNICEF phát động phong trào
“Cách mạng về sự sống còn và phát triển của trẻ em”
16
dựa trên bốn nguyên tắc: theo dõi sức lớn của trẻ,
nước uống, sữa mẹ và tiêm ngừa miễn nhiễm.
Năm 1987, UNICEF tiến hành nghiên cứu
“Thay đổi kinh tế và bộ mặt nhân loại” khiến thế
giới phải lưu tâm đến vấn đề bảo vệ phụ nữ và trẻ
em, đối phó với các tác hại của thay đổi kinh tế tại
các quốc gia nghèo.
Các nỗ lực của UNICEF đã dẫn tới Hội nghị
thượng đỉnh thế giới về trẻ em được Liên hợp quốc
tổ chức vào tháng 9-1990 và tháng 5-2002 tại
New York với sự tham gia của nhiều nước và sự
hiện diện của các nguyên thủ quốc gia. Hội nghị
thượng đỉnh thế giới về trẻ em tháng 9-1990 đã
nhất trí thông qua 27 mục tiêu về y tế, giáo dục
và phúc lợi cho trẻ em và phụ nữ. Nội dung chính
của các mục tiêu này là1:
- Giảm 1/3 tỷ lệ tử vong của trẻ sơ sinh và trẻ
dưới 5 tuổi.
- Giảm 1/2 tỷ lệ tử vong của các bà mẹ.
- Giảm 1/2 tỷ lệ suy dinh dưỡng của trẻ em
dưới 5 tuổi.
- Bảo đảm đa số người dân nông thôn được tiếp
cận nước sạch.
- Phổ cập giáo dục cơ bản; hoàn thành 80%
___________
1. Bộ Ngoại giao Việt Nam - Quỹ Nhi đồng Liên hợp
quốc, http://www.mofahcm.gov.vn/vi/mofa/ctc_quocte/
un/nr040819155753/nr060928111253/ns070731090359.
17
giáo dục cấp tiểu học cho trẻ em ở độ tuổi đến
trường.
Cùng với sự phát triển lịch sử, vấn đề lao động
trẻ em trở thành vấn đề nghiêm trọng, nhức nhối
ở nhiều nơi trên thế giới. Do đó, vấn đề quyền trẻ
em đã được đặt ra. Với sự nỗ lực của các quốc gia,
Công ước quốc tế về quyền trẻ em được thông qua
và ký kết ngày 20-11-1989, còn gọi là Công ước
quốc tế về quyền trẻ em năm 1989, có hiệu lực từ
ngày 2-9-1990.
Công ước để ngỏ cho các quốc gia tham gia ký
kết, phê chuẩn và gia nhập. Ngoài Lời nói đầu,
nội dung của Công ước gồm 3 phần với 54 điều
khoản, bao quát được tất cả những khía cạnh
liên quan đến quyền trẻ em và xác định rõ
nghĩa vụ của các quốc gia trong việc bảo đảm
quyền trẻ em, mối quan hệ giữa trẻ em và
quyền con người nói chung.
Lần đầu tiên, vấn đề “trẻ em” được xác định,
làm cơ sở cho việc thúc đẩy và bảo vệ các quyền
trẻ em trên thực tế. Một tập hợp các quyền trẻ em
trên tất cả các lĩnh vực (mà rất nhiều quyền chưa
được đề cập ở các văn kiện trước đó) đã được Công
ước ghi nhận, bảo đảm cho trẻ em được bảo vệ,
chăm sóc một cách có hiệu quả; được phát triển
toàn diện cả về thể chất, trí tuệ, tình cảm, đạo
đức và xã hội.
Không chỉ đề cập trẻ em nói chung, Công ước
18
còn đề cập việc bảo vệ quyền của những nhóm trẻ
em đặc biệt (tàn tật, lang thang cơ nhỡ, bị ảnh
hưởng của xung đột vũ trang...), đồng thời, xác
định những biện pháp nhằm xóa bỏ những nguy
cơ đang đe dọa nghiêm trọng cuộc sống của nhiều
trẻ em như bị lạm dụng tình dục, bóc lột sức lao
động, ảnh hưởng của chất ma túy, bị buộc phải
tham gia vào các cuộc xung đột vũ trang... Cùng
với các điều đó, Công ước còn xác lập một cơ chế
quốc tế để giám sát việc thực hiện các quyền trẻ
em trên thế giới, tạo điều kiện cần thiết để trẻ em
được phát triển đầy đủ. Công ước được coi là văn
kiện pháp lý quốc tế cơ bản và toàn diện nhất về
quyền trẻ em.
Năm 1996, UNICEF đã thông qua Tuyên ngôn
UNICEF với nội dung1:
- Thực hiện mọi chủ trương của Liên hợp quốc
về bảo vệ các quyền của trẻ em đồng thời hỗ trợ,
đáp ứng những yêu cầu cơ bản của trẻ em.
- Hỗ trợ các quốc gia thực hiện những cam kết
về trẻ em do Hội nghị thượng đỉnh về trẻ em của
Liên hợp quốc (1990) đề ra.
- Huy động mọi ý chí chính trị và các nguồn lực
vật chất nhằm giúp các nước xây dựng năng lực,
___________
1 Bộ Ngoại giao Việt Nam - Quỹ Nhi đồng Liên hợp
quốc, http://www.mofahcm.gov.vn/vi/mofa/ctc_quocte/
un/nr040819155753/nr060928111253/ns070731090359.
19
đề ra các chính sách phù hợp để chuyển giao dịch
vụ trẻ em tới các hộ gia đình.
- Cam kết bảo vệ những trẻ em gặp hoàn cảnh
đặc biệt khó khăn như trẻ em là nạn nhân của
xung đột vũ trang; trẻ em nghèo khó; trẻ em lang
thang cơ nhỡ...
- Thông qua các chương trình quốc gia nhằm
khuyến khích quyền bình đẳng cho phụ nữ và trẻ
em gái, đồng thời hỗ trợ họ tham gia các hoạt
động phát triển kinh tế cũng như chính trị của
các quốc gia và cộng đồng. UNICEF hợp tác với
tất cả các chính phủ, các tổ chức quốc tế và các tổ
chức phi chính phủ (NGO's) trong khuôn khổ
Công ước quốc tế về quyền trẻ em năm 1989
nhằm đạt được các mục tiêu về trẻ em do Hội nghị
thượng đỉnh về trẻ em (1990) đề ra.
Để thích ứng với điều kiện và hoàn cảnh thế
giới mới nhằm phục vụ trẻ em một cách hiệu quả
nhất, trong những năm gần đây, UNICEF đã xác
định sứ mệnh và trách nhiệm của mình như sau:
- Thực hiện trách nhiệm do Đại hội đồng
Liên hợp quốc giao phó là chăm lo bảo vệ các
quyền của trẻ em, giúp đỡ đáp ứng các nhu cầu
cơ bản của trẻ em và tạo thêm cơ hội giúp trẻ
em phát huy đầy đủ tiềm năng của mình.
- Theo Công ước quốc tế về quyền trẻ em
năm 1989, phải phấn đấu thiết lập các quyền của
trẻ em như những nguyên tắc đạo lý bền vững
20
và các chuẩn mực quốc tế trong việc đối xử với
trẻ em.
- Nhấn mạnh sự sống còn, bảo vệ và phát triển
của trẻ em là những đòi hỏi phát triển toàn cầu
gắn liền với sự tiến bộ của con người.
- Động viên ý chí chính trị và nguồn lực vật
chất để giúp đỡ các nước, đặc biệt là các nước
đang phát triển, bảo đảm phương châm trước
tiên cho trẻ em và xây dựng năng lực, đề ra các
chính sách phù hợp và cung ứng các dịch vụ cho
trẻ em và gia đình của các em.
- Cam kết bảo đảm sự bảo vệ đặc biệt đối với
trẻ em chịu thiệt thòi nhất như nạn nhân của
chiến tranh, thiên tai, đói nghèo cùng cực, của
mọi hình thức bạo lực và bóc lột cũng như trẻ em
bị tàn tật.
- Ứng phó trong các trường hợp khẩn cấp để
bảo vệ các quyền của trẻ em. Trong việc phối hợp
với các đối tác của Liên hợp quốc và các cơ quan
nhân đạo, UNICEF dành cho họ những phương
tiện đáp ứng nhanh của mình nhằm giảm bớt
những đau khổ của trẻ em và thực hiện việc chăm
sóc đối với trẻ em.
- UNICEF là một tổ chức không thiên vị và sự
hợp tác của UNICEF là không phân biệt đối xử
trong mọi hoạt động của mình, dành ưu tiên cho
các trẻ em bị thiệt thòi nhất và những nước cần
giúp đỡ nhất.
21
- Thông qua các chương trình quốc gia, thúc
đẩy các quyền bình đẳng của phụ nữ và trẻ em
gái, hỗ trợ họ tham gia đầy đủ vào sự phát triển
chính trị, kinh tế và xã hội của cộng đồng.
- Hợp tác với mọi đối tác để đạt được những
mục tiêu phát triển con người bền vững đã được
cộng đồng thế giới thông qua cũng như thực hiện
triển vọng hoà bình và tiến bộ xã hội được ghi
trong Hiến chương của Liên hợp quốc.
Tại Hội nghị thượng đỉnh thế giới về trẻ em
tháng 5-2002, các nguyên thủ các nước đã nhất trí
thông qua bản Tuyên bố và kế hoạch hành động
cho thập kỷ tới bằng văn kiện chính của khóa họp
mang tên Một thế giới phù hợp với trẻ em. Tuyên
bố gồm các điểm khẳng định nghĩa vụ phát huy,
bảo vệ quyền và phúc lợi của trẻ em và kế hoạch
hành động với các mục tiêu chính như sau1:
- Giảm ít nhất 1/3 tỷ lệ tử vong trẻ sơ sinh và trẻ
em dưới 5 tuổi để đến năm 2015 giảm được 2/3.
- Giảm ít nhất 1/3 tỷ lệ tử vong bà mẹ liên
quan thai sản để đến năm 2015 giảm được 2/3.
- Giảm ít nhất 1/3 tỷ lệ suy dinh dưỡng của trẻ
dưới 5 tuổi.
- Giảm ít nhất 1/3 tỷ lệ các hộ gia đình không
được tiếp cận với nước sạch và hố xí hợp vệ sinh.
___________
1 Bộ Ngoại giao Việt Nam - Quỹ Nhi đồng Liên hợp
quốc, http://www.mofahcm.gov.vn/vi/mofa/ctc_quocte/
un/nr040819155753/nr060928111253/ns070731090359.
22
- Bảo đảm các chính sách phát triển tuổi thơ
thông qua các chính sách và chương trình để trẻ
em được phát triển cả về thể lực, xã hội, tình cảm
và tinh thần.
- Phát triển và thực hiện các chính sách với trẻ
vị thành niên.
- Bảo đảm cho mọi trẻ em ở các lứa tuổi phù
hợp được tiếp cận hệ thống chăm sóc sức khỏe ban
đầu và sức khỏe sinh sản.
Khóa họp này không chỉ chú trọng vào cam kết
chính trị mà đặt ra yêu cầu cao là phải hành động
và thực hiện cam kết.
Tóm lại, từ đầu thế kỷ XX đến nay, một loạt
văn kiện quốc tế đã được thông qua, trực tiếp hoặc
gián tiếp đề cập các quyền của trẻ em. Các văn
kiện ban đầu hoặc không có tính ràng buộc về
nghĩa vụ pháp lý hoặc chưa tiếp cận từ vị thế đặc
biệt và chú trọng đến những nhu cầu đặc thù của
trẻ em nên tác động trên thực tế rất hạn chế. Mục
đích đặt ra là trẻ em phải được sống trong hòa
bình, trong xã hội thân ái; cần phải được sự chăm
sóc của Nhà nước, xã hội, gia đình và cần có sự
bảo vệ về mặt pháp lý. Điều này đặc biệt có ý
nghĩa ở những quốc gia đang phát triển.
Năm 1996, báo cáo của Machel: “Tác hại của
chiến tranh vũ khí đối với trẻ em” do UNICEF
bảo trợ, cảnh báo việc xâm phạm quyền trẻ em.
Năm 2000, để hỗ trợ cho Công ước quốc tế về
23
quyền trẻ em năm 1989, Liên hợp quốc đã thông
qua hai Nghị định thư bổ sung, đề cập việc cấm
sử dụng trẻ em trong các cuộc xung đột vũ trang,
cấm buôn bán, bóc lột mại dâm trẻ em, cấm văn
hóa phẩm khiêu dâm trẻ em.
Nhìn chung, từ đầu thế kỷ XX đến nay, các văn
kiện quốc tế liên quan đến quyền trẻ em liên tiếp
được ban hành. Đây là thành quả đấu tranh liên
tục của nhân loại nhằm cải thiện vị thế và cuộc
sống trẻ em.
Ngay sau khi Công ước quốc tế về quyền trẻ em
năm 1989 có hiệu lực, Hội nghị thượng đỉnh thế
giới về trẻ em đã được tổ chức tại New York từ
ngày 29 đến 30-9-1990. Hội nghị thông qua
Tuyên bố thế giới và kế hoạch hành động về sự
sống còn, phát triển và bảo vệ trẻ em, đề cập
những thách thức và mục tiêu cụ thể nhằm bảo
đảm cuộc sống và các quyền của trẻ em trong giai
đoạn 1990 - 2000.
Kết thúc giai đoạn này, nhân loại đã đạt được
những kết quả bước đầu nhưng rất to lớn trong
việc bảo đảm quyền trẻ em. Bằng các chiến dịch
tiêm chủng và phổ biến dùng muối iốt mà hàng
năm, gần 3 triệu trẻ em trên thế giới được cứu
sống, 75 vạn trẻ em khỏi bị tàn tật về thể chất,
12 triệu trẻ em thoát khỏi nguy cơ mắc bệnh
tâm thần. Bằng việc phổ biến dùng nước sạch,
vệ sinh môi trường, nuôi con bằng sữa mẹ... mà
24
hàng năm có hàng chục triệu trẻ em không bị
suy dinh dưỡng.
Bằng việc giáo dục, tuyên truyền về quyền trẻ
em, nhận thức về vị thế của trẻ em trong các xã
hội đã thay đổi. Trẻ em từ chỗ bị xem là đối tượng
phụ thuộc, phải chịu sự chi phối hoàn toàn của
người lớn đến chỗ được thừa nhận, đối xử với tư
cách là những chủ thể của quyền chứ không đơn
thuần chỉ là đối tượng của tình thương hay lòng
nhân đạo.
So với các điều ước quốc tế nói chung, Điều ước
quốc tế về quyền con người nói riêng, Công ước
quốc tế về quyền trẻ em năm 1989 có những điểm
nổi bật sau:
- Thời gian từ khi ký đến khi Công ước có hiệu
lực rất ngắn (9 tháng 18 ngày) và là điều ước quốc
tế đa phương có số lượng các quốc gia thành viên
lớn nhất (197 quốc gia) so với tất cả các điều ước
quốc tế được ký trên thế giới. Đặc điểm này phản
ánh tầm quan trọng của vấn đề bảo vệ quyền trẻ
em cũng như sự quan tâm của các quốc gia đối với
thế hệ trẻ.
- Công ước quốc tế về quyền trẻ em năm 1989
lần đầu tiên khái quát được các khía cạnh của
quyền trẻ em và xác định rõ nghĩa vụ của các
quốc gia trong việc bảo đảm quyền của trẻ em;
mối quan hệ giữa quyền trẻ em với quyền con
người nói chung.
25
- Theo Công ước quốc tế về quyền trẻ em năm
1989, Ủy ban về quyền trẻ em được thành lập
nhằm xem xét sự tiến bộ mà các quốc gia thành
viên đạt được trong việc thực hiện các nghĩa vụ
mà họ đã cam kết thông qua các báo cáo định kỳ.
Đồng thời bên cạnh Ủy ban về quyền trẻ em, các
cơ quan chuyên môn, Quỹ Nhi đồng Liên hợp quốc
và các tổ chức khác thuộc Liên hợp quốc cũng có
thẩm quyền giám sát, giúp đỡ các quốc gia thành
viên trong quá trình thực hiện Công ước.
Năm 2001, Chiến dịch “Nói đồng ý với trẻ em”một phong trào toàn cầu khuyến khích mọi người
thay đổi thế giới bằng cách lưu tâm đến trẻ em.
Hàng triệu người đã ký tên xác định sẽ tìm cách
nâng cao đời sống trẻ em.
Ngoài Quỹ Nhi đồng Liên hợp quốc, còn rất
nhiều tổ chức phi chính phủ hoạt động vì quyền
lợi của trẻ em, chẳng hạn tổ chức Children Action Tổ chức hành động vì trẻ em, là một quỹ từ thiện,
cung cấp mọi loại trợ giúp cho các trẻ em bất
hạnh, trong đó có chăm sóc y khoa, phẫu thuật,
giúp đỡ tâm lý, chăm sóc phòng ngừa thanh thiếu
niên tự tử v.v.. Tổ chức này được Bernard Sabrier
thành lập năm 1994, có trụ sở ở Thụy Sĩ. Tổ chức
đã tiến hành một số công việc giúp hỗ trợ trẻ em
như Dự án phòng ngừa bỏ rơi trẻ em, trường học
cho các trẻ em thiếu thốn, các phẫu thuật ngoại
khoa cho trẻ em, thành lập Trung tâm dành cho
26
trẻ em khiếm thị, trợ giúp trẻ em bị nhiễm AIDS,
trợ giúp trẻ em bị bệnh ung thư. Một số tổ chức
phi chính phủ khác - như Tổ chức theo dõi nhân
quyền đã quan tâm tới vấn đề lao động trẻ em, trẻ
em đường phố, đòi chấm dứt sử dụng lính trẻ em
trong chiến tranh...
Bước sang thế kỷ XXI, mục tiêu thiên niên kỷ
của Liên hợp quốc cũng đưa ra vấn đề về quyền trẻ
em - một trong những nhóm dễ bị tổn thương, cần
phải quan tâm vì đây là tương lai của nhân loại.
II. KHÁI NIỆM TRẺ EM
VÀ QUYỀN TRẺ EM
1. Khái niệm trẻ em
Công ước quốc tế về quyền trẻ em năm 1989
quy định, trẻ em có nghĩa là bất kỳ người nào dưới
18 tuổi, trừ khi luật pháp của quốc gia thành viên
quy định tuổi thành niên sớm hơn.
Theo Điều 1, Luật Trẻ em năm 2016, sửa đổi,
bổ sung năm 2018 quy định: “Trẻ em là người
dưới 16 tuổi”.
Mỗi trẻ em là một con người với những đặc
điểm riêng về thể chất và tâm sinh lý. Những đặc
điểm và khả năng của trẻ rất khác nhau theo
từng độ tuổi và sự trưởng thành, vì thế rất khác
so với người trưởng thành.
27
Năng lực của trẻ được hình thành, thay đổi và
phát triển. Do vậy, trẻ em có quyền được sống,
trưởng thành, phát triển khỏe mạnh và hạnh
phúc trong tình yêu thương của cha mẹ, gia đình
và cộng đồng.
2. Xác định quyền trẻ em
Cuốn sách Quyền trẻ em (The Rights of
Infants) xuất bản năm 1796 của Thomas Spence
là một trong những cuốn sách đầu tiên viết
bằng tiếng Anh, xác nhận các quyền của trẻ em.
Trong suốt thập niên đầu tiên của thế kỷ XX,
các nhà hoạt động vì quyền trẻ em đã nhóm
họp, đòi hỏi quyền cho trẻ em vô gia cư và giáo
dục công cộng.
Tiếp đó, cuốn Quyền được tôn trọng của trẻ em
(The Child's Right to Respect) xuất bản năm 1927
của Janusz Korczak đã gây sự chú ý lớn về lĩnh
vực này. Hiện nay, hàng chục tổ chức quốc tế
đang hoạt động trên khắp thế giới để cổ động cho
quyền trẻ em1.
___________
1. Hoàng Minh Khôi: Hoàn thiện hệ thống tư pháp
cho người chưa thành niên ở một số nước và những nội
dung có thể tham khảo, website của Trung tâm tư vấn
pháp luật Thành phố Hồ Chí Minh - Trung ương Hội
Luật gia Việt Nam, http://nguoibaovequyenloi.com/user/
thongtin_chitiet-aspx?MaTT=168201672110123641&
MAMT=26.
28
Định nghĩa:
Quyền trẻ em là tất cả những gì trẻ em cần có
để được sống và lớn lên một cách lành mạnh và an
toàn. Quyền trẻ em nhằm bảo đảm cho trẻ em
không chỉ là người tiếp nhận thụ động lòng nhân
từ của người lớn mà các em còn là những thành
viên tham gia tích cực vào quá trình phát triển
của nhân loại.
Các quyền phải thực hiện ngay:
- Các quyền dân sự, chính trị.
- Các vấn đề như sự phân biệt đối xử, quyền
được lắng nghe, quyền có họ tên, quốc tịch, quyền
tự do biểu đạt và lập hội, quyền được đoàn tụ với
gia đình, quyền được bảo vệ khỏi sự hành hạ và
ngược đãi.
- Những quy định đặc biệt về sự bảo vệ, can
thiệp của nhà nước trong những tình huống và điều
kiện mà theo đó, trẻ em có thể bị tước đoạt tự do.
Các quyền thực hiện từng bước:
- Các quyền về kinh tế, xã hội và văn hóa;
- Các quyền về y tế và giáo dục;
- Các quyền không thuộc nhóm quyền thứ nhất.
Các quyền này được công nhận tại Điều 4 Công
ước quốc tế về quyền trẻ em năm 1989 với nội
dung: “... Về các quyền về kinh tế, xã hội và văn
hóa các quốc gia thành viên phải thi hành những
biện pháp như vậy ở mức tối đa theo khả năng
29
sẵn có của mình, và khi cần thiết, trong khuôn
khổ hợp tác quốc tế”.
Quá trình theo dõi, giám sát và thực
hiện quyền:
- Thành lập một ủy ban quốc gia giám sát việc
thực hiện.
- Đề ra các mục tiêu cụ thể trong một thời gian
nhất định để thực hiện.
- Thông qua các luật phù hợp với Công ước
quốc tế về quyền trẻ em năm 1989.
- Thực hiện các chương trình và hoạt động.
- Xem xét tình hình hiện tại của trẻ em.
- Xác định xem đã làm được những gì và những
điều cần phải làm.
- Báo cáo lần thứ nhất sau hai năm, sau đó, cứ
năm năm một lần.
III. CÁC NGUYÊN TẮC
CỦA LIÊN HỢP QUỐC VỀ QUYỀN TRẺ EM
Các nguyên tắc của Công ước quốc tế về quyền
trẻ em năm 1989 là những quy định bắt buộc phải
tuân thủ khi thực hiện bất kỳ quyền nào của trẻ
em, được quy định trong Công ước.
Các nguyên tắc của Công ước là công cụ định
hướng giúp diễn giải rõ ràng tinh thần và thông
điệp của Công ước. Các nguyên tắc này phải được
bảo đảm thực hiện bất kỳ điều khoản nào của
30
Công ước. Công ước quốc tế về quyền trẻ em năm
1989 bao gồm bốn nguyên tắc:
* Nguyên tắc thứ nhất: Không phân biệt đối
xử trong việc bảo đảm thực hiện quyền trẻ em.
Nguyên tắc này được thể hiện qua các điều 5,
17, 27, 38, 41 của Công ước.
Theo các điều này, trước hết, trách nhiệm,
quyền và nghĩa vụ của cha mẹ, của các thành viên
trong gia đình mở rộng, của cộng đồng theo phong
tục địa phương, của những người giám hộ pháp lý,
những người chịu trách nhiệm về mặt pháp lý với
đứa trẻ trong việc chỉ bảo và hướng dẫn trẻ thực
hiện những quyền trong Công ước, phù hợp với
mức độ phát triển về năng lực của trẻ. Trách
nhiệm, quyền và nghĩa vụ này phải được các quốc
g...
Chủ tịch Hội đồng
Phó Trưởng Ban Tuyên giáo Trung ương
LÊ MẠNH HÙNG
Phó Chủ tịch Hội đồng
Q. Giám đốc - Tổng Biên tập
Nhà xuất bản Chính trị quốc gia Sự thật
PHẠM CHÍ THÀNH
Thành viên
TRẦN QUỐC DÂN
NGUYỄN ĐỨC TÀI
NGUYỄN NGUYÊN
NGUYỄN HOÀI ANH
LỜI NHÀ XUẤT BẢN
Trải qua nhiều năm lịch sử của cuộc Chiến tranh thế
giới thứ nhất, hàng triệu trẻ em trên thế giới bị đẩy vào
hoàn cảnh khốn cùng chưa từng có. Quá trình công nghiệp
hóa ở châu Âu cũng là một nhân tố chính dẫn đến tình
trạng bóc lột sức lao động trẻ em diễn ra phổ biến thời bấy
giờ. Đứng trước nguy cơ trẻ em bị xâm hại nhiều mặt, ảnh
hưởng nghiêm trọng đến tương lai của loài người, một tổ
chức cứu trợ đã được thành lập ở Anh và Thụy Điển vào
năm 1919. Năm 1924, Tuyên bố Giơnevơ được Hội quốc
liên thông qua đánh dấu những bước đi đầu tiên trong bảo
vệ quyền trẻ em trên thế giới. Mặc dù vậy, phải đến
năm 1989, bằng sự vận động tích cực của một số quốc gia,
Liên hợp quốc mới thông qua Công ước quốc tế về quyền
trẻ em và Việt Nam là nước đầu tiên ở châu Á, là nước thứ
hai trên thế giới đã phê chuẩn Công ước này vào ngày
20-2-1990. Lần đầu tiên trong lịch sử, một văn bản quốc tế
đề cập toàn diện các vấn đề về quyền trẻ em theo hướng
tiến bộ, bình đẳng và mang tính pháp lý cao. Đây là cơ sở
cho việc thúc đẩy chăm sóc và bảo vệ các quyền trẻ em
trên thế giới trong đó có Việt Nam. Đồng thời, Việt Nam
cũng ban hành các văn bản pháp luật quy định cụ thể về
quyền trẻ em và bảo vệ quyền trẻ em.
5
Nhằm phục vụ nhu cầu nghiên cứu, tìm hiểu các quy
định của pháp luật quốc tế và pháp luật Việt Nam về
quyền trẻ em, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia Sự thật
xuất bản cuốn sách Các quyền cơ bản của trẻ em do
tác giả Đăng Trường biên soạn. Cuốn sách đề cập lịch sử
phát triển của bảo vệ quyền trẻ em trên thế giới và
Việt Nam, từ đó, phân tích các quy định của pháp luật
Việt Nam về quyền trẻ em hiện nay. Thêm vào đó, tác giả
cũng đưa ra những nhận định cụ thể trong việc nhìn
nhận vai trò của mỗi cá nhân, tổ chức trong công cuộc bảo
vệ quyền trẻ em ở Việt Nam.
Xin trân trọng giới thiệu cuốn sách với bạn đọc
Tháng 10 năm 2018
NHÀ XUẤT BẢN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA SỰ THẬT
6
LỜI NÓI ĐẦU
“Một đứa bé không phải là một chiếc lọ hoa để
đổ đầy mà là một ngọn lửa cần được thắp sáng” Rabelais từng nói. Thế giới có ngập tràn niềm vui
hay là chìm trong nỗi đau phụ thuộc vào cách đối
xử của xã hội đối với trẻ em. Một khi có điều kiện
tốt để phát triển cả về thể chất lẫn tinh thần,
được giáo dục về tình yêu thương nhân loại, hằng
ngày được chứng kiến những hành động nhân văn
thì không có lý nào trẻ em lại đem đến một màu
buồn cho xã hội. Ngược lại, “những chủ nhân
tương lai” lớn lên trong đói, lạnh... hay lớn lên
trong sự quen thuộc của tiếng súng đạn chiến
tranh thì đương nhiên không thể phát triển tốt về
tinh thần và thể chất. Tác động của cuộc sống tới
trẻ em là tác động sâu sắc và có ảnh hưởng rất lớn
đối với nhân cách của trẻ sau này. Vì vậy, chúng
ta không chỉ phải tạo điều kiện cho trẻ em phát
triển đầy đủ về thể chất mà còn cần xây dựng một
môi trường lành mạnh cho sự phát triển nhân
cách của trẻ. Trước đây, ý thức về quyền của trẻ
em chưa được chú trọng. Chẳng hạn, từ thế kỷ XIV,
7
khi châu Âu bước vào thời kỳ công nghiệp hóa,
hàng loạt trẻ em buộc phải lao động dưới hầm mỏ.
Số phận của trẻ em ngày càng bi đát khi Chiến
tranh thế giới thứ nhất nổ ra, đẩy trẻ em vào tình
cảnh khốn khổ cả về thể chất lẫn tinh thần. Tuy
nhiên, thời kỳ đó không có những điều ước hay
luật quốc tế điều chỉnh vấn đề quyền trẻ em. Cho
tới tận năm 1923 mới có Hiến chương về quyền
trẻ em. Và sau này, “vào ngày 26-9-1924 Hội quốc
liên mới thông qua Tuyên ngôn Giơnevơ về quyền
trẻ em; Tuyên ngôn gồm 5 điểm (do Hiệp hội quốc
tế các quỹ cứu trợ trẻ em khởi thảo dựa trên Hiến
chương về quyền trẻ em). Kể từ đây quyền trẻ em
đã trở thành một khái niệm được khẳng định và
thừa nhận”1.
Phải trải qua một thời gian khá dài, vấn đề trẻ
em mới được nhận thức rõ: đó là trẻ em là nhân tố
ảnh hưởng trực tiếp đến tương lai nhân loại, trẻ
em không chỉ là nhóm người dễ bị tổn thương, cần
được quan tâm mà ý kiến và sự tham gia đóng
góp của trẻ em còn đóng vai trò đáng kể trong tiến
trình phát triển bền vững của thế giới.
Công ước quốc tế về quyền trẻ em năm 1989 ra
___________
1. Quỹ bảo trợ trẻ em Việt Nam: Hỏi - đáp về Công
ước quyền trẻ em, http://www.nfvc.org.vn/kien-thuctre-em/hoi-dap-ve-cong-uoc-quyen-tre-em_t114c77n477#.
W5pyWh_gLIU.
8
đời, được sự đồng tình và phê chuẩn của hàng loạt
các quốc gia trên thế giới cho thấy, đây là vấn đề
cấp thiết đối với sự phát triển của mỗi quốc gia
nói riêng và toàn thế giới nói chung.
Việt Nam là nước đầu tiên ở châu Á và nước
thứ hai trên thế giới phê chuẩn Công ước quốc tế
về quyền trẻ em năm 1989 vào ngày 20-2-1990.
Từ đó đến nay, mặc dù còn nhiều khó khăn,
Việt Nam đã đạt được nhiều tiến bộ trong việc
đưa tinh thần và nội dung của Công ước vào chiến
lược phát triển kinh tế - xã hội và luật pháp quốc
gia, thể hiện qua nhiều bộ luật, luật được ban
hành, sửa đổi, bổ sung nhằm bảo vệ quyền trẻ em
như Luật Trẻ em năm 2016, sửa đổi, bổ sung năm
2018 (tiền thân là Luật Bảo vệ, chăm sóc và giáo
dục trẻ em năm 2004), Luật Giáo dục năm 2005,
sửa đổi, bổ sung năm 2009, 2014, 2015, Bộ luật
Lao động năm 2012, sửa đổi, bổ sung năm 2015,
Bộ luật Dân sự năm 2015, Bộ luật Tố tụng hình
sự năm 2015...
Cuốn sách này nhằm giúp độc giả hiểu rõ
quyền trẻ em là những đặc quyền tự nhiên mà các
em được hưởng, được làm, được tôn trọng và thực
hiện, là biện pháp bảo đảm cho các em không phải
là những người tiếp thu thụ động tình thương hay
lòng tốt của bất cứ ai, mà trở thành chủ thể của
quyền, từ đó nâng cao nhận thức về quyền trẻ em,
phòng, chống thương tích, tăng cường tiếng nói và
9
khả năng tự đại diện của các em, giúp cộng đồng
và chính quyền địa phương nâng cao nhận thức về
quyền trẻ em và củng cố các cơ chế hiện có để bảo
vệ trẻ em khỏi bị ngược đãi, lãng quên, bóc lột,
tránh nguy cơ thương tích và các mối nguy hiểm
trong xã hội, đưa ra chính sách hỗ trợ phát triển
đầy đủ và lành mạnh cho trẻ em.
Xin trân trọng giới thiệu cuốn sách cùng bạn đọc.
TÁC GIẢ
10
I. LỊCH SỬ VẤN ĐỀ QUYỀN TRẺ EM
1. Khái niệm quyền
Tri thức về quyền con người có ý nghĩa quan
trọng trong sự phát triển và tiến bộ của nhân loại
đồng thời là tiền đề cho sự phát triển đầy đủ về
nhân cách và năng lực của mỗi cá nhân, là cơ sở
cho hòa bình và thịnh vượng trên toàn thế giới.
Tầm quan trọng của tri thức về quyền con
người và vai trò của giáo dục trong việc phổ biến
tri thức này đã được Liên hợp quốc khẳng định
trong Tuyên ngôn quốc tế nhân quyền năm 1948.
Một trong những mục tiêu của giáo dục là hướng
tới và đạt được “sự tôn trọng nhân quyền và
những quyền tự do căn bản”1.
Giáo dục nhằm thúc đẩy sự tôn trọng quyền
con người còn được đề cao trong nhiều văn kiện
quốc tế khác của Liên hợp quốc như Công ước
quốc tế về các quyền kinh tế, xã hội và văn hóa
năm 1966, Công ước quốc tế về quyền trẻ em
___________
1. Khoản 2 Điều 26 Tuyên ngôn quốc tế nhân quyền
năm 1948.
11
năm 1989, Tuyên bố Viên và Chương trình hành
động tại Hội nghị thế giới về nhân quyền tổ chức
tại Viên (Áo) năm 1993...
Gần 50 định nghĩa về quyền con người đã được
công bố, trong đó mỗi định nghĩa tiếp cận vấn đề
từ một góc độ nhất định, chỉ ra những thuộc tính
nhất định, nhưng không định nghĩa nào bao hàm
được tất cả các thuộc tính của quyền con người do
sự nhìn nhận chủ quan của mỗi cá nhân.
Riêng định nghĩa của Văn phòng Cao ủy Liên
hợp quốc về quyền con người thường được các nhà
nghiên cứu trích dẫn. Theo định nghĩa này, quyền
con người là những bảo đảm pháp lý toàn cầu có
tác dụng bảo vệ các cá nhân và các nhóm chống
lại những hành động hoặc sự bỏ mặc, làm tổn hại
đến nhân phẩm, những sự được phép và tự do cơ
bản của con người.
Ngoài định nghĩa trên, còn một định nghĩa
cũng thường được trích dẫn: quyền con người là
những sự được phép mà tất cả thành viên của
cộng đồng nhân loại, không phân biệt giới tính,
chủng tộc, tôn giáo, địa vị xã hội... đều có ngay từ
khi sinh ra, đơn giản chỉ vì họ là con người.
Ở Việt Nam, định nghĩa về quyền con người do
một số chuyên gia, cơ quan nghiên cứu nêu ra
không hoàn toàn giống nhau, nhưng nhìn chung,
quyền con người thường được hiểu là những nhu
cầu, lợi ích tự nhiên, vốn có và khách quan của
12
con người được ghi nhận và bảo vệ trong pháp
luật quốc gia và các thỏa thuận pháp lý quốc tế1.
Như vậy, quyền con người là những chuẩn mực
được cộng đồng quốc tế thừa nhận và tuân thủ, là
kết tinh những giá trị nhân văn của nhân loại. Dù
cách nhìn nhận có những khác biệt nhất định,
quyền con người là những giá trị cao cả cần được
tôn trọng và bảo vệ trong mọi xã hội và mọi giai
đoạn lịch sử.
Trong mỗi xã hội, quyền là những đòi hỏi cơ
bản và chính đáng của một con người phải được
hưởng hoặc có thể được làm. Đó là quyền được
công nhận về mặt pháp lý, quy định trách nhiệm,
nghĩa vụ buộc người khác phải tôn trọng, bảo vệ
và đáp ứng. Mỗi người đòi hỏi quyền cho bản thân
và những người khác cũng vậy.
Vì thế, mọi thành viên trong cộng đồng và xã hội
đều có nghĩa vụ phải đáp ứng quyền tương ứng.
Đòi hỏi đáp ứng hay tôn trọng một quyền nào
đó của bản thân; cũng có nghĩa là phải có nghĩa
vụ không làm bất cứ việc gì dẫn đến xâm phạm,
lấy bớt hoặc tước đi quyền của người khác.
Quyền trẻ em chính là quyền con người, là các
___________
1. Hoàng Lan Anh: Bảo đảm quyền con người trong
Hiến pháp Việt Nam - Luận văn thạc sĩ, 2014,
http://www.fdvn.vn/wp-content/uploads/2017/08/Luan-vanBao-ve-quyen-con-nguoi-theo-Hien-phap-Viet-Nam.pdf.
13
quyền của trẻ em, được xây dựng dựa trên nhu
cầu và đặc điểm của trẻ, nhằm bảo đảm cho sự
tồn tại và phát triển của trẻ với các thuộc tính:
- Bất khả xâm phạm;
- Áp dụng bình đẳng với tất cả mọi trẻ em;
- Liên quan với nhau và không thể tách rời,
quyền phải đi đôi với trách nhiệm.
2. Vấn đề trẻ em trong lịch sử phát triển
của nhân loại
Ngay từ thế kỷ XIV, XV ở châu Âu đã có
những tổ chức cộng đồng hoạt động trên lĩnh
vực bảo vệ trẻ em, tiêu biểu là Bệnh viện
Spedan Digerli Innosanti ở Floren (Italia). Thời
kỳ này, quá trình công nghiệp hóa ở châu Âu
kéo theo tình trạng bóc lột sức lao động trẻ em
một cách phổ biến. Thêm vào đó, Chiến tranh
thế giới thứ nhất (1914 - 1918) đã đẩy hàng
triệu trẻ em trên thế giới vào hoàn cảnh cùng
khổ. Vì vậy, năm 1919, một số tổ chức cứu trợ
trẻ em được thành lập ở Anh và Thụy Điển.
Những năm tiếp theo, Tổ chức Lao động quốc
tế (ILO) đã ban hành một số công ước nhằm bảo
vệ trẻ em trong các lĩnh vực lao động, việc làm và
bảo trợ xã hội. Tuy nhiên, những văn kiện thời kỳ
đó chưa đặt vấn đề dưới góc độ “quyền” trẻ em.
Năm 1923, Eglantyne Jebb soạn thảo Hiến
chương về quyền trẻ em và chỉ đến năm 1924,
14
khái niệm quyền trẻ em được khẳng định và thừa
nhận trong bản Tuyên ngôn Giơnevơ về quyền
trẻ em do Hội quốc liên thông qua (Tuyên ngôn
này do Hiệp hội quốc tế các quỹ cứu trợ trẻ em khởi
thảo dựa trên Hiến chương về quyền trẻ em)1.
Ngày 11-12-1946, Quỹ Nhi đồng Liên hợp quốc
(UNICEF) một quỹ cứu tế được thành lập với tôn
chỉ, mục đích ban đầu của tổ chức này là giúp trẻ
em châu Âu gặp hoàn cảnh khó khăn sau Chiến
tranh thế giới thứ hai.
Năm 1948, Liên hợp quốc thông qua Tuyên ngôn
quốc tế nhân quyền, trong đó khẳng định trẻ em
cũng là chủ thể bình đẳng của các quyền con người.
Năm 1953, UNICEF mở rộng tôn chỉ, mục đích
của mình hướng tới các mục tiêu: chăm sóc, phục
vụ và bảo vệ mọi quyền lợi cho sự phát triển của
trẻ em trên toàn thế giới, đặc biệt là trẻ em ở các
nước đang phát triển và kém phát triển. Các hình
thức giúp đỡ phổ biến là: cung cấp các dịch vụ cơ
bản về y tế kể cả thuốc thiết yếu, chăm sóc sức
khỏe ban đầu, dinh dưỡng; nước và vệ sinh môi
trường, giới và phát triển; các lĩnh vực liên quan
đến trẻ em và phụ nữ.
___________
1. Quỹ bảo trợ trẻ em: Hỏi đáp về Công ước quyền
trẻ em, http://www.nfvc.org.vn/kien-thuc-tre-em/hoi-dapve-cong-uoc-quyen-tre-em_t114c77#.W5pyWh_gLIU.
15
Đặc biệt, UNICEF còn tham gia các hoạt động
cứu trợ khẩn cấp. Mọi hỗ trợ của UNICEF tập
trung vào các chương trình của cộng đồng với sự
tham gia của mọi tầng lớp nhân dân nhằm đem
lại lợi ích thiết thực cho trẻ em ở khắp mọi nơi
trên thế giới. UNICEF trở thành một bộ phận
thường trực của Liên hợp quốc - bắt đầu chiến
dịch bài trừ bệnh yaws, một chứng bệnh tàn phá
cơ thể hàng trăm triệu trẻ em nhưng có thể chữa
bằng thuốc penicillin.
Năm 1959, Liên hợp quốc thông qua bản Tuyên
ngôn thứ hai, phát triển nội dung của Tuyên ngôn
Giơnevơ năm 1924. Tuyên ngôn này đề cập quyền
trẻ em: mọi trẻ em có quyền được bảo vệ, giáo dục,
chăm lo sức khỏe, chỗ ở và dinh dưỡng.
Năm 1961, UNICEF đưa ra chương trình giáo
dục, thúc đẩy và giúp đỡ các quốc gia về vấn đề
giáo dục trẻ em.
Năm 1965, UNICEF được trao giải Nobel Hòa
bình vì đã khích lệ tình thương và sự tương trợ giữa
các quốc gia.
Năm 1979, năm quốc tế thiếu nhi. Công việc soạn
thảo Công ước về quyền trẻ em bắt đầu tiến hành.
Năm 1981, UNICEF đưa ra chương trình vận
động nuôi con bằng sữa mẹ nhằm làm giảm một
số chứng bệnh ở trẻ em.
Năm 1982, UNICEF phát động phong trào
“Cách mạng về sự sống còn và phát triển của trẻ em”
16
dựa trên bốn nguyên tắc: theo dõi sức lớn của trẻ,
nước uống, sữa mẹ và tiêm ngừa miễn nhiễm.
Năm 1987, UNICEF tiến hành nghiên cứu
“Thay đổi kinh tế và bộ mặt nhân loại” khiến thế
giới phải lưu tâm đến vấn đề bảo vệ phụ nữ và trẻ
em, đối phó với các tác hại của thay đổi kinh tế tại
các quốc gia nghèo.
Các nỗ lực của UNICEF đã dẫn tới Hội nghị
thượng đỉnh thế giới về trẻ em được Liên hợp quốc
tổ chức vào tháng 9-1990 và tháng 5-2002 tại
New York với sự tham gia của nhiều nước và sự
hiện diện của các nguyên thủ quốc gia. Hội nghị
thượng đỉnh thế giới về trẻ em tháng 9-1990 đã
nhất trí thông qua 27 mục tiêu về y tế, giáo dục
và phúc lợi cho trẻ em và phụ nữ. Nội dung chính
của các mục tiêu này là1:
- Giảm 1/3 tỷ lệ tử vong của trẻ sơ sinh và trẻ
dưới 5 tuổi.
- Giảm 1/2 tỷ lệ tử vong của các bà mẹ.
- Giảm 1/2 tỷ lệ suy dinh dưỡng của trẻ em
dưới 5 tuổi.
- Bảo đảm đa số người dân nông thôn được tiếp
cận nước sạch.
- Phổ cập giáo dục cơ bản; hoàn thành 80%
___________
1. Bộ Ngoại giao Việt Nam - Quỹ Nhi đồng Liên hợp
quốc, http://www.mofahcm.gov.vn/vi/mofa/ctc_quocte/
un/nr040819155753/nr060928111253/ns070731090359.
17
giáo dục cấp tiểu học cho trẻ em ở độ tuổi đến
trường.
Cùng với sự phát triển lịch sử, vấn đề lao động
trẻ em trở thành vấn đề nghiêm trọng, nhức nhối
ở nhiều nơi trên thế giới. Do đó, vấn đề quyền trẻ
em đã được đặt ra. Với sự nỗ lực của các quốc gia,
Công ước quốc tế về quyền trẻ em được thông qua
và ký kết ngày 20-11-1989, còn gọi là Công ước
quốc tế về quyền trẻ em năm 1989, có hiệu lực từ
ngày 2-9-1990.
Công ước để ngỏ cho các quốc gia tham gia ký
kết, phê chuẩn và gia nhập. Ngoài Lời nói đầu,
nội dung của Công ước gồm 3 phần với 54 điều
khoản, bao quát được tất cả những khía cạnh
liên quan đến quyền trẻ em và xác định rõ
nghĩa vụ của các quốc gia trong việc bảo đảm
quyền trẻ em, mối quan hệ giữa trẻ em và
quyền con người nói chung.
Lần đầu tiên, vấn đề “trẻ em” được xác định,
làm cơ sở cho việc thúc đẩy và bảo vệ các quyền
trẻ em trên thực tế. Một tập hợp các quyền trẻ em
trên tất cả các lĩnh vực (mà rất nhiều quyền chưa
được đề cập ở các văn kiện trước đó) đã được Công
ước ghi nhận, bảo đảm cho trẻ em được bảo vệ,
chăm sóc một cách có hiệu quả; được phát triển
toàn diện cả về thể chất, trí tuệ, tình cảm, đạo
đức và xã hội.
Không chỉ đề cập trẻ em nói chung, Công ước
18
còn đề cập việc bảo vệ quyền của những nhóm trẻ
em đặc biệt (tàn tật, lang thang cơ nhỡ, bị ảnh
hưởng của xung đột vũ trang...), đồng thời, xác
định những biện pháp nhằm xóa bỏ những nguy
cơ đang đe dọa nghiêm trọng cuộc sống của nhiều
trẻ em như bị lạm dụng tình dục, bóc lột sức lao
động, ảnh hưởng của chất ma túy, bị buộc phải
tham gia vào các cuộc xung đột vũ trang... Cùng
với các điều đó, Công ước còn xác lập một cơ chế
quốc tế để giám sát việc thực hiện các quyền trẻ
em trên thế giới, tạo điều kiện cần thiết để trẻ em
được phát triển đầy đủ. Công ước được coi là văn
kiện pháp lý quốc tế cơ bản và toàn diện nhất về
quyền trẻ em.
Năm 1996, UNICEF đã thông qua Tuyên ngôn
UNICEF với nội dung1:
- Thực hiện mọi chủ trương của Liên hợp quốc
về bảo vệ các quyền của trẻ em đồng thời hỗ trợ,
đáp ứng những yêu cầu cơ bản của trẻ em.
- Hỗ trợ các quốc gia thực hiện những cam kết
về trẻ em do Hội nghị thượng đỉnh về trẻ em của
Liên hợp quốc (1990) đề ra.
- Huy động mọi ý chí chính trị và các nguồn lực
vật chất nhằm giúp các nước xây dựng năng lực,
___________
1 Bộ Ngoại giao Việt Nam - Quỹ Nhi đồng Liên hợp
quốc, http://www.mofahcm.gov.vn/vi/mofa/ctc_quocte/
un/nr040819155753/nr060928111253/ns070731090359.
19
đề ra các chính sách phù hợp để chuyển giao dịch
vụ trẻ em tới các hộ gia đình.
- Cam kết bảo vệ những trẻ em gặp hoàn cảnh
đặc biệt khó khăn như trẻ em là nạn nhân của
xung đột vũ trang; trẻ em nghèo khó; trẻ em lang
thang cơ nhỡ...
- Thông qua các chương trình quốc gia nhằm
khuyến khích quyền bình đẳng cho phụ nữ và trẻ
em gái, đồng thời hỗ trợ họ tham gia các hoạt
động phát triển kinh tế cũng như chính trị của
các quốc gia và cộng đồng. UNICEF hợp tác với
tất cả các chính phủ, các tổ chức quốc tế và các tổ
chức phi chính phủ (NGO's) trong khuôn khổ
Công ước quốc tế về quyền trẻ em năm 1989
nhằm đạt được các mục tiêu về trẻ em do Hội nghị
thượng đỉnh về trẻ em (1990) đề ra.
Để thích ứng với điều kiện và hoàn cảnh thế
giới mới nhằm phục vụ trẻ em một cách hiệu quả
nhất, trong những năm gần đây, UNICEF đã xác
định sứ mệnh và trách nhiệm của mình như sau:
- Thực hiện trách nhiệm do Đại hội đồng
Liên hợp quốc giao phó là chăm lo bảo vệ các
quyền của trẻ em, giúp đỡ đáp ứng các nhu cầu
cơ bản của trẻ em và tạo thêm cơ hội giúp trẻ
em phát huy đầy đủ tiềm năng của mình.
- Theo Công ước quốc tế về quyền trẻ em
năm 1989, phải phấn đấu thiết lập các quyền của
trẻ em như những nguyên tắc đạo lý bền vững
20
và các chuẩn mực quốc tế trong việc đối xử với
trẻ em.
- Nhấn mạnh sự sống còn, bảo vệ và phát triển
của trẻ em là những đòi hỏi phát triển toàn cầu
gắn liền với sự tiến bộ của con người.
- Động viên ý chí chính trị và nguồn lực vật
chất để giúp đỡ các nước, đặc biệt là các nước
đang phát triển, bảo đảm phương châm trước
tiên cho trẻ em và xây dựng năng lực, đề ra các
chính sách phù hợp và cung ứng các dịch vụ cho
trẻ em và gia đình của các em.
- Cam kết bảo đảm sự bảo vệ đặc biệt đối với
trẻ em chịu thiệt thòi nhất như nạn nhân của
chiến tranh, thiên tai, đói nghèo cùng cực, của
mọi hình thức bạo lực và bóc lột cũng như trẻ em
bị tàn tật.
- Ứng phó trong các trường hợp khẩn cấp để
bảo vệ các quyền của trẻ em. Trong việc phối hợp
với các đối tác của Liên hợp quốc và các cơ quan
nhân đạo, UNICEF dành cho họ những phương
tiện đáp ứng nhanh của mình nhằm giảm bớt
những đau khổ của trẻ em và thực hiện việc chăm
sóc đối với trẻ em.
- UNICEF là một tổ chức không thiên vị và sự
hợp tác của UNICEF là không phân biệt đối xử
trong mọi hoạt động của mình, dành ưu tiên cho
các trẻ em bị thiệt thòi nhất và những nước cần
giúp đỡ nhất.
21
- Thông qua các chương trình quốc gia, thúc
đẩy các quyền bình đẳng của phụ nữ và trẻ em
gái, hỗ trợ họ tham gia đầy đủ vào sự phát triển
chính trị, kinh tế và xã hội của cộng đồng.
- Hợp tác với mọi đối tác để đạt được những
mục tiêu phát triển con người bền vững đã được
cộng đồng thế giới thông qua cũng như thực hiện
triển vọng hoà bình và tiến bộ xã hội được ghi
trong Hiến chương của Liên hợp quốc.
Tại Hội nghị thượng đỉnh thế giới về trẻ em
tháng 5-2002, các nguyên thủ các nước đã nhất trí
thông qua bản Tuyên bố và kế hoạch hành động
cho thập kỷ tới bằng văn kiện chính của khóa họp
mang tên Một thế giới phù hợp với trẻ em. Tuyên
bố gồm các điểm khẳng định nghĩa vụ phát huy,
bảo vệ quyền và phúc lợi của trẻ em và kế hoạch
hành động với các mục tiêu chính như sau1:
- Giảm ít nhất 1/3 tỷ lệ tử vong trẻ sơ sinh và trẻ
em dưới 5 tuổi để đến năm 2015 giảm được 2/3.
- Giảm ít nhất 1/3 tỷ lệ tử vong bà mẹ liên
quan thai sản để đến năm 2015 giảm được 2/3.
- Giảm ít nhất 1/3 tỷ lệ suy dinh dưỡng của trẻ
dưới 5 tuổi.
- Giảm ít nhất 1/3 tỷ lệ các hộ gia đình không
được tiếp cận với nước sạch và hố xí hợp vệ sinh.
___________
1 Bộ Ngoại giao Việt Nam - Quỹ Nhi đồng Liên hợp
quốc, http://www.mofahcm.gov.vn/vi/mofa/ctc_quocte/
un/nr040819155753/nr060928111253/ns070731090359.
22
- Bảo đảm các chính sách phát triển tuổi thơ
thông qua các chính sách và chương trình để trẻ
em được phát triển cả về thể lực, xã hội, tình cảm
và tinh thần.
- Phát triển và thực hiện các chính sách với trẻ
vị thành niên.
- Bảo đảm cho mọi trẻ em ở các lứa tuổi phù
hợp được tiếp cận hệ thống chăm sóc sức khỏe ban
đầu và sức khỏe sinh sản.
Khóa họp này không chỉ chú trọng vào cam kết
chính trị mà đặt ra yêu cầu cao là phải hành động
và thực hiện cam kết.
Tóm lại, từ đầu thế kỷ XX đến nay, một loạt
văn kiện quốc tế đã được thông qua, trực tiếp hoặc
gián tiếp đề cập các quyền của trẻ em. Các văn
kiện ban đầu hoặc không có tính ràng buộc về
nghĩa vụ pháp lý hoặc chưa tiếp cận từ vị thế đặc
biệt và chú trọng đến những nhu cầu đặc thù của
trẻ em nên tác động trên thực tế rất hạn chế. Mục
đích đặt ra là trẻ em phải được sống trong hòa
bình, trong xã hội thân ái; cần phải được sự chăm
sóc của Nhà nước, xã hội, gia đình và cần có sự
bảo vệ về mặt pháp lý. Điều này đặc biệt có ý
nghĩa ở những quốc gia đang phát triển.
Năm 1996, báo cáo của Machel: “Tác hại của
chiến tranh vũ khí đối với trẻ em” do UNICEF
bảo trợ, cảnh báo việc xâm phạm quyền trẻ em.
Năm 2000, để hỗ trợ cho Công ước quốc tế về
23
quyền trẻ em năm 1989, Liên hợp quốc đã thông
qua hai Nghị định thư bổ sung, đề cập việc cấm
sử dụng trẻ em trong các cuộc xung đột vũ trang,
cấm buôn bán, bóc lột mại dâm trẻ em, cấm văn
hóa phẩm khiêu dâm trẻ em.
Nhìn chung, từ đầu thế kỷ XX đến nay, các văn
kiện quốc tế liên quan đến quyền trẻ em liên tiếp
được ban hành. Đây là thành quả đấu tranh liên
tục của nhân loại nhằm cải thiện vị thế và cuộc
sống trẻ em.
Ngay sau khi Công ước quốc tế về quyền trẻ em
năm 1989 có hiệu lực, Hội nghị thượng đỉnh thế
giới về trẻ em đã được tổ chức tại New York từ
ngày 29 đến 30-9-1990. Hội nghị thông qua
Tuyên bố thế giới và kế hoạch hành động về sự
sống còn, phát triển và bảo vệ trẻ em, đề cập
những thách thức và mục tiêu cụ thể nhằm bảo
đảm cuộc sống và các quyền của trẻ em trong giai
đoạn 1990 - 2000.
Kết thúc giai đoạn này, nhân loại đã đạt được
những kết quả bước đầu nhưng rất to lớn trong
việc bảo đảm quyền trẻ em. Bằng các chiến dịch
tiêm chủng và phổ biến dùng muối iốt mà hàng
năm, gần 3 triệu trẻ em trên thế giới được cứu
sống, 75 vạn trẻ em khỏi bị tàn tật về thể chất,
12 triệu trẻ em thoát khỏi nguy cơ mắc bệnh
tâm thần. Bằng việc phổ biến dùng nước sạch,
vệ sinh môi trường, nuôi con bằng sữa mẹ... mà
24
hàng năm có hàng chục triệu trẻ em không bị
suy dinh dưỡng.
Bằng việc giáo dục, tuyên truyền về quyền trẻ
em, nhận thức về vị thế của trẻ em trong các xã
hội đã thay đổi. Trẻ em từ chỗ bị xem là đối tượng
phụ thuộc, phải chịu sự chi phối hoàn toàn của
người lớn đến chỗ được thừa nhận, đối xử với tư
cách là những chủ thể của quyền chứ không đơn
thuần chỉ là đối tượng của tình thương hay lòng
nhân đạo.
So với các điều ước quốc tế nói chung, Điều ước
quốc tế về quyền con người nói riêng, Công ước
quốc tế về quyền trẻ em năm 1989 có những điểm
nổi bật sau:
- Thời gian từ khi ký đến khi Công ước có hiệu
lực rất ngắn (9 tháng 18 ngày) và là điều ước quốc
tế đa phương có số lượng các quốc gia thành viên
lớn nhất (197 quốc gia) so với tất cả các điều ước
quốc tế được ký trên thế giới. Đặc điểm này phản
ánh tầm quan trọng của vấn đề bảo vệ quyền trẻ
em cũng như sự quan tâm của các quốc gia đối với
thế hệ trẻ.
- Công ước quốc tế về quyền trẻ em năm 1989
lần đầu tiên khái quát được các khía cạnh của
quyền trẻ em và xác định rõ nghĩa vụ của các
quốc gia trong việc bảo đảm quyền của trẻ em;
mối quan hệ giữa quyền trẻ em với quyền con
người nói chung.
25
- Theo Công ước quốc tế về quyền trẻ em năm
1989, Ủy ban về quyền trẻ em được thành lập
nhằm xem xét sự tiến bộ mà các quốc gia thành
viên đạt được trong việc thực hiện các nghĩa vụ
mà họ đã cam kết thông qua các báo cáo định kỳ.
Đồng thời bên cạnh Ủy ban về quyền trẻ em, các
cơ quan chuyên môn, Quỹ Nhi đồng Liên hợp quốc
và các tổ chức khác thuộc Liên hợp quốc cũng có
thẩm quyền giám sát, giúp đỡ các quốc gia thành
viên trong quá trình thực hiện Công ước.
Năm 2001, Chiến dịch “Nói đồng ý với trẻ em”một phong trào toàn cầu khuyến khích mọi người
thay đổi thế giới bằng cách lưu tâm đến trẻ em.
Hàng triệu người đã ký tên xác định sẽ tìm cách
nâng cao đời sống trẻ em.
Ngoài Quỹ Nhi đồng Liên hợp quốc, còn rất
nhiều tổ chức phi chính phủ hoạt động vì quyền
lợi của trẻ em, chẳng hạn tổ chức Children Action Tổ chức hành động vì trẻ em, là một quỹ từ thiện,
cung cấp mọi loại trợ giúp cho các trẻ em bất
hạnh, trong đó có chăm sóc y khoa, phẫu thuật,
giúp đỡ tâm lý, chăm sóc phòng ngừa thanh thiếu
niên tự tử v.v.. Tổ chức này được Bernard Sabrier
thành lập năm 1994, có trụ sở ở Thụy Sĩ. Tổ chức
đã tiến hành một số công việc giúp hỗ trợ trẻ em
như Dự án phòng ngừa bỏ rơi trẻ em, trường học
cho các trẻ em thiếu thốn, các phẫu thuật ngoại
khoa cho trẻ em, thành lập Trung tâm dành cho
26
trẻ em khiếm thị, trợ giúp trẻ em bị nhiễm AIDS,
trợ giúp trẻ em bị bệnh ung thư. Một số tổ chức
phi chính phủ khác - như Tổ chức theo dõi nhân
quyền đã quan tâm tới vấn đề lao động trẻ em, trẻ
em đường phố, đòi chấm dứt sử dụng lính trẻ em
trong chiến tranh...
Bước sang thế kỷ XXI, mục tiêu thiên niên kỷ
của Liên hợp quốc cũng đưa ra vấn đề về quyền trẻ
em - một trong những nhóm dễ bị tổn thương, cần
phải quan tâm vì đây là tương lai của nhân loại.
II. KHÁI NIỆM TRẺ EM
VÀ QUYỀN TRẺ EM
1. Khái niệm trẻ em
Công ước quốc tế về quyền trẻ em năm 1989
quy định, trẻ em có nghĩa là bất kỳ người nào dưới
18 tuổi, trừ khi luật pháp của quốc gia thành viên
quy định tuổi thành niên sớm hơn.
Theo Điều 1, Luật Trẻ em năm 2016, sửa đổi,
bổ sung năm 2018 quy định: “Trẻ em là người
dưới 16 tuổi”.
Mỗi trẻ em là một con người với những đặc
điểm riêng về thể chất và tâm sinh lý. Những đặc
điểm và khả năng của trẻ rất khác nhau theo
từng độ tuổi và sự trưởng thành, vì thế rất khác
so với người trưởng thành.
27
Năng lực của trẻ được hình thành, thay đổi và
phát triển. Do vậy, trẻ em có quyền được sống,
trưởng thành, phát triển khỏe mạnh và hạnh
phúc trong tình yêu thương của cha mẹ, gia đình
và cộng đồng.
2. Xác định quyền trẻ em
Cuốn sách Quyền trẻ em (The Rights of
Infants) xuất bản năm 1796 của Thomas Spence
là một trong những cuốn sách đầu tiên viết
bằng tiếng Anh, xác nhận các quyền của trẻ em.
Trong suốt thập niên đầu tiên của thế kỷ XX,
các nhà hoạt động vì quyền trẻ em đã nhóm
họp, đòi hỏi quyền cho trẻ em vô gia cư và giáo
dục công cộng.
Tiếp đó, cuốn Quyền được tôn trọng của trẻ em
(The Child's Right to Respect) xuất bản năm 1927
của Janusz Korczak đã gây sự chú ý lớn về lĩnh
vực này. Hiện nay, hàng chục tổ chức quốc tế
đang hoạt động trên khắp thế giới để cổ động cho
quyền trẻ em1.
___________
1. Hoàng Minh Khôi: Hoàn thiện hệ thống tư pháp
cho người chưa thành niên ở một số nước và những nội
dung có thể tham khảo, website của Trung tâm tư vấn
pháp luật Thành phố Hồ Chí Minh - Trung ương Hội
Luật gia Việt Nam, http://nguoibaovequyenloi.com/user/
thongtin_chitiet-aspx?MaTT=168201672110123641&
MAMT=26.
28
Định nghĩa:
Quyền trẻ em là tất cả những gì trẻ em cần có
để được sống và lớn lên một cách lành mạnh và an
toàn. Quyền trẻ em nhằm bảo đảm cho trẻ em
không chỉ là người tiếp nhận thụ động lòng nhân
từ của người lớn mà các em còn là những thành
viên tham gia tích cực vào quá trình phát triển
của nhân loại.
Các quyền phải thực hiện ngay:
- Các quyền dân sự, chính trị.
- Các vấn đề như sự phân biệt đối xử, quyền
được lắng nghe, quyền có họ tên, quốc tịch, quyền
tự do biểu đạt và lập hội, quyền được đoàn tụ với
gia đình, quyền được bảo vệ khỏi sự hành hạ và
ngược đãi.
- Những quy định đặc biệt về sự bảo vệ, can
thiệp của nhà nước trong những tình huống và điều
kiện mà theo đó, trẻ em có thể bị tước đoạt tự do.
Các quyền thực hiện từng bước:
- Các quyền về kinh tế, xã hội và văn hóa;
- Các quyền về y tế và giáo dục;
- Các quyền không thuộc nhóm quyền thứ nhất.
Các quyền này được công nhận tại Điều 4 Công
ước quốc tế về quyền trẻ em năm 1989 với nội
dung: “... Về các quyền về kinh tế, xã hội và văn
hóa các quốc gia thành viên phải thi hành những
biện pháp như vậy ở mức tối đa theo khả năng
29
sẵn có của mình, và khi cần thiết, trong khuôn
khổ hợp tác quốc tế”.
Quá trình theo dõi, giám sát và thực
hiện quyền:
- Thành lập một ủy ban quốc gia giám sát việc
thực hiện.
- Đề ra các mục tiêu cụ thể trong một thời gian
nhất định để thực hiện.
- Thông qua các luật phù hợp với Công ước
quốc tế về quyền trẻ em năm 1989.
- Thực hiện các chương trình và hoạt động.
- Xem xét tình hình hiện tại của trẻ em.
- Xác định xem đã làm được những gì và những
điều cần phải làm.
- Báo cáo lần thứ nhất sau hai năm, sau đó, cứ
năm năm một lần.
III. CÁC NGUYÊN TẮC
CỦA LIÊN HỢP QUỐC VỀ QUYỀN TRẺ EM
Các nguyên tắc của Công ước quốc tế về quyền
trẻ em năm 1989 là những quy định bắt buộc phải
tuân thủ khi thực hiện bất kỳ quyền nào của trẻ
em, được quy định trong Công ước.
Các nguyên tắc của Công ước là công cụ định
hướng giúp diễn giải rõ ràng tinh thần và thông
điệp của Công ước. Các nguyên tắc này phải được
bảo đảm thực hiện bất kỳ điều khoản nào của
30
Công ước. Công ước quốc tế về quyền trẻ em năm
1989 bao gồm bốn nguyên tắc:
* Nguyên tắc thứ nhất: Không phân biệt đối
xử trong việc bảo đảm thực hiện quyền trẻ em.
Nguyên tắc này được thể hiện qua các điều 5,
17, 27, 38, 41 của Công ước.
Theo các điều này, trước hết, trách nhiệm,
quyền và nghĩa vụ của cha mẹ, của các thành viên
trong gia đình mở rộng, của cộng đồng theo phong
tục địa phương, của những người giám hộ pháp lý,
những người chịu trách nhiệm về mặt pháp lý với
đứa trẻ trong việc chỉ bảo và hướng dẫn trẻ thực
hiện những quyền trong Công ước, phù hợp với
mức độ phát triển về năng lực của trẻ. Trách
nhiệm, quyền và nghĩa vụ này phải được các quốc
g...
 





