Ý NGHĨA CỦA VIỆC ĐỌC SÁCH
ban-ve-tinh-than-phap-luat

- 0 / 0
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: Hoàng Thị Tuyết Trinh (trang riêng)
Ngày gửi: 14h:19' 04-05-2024
Dung lượng: 1.4 MB
Số lượt tải: 4
Nguồn:
Người gửi: Hoàng Thị Tuyết Trinh (trang riêng)
Ngày gửi: 14h:19' 04-05-2024
Dung lượng: 1.4 MB
Số lượt tải: 4
Số lượt thích:
0 người
Bàn về
TINH THẦN PHÁP LUẬT
Nguyên tác: De l'Esprit des Lois
Tác giả: Montesquieu
Người dịch: Hoàng Thanh Đạm
Nhà xuất bản: NXB Lý luận Chính trị
Năm xuất bản: Hà Nội, 2006
Làm ebook: Nguyễn Tuấn Linh
Ngày hoàn thành: 18/5/2016
Ebook miễn phí tại : www.Sachvui.Com
MỤC LỤC
LỜI NGƯỜI DỊCH
TIỂU SỬ MONTESQUIEU
TIỂU DẪN
I. Những việc đã xảy ra vào năm 1748
II. Montesquieu soạn thảo và xuất bản sách tinh thẩn pháp luật
III. Cách bố cục sách tinh thần pháp luật
IV. Những nguồn gốc của sách tinh thần pháp luật
V. Đối tượng và phương pháp của sách tinh thần pháp luật
VI. Ảnh hưởng của sách tinh thần pháp luật
LỜI CẦU NGUYỆN CÁC NỮ THẦN ĐỒNG TRINH TRÊN NÚI
PIERIE
LỜI TỰA
LỜI NÓI ĐẦU
QUYỂN I: BÀN VỀ LUẬT PHÁP NÓI CHUNG
Chương 1: Luật pháp trong mối tương quan với các sự vật
Chương 2: Luật của thiên nhiên
Chương 3: Các luật thực tiễn
QUYỂN II: PHÁP LUẬT RÚT TRỰC TIẾP TỪ TRONG BẢN
CHẤT CỦA CHÍNH TRỊ
Chương 1: Bản chất của ba chính thể khác nhau
Chương 2: Chính phủ cộng hoà và các luật liên quan đến dân chủ
Chương 3: Các luật liên quan đến bản chất nhà nước quý tộc
Chương 4: Các luật liên quan đến bản chất nhà nước quân chủ
Chương 5: Các luật liên quan đến bản chất nhà nước chuyên chế
QUYỂN III: BÀN VỀ NHỮNG NGUYÊN TẮC CỦA BA LOẠI
CHÍNH THỂ
Chương 3: Nguyên tắc của chính thể dân chủ
Chương 7: Nguyên tắc của chính thể quân chủ
Chương 9: Nguyên tắc của chính thể chuyên chế
Chương 11: Suy nghĩ về những điều nói trên
QUYỂN IV: LUẬT VỀ GIÁO DỤC PHẢI TƯƠNG ỨNG VỚI
NGUYÊN TẮC CỦA CHẾ ĐỘ
Chương 1: Về luật giáo dục
Chương 2: Giáo dục trong chính thể quân chủ
Chương 3: Giáo dục trong chính thể chuyên chế
Chương 4: Sự khác nhau giữa tác dụng giáo dục của người xưa với chúng ta ngày
nay
Chương 5: Giáo dục trong chính thể cộng hoà
QUYỂN V: CÁC LUẬT DO NHÀ LẬP PHÁP ĐƯA RA PHẢI
TƯƠNG ỨNG VỚI NGUYÊN TẮC CỦA CHÍNH THỂ
Chương 1: Ý tưởng của quyển V
Chương 2: Đạo đức là gì trong nhà nước chính trị
Chương 3: Thế nào là lòng yêu mến nền cộng hoà trong chính thể dân chủ
Chương 4: Người ta cảm nhận lòng yêu bình đẳng và nếp sống thanh đạm như thế
nào
Chương 5: Trong chính thể dân chủ, luật pháp thiết lập sự bình đẳng như thế nào
Chương 6: Trong chính thể dân chủ, luật pháp duy trì tính thanh đạm như thế nào
Chương 11: Cái hay của chính thể quân chủ
Chương 12: Tiếp chủ đề trên
Chương 13: Ý niệm về chính thể chuyên chế
Chương 14: Trong chính thể chuyên chế, các luật liên quan với nhau như thế nào
Chương 17: Những quà cáp
QUYỂN VI: HỆ QUẢ CỦA NGUYÊN TẮC TRONG MỐI LIÊN
QUAN ĐẾN VIỆC ĐƠN GIẢN HÓA CÁC LUẬT DÂN SỰ, HÌNH SỰ,
HÌNH THỨC XÉT XỬ VÀ PHƯƠNG THỨC TRỪNG PHẠT
Chương 3: Trong chính thể nào và trong trường hợp nào người ta phán xử theo
đúng văn bản luật pháp
Chương 4: Phương pháp xác lập sự phán xét
Chương 10: Các luật cổ xưa ở Pháp
Chương 13: Sự bất lực của luật pháp Nhật Bản
Chương 14: Tinh thần của Viện Nguyên lão ở Rome
Chương 16: Tỷ lệ công bằng giữa hình phạt và tội phạm
Chương 17: Tra tấn hay hỏi cung người phạm tội
Chương 18: Phạt tiền và phạt thân thể
Chương 19: Về luật miếng trả miếng
Chương 20: Phạt cha vì tội của con
QUYỂN VII: HỆ QUẢ CỦA CÁC NGUYÊN TẮC KHÁC NHAU
TRONG BA CHÍNH THỂ LIÊN QUAN TỚI LUẬT HẠN CHẾ XA HOA
VÀ ĐIỀU KIỆN PHỤ NỮ
Chương 1: Về sự xa hoa
Chương 7: Hệ quả tai hại của tệ xa hoa ở Trung Hoa
Chương 17: Phụ nữ cầm quyền cai trị
QUYỂN VIII: SỰ SA ĐOA TRONG NGUYÊN TẮC CỦA BA
LOẠI CHÍNH THỂ
Chương 1: Ý chung của quyển này
Chương 2: Sự sa đọa trong nguyên tắc của chính thể dân chủ
Chương 3: Tinh thần bình đẳng cực đoan
Chương 5: Sự sa đọa trong nguyên tắc của chính thể quý tộc
Chương 6: Sự sa đọa trong nguyên tắc của chính thể quân chủ
Chương 7: Tiếp chủ đề trên
Chương 10: Sự sa đọa trong nguyên tắc của chính thể chuyên chế
QUYỂN IX: PHÁP LUẬT TRONG QUAN HỆ VỚI LỰC LƯỢNG
PHÒNG THỦ
Chương 1: Các nước cộng hoà có được an ninh bằng cách nào
Chương 6: Về lực lượng phòng thủ của các quốc gia nói chung
QUYỂN X: CÁC LUẬT TRONG QUAN HỆ VỚI LỰC LƯỢNG
TẤN CÔNG
Chương 1: Bàn về lực lượng tấn công
Chương 2: Bàn về chiến tranh
Chương 3: Bàn về quyền chinh phục
Chương 4: Một vài điều lợi của dân tộc bị chinh phục
QUYỂN XI: CÁC LUẬT TẠO RA TỰ DO CHÍNH TRỊ TRONG
MỐI QUAN HỆ VỚI HIẾN PHÁP
Chương 1: Ý chung
Chương 2: Các định nghĩa dùng cho từ tự do
Chương 3: Thế nào là tự do
Chương 6: Hiến pháp nước Anh
Chương 9: Cách suy nghĩ của Aristote
Chương 11: Các vua trong thời đại anh hùng của Hy Lạp xưa
Chương 12: Sự cai trị của các vua Rome và ba thứ quyền lực được phân phối như
thế nào
Chương 13: Suy nghĩ chung về nhà nước Rome sau khi xoá bỏ vua
QUYỂN XII: CÁC LUẬT TẠO RA TỰ DO CHÍNH TRỊ TRONG
MỐI QUAN HỆ VỚI CÔNG DÂN
Chương 1: Ý chính của quyển này
Chương 2: Tự do của người công dân
Chương 3: Tiếp chủ đề trên
Chương 7: Tội chống vua (Lèse-majesté)
Chương 11: Về chuyện ý nghĩ
Chương 12: Về chuyện lời nói
Chương 13: Về chuyện văn chương
Chương 20: Các luật có lợi cho tự do của công dân nước cộng hoà
QUYỂN XIII: TỰ DO TRONG QUAN HỆ GIỮA MỨC ĐÓNG
GÓP VỚI SỰ DỒI DÀO CỦA THU NHẬP CÔNG CỘNG
Chương 1: Thu nhập quốc gia
Chương 12: Quan hệ giữa mức đóng góp với tự do
Chương 13: Những người thu thuế
Chương 17: Sự tăng gia quân đội
QUYỂN XIV: PHÁP LUẬT TRONG QUAN HỆ VỚI KHÍ HẬU
TỰ NHIÊN
Chương 1: Ý chung của quyền này
Chương 2: Con người khác nhau tuỳ theo khí hậu như thế nào
Chương 4: Nguyên nhân của sự trì trệ tôn giáo, phong tục, phong cách, pháp luật
ở các nước phương Đông
Chương 12: Các luật chống lại những người tự sát
Chương 14: Các tác động khác nhau của khí hậu
QUYỂN XV: LUẬT NÔ LỆ DÂN SỰ CÓ QUAN HỆ NHƯ THẾ
NÀO VỚI TÍNH CHẤT CỦA KHÍ HẬU
Chương 1: Bàn về nô lệ dân sự
Chương 5: Nô lệ hoá dân da đen
Chương 6: Nguồn gốc thật sự của quyền nô lệ
Chương 7: Nguồn gốc khác của quyền nô lệ
Chương 11: Pháp luật phải làm gì đối với quan hệ nô lệ
QUYỂN XVI: LUẬT VỀ NÔ LỆ TRONG GIA ĐÌNH QUAN HỆ
THẾ NÀO VỚI TÍNH CHẤT KHÍ HẬU
Chương 1: Việc phục dịch trong nhà
Chương 2: Ở các xứ phương nam có sự bất bình đẳng tự nhiên giữa nam và nữ
Chương 4: Tục đa thê và hoàn cảnh của nó
Chương 5: Lý do của luật Malabar
Chương 7: Bình đẳng trong trường hợp đa thê
Chương 15: Ly dị và ruồng bỏ
QUYỂN XVII: CÁC LUẬT PHỤC VỤ CHÍNH TRỊ TRONG
QUAN HỆ VỚI KHÍ HẬU
Chương 1: Về việc phục vụ chính trị
Chương 2: Sự khác nhau giữa các dân tộc về tính dũng cảm
Chương 3: Về khí hậu châu Á
Chương 8: Về thủ đô của vương quốc
QUYỂN XVIII: CÁC LUẬT TRONG QUAN HỆ VỚI TÍNH CHẤT
ĐẤT ĐAI
Chương 1: Tính chất đất đai ảnh hưởng đến luật như thế nào
Chương 5: Dân ở đảo
QUYỂN XIX: PHÁP LUẬT TRONG QUAN HỆ VỚI NHỮNG
NGUYÊN TẮC TẠO RA TÍNH CÁCH CHUNG, TỨC LÀ PHONG TỤC
TẬP QUÁN CỦA DÂN TỘC
Chương 4: Tính cách chung là gì
Chương 5: Chớ thay đổi tính cách chung của một dân tộc
Chương 9: Tính khoe khoang và kiêu căng của các dân tộc
Chương 13: Tập quán của người Trung Hoa
Chương 17: Đặc điểm riêng của chính thể Trung Hoa
Chương 18: Hệ quả của chương trên
Chương 19: Tôn giáo, pháp luật, phong tục tập quán hoà nhập như thế nào ở
Trung Hoa
Chương 20: Giải thích một nghịch lý về người Trung Hoa
QUYỂN XX: XÉT VỀ BẢN CHẤT VÀ ĐẶC ĐIỂM CÁC LUẬT
TRONG QUAN HỆ VỚI THƯƠNG MẠI
Chương 1: Bàn về thương mại
Chương 2: Tinh thần thương mại
Chương 5: Các dân tộc đã từng làm kinh tế thương mại
Chương 7: Tinh thần thương mại của nước Anh
Chương 13: Cái gì phá hoại tự do thương mại
Chương 19: Vua chúa và công hầu không nên buôn bán
Chương 20: Tiếp chủ đề trên
QUYỂN XXI: PHÁP LUẬT TRONG MỐI QUAN HỆ VỚI
THƯƠNG MẠI KHI CÓ CÁC CUỘC BIẾN ĐỔI LỚN TRÊN THẾ GIỚI
Chương 4: Điều khác biệt chính yếu giữa thương mại xưa và nay
Chương 5: Những điều dị biệt nữa
Chương 21: Phát hiện hai thế giới mới và tình trạng châu Âu trước sự kiện này
QUYỂN XXII: PHÁP LUẬT TRONG QUAN HỆ VỚI VIỆC SỬ
DỤNG TIỀN TỆ
Chương 1: Lý do của việc dùng tiền tệ
Chương 2: Bản chất của tiền tệ
Chương 21: Cho vay qua hợp đồng và cho vay nặng lãi ở Rome
Chương 22: Tiếp chủ đề trên
QUYỂN XXIII: PHÁP LUẬT TRONG QUAN HỆ VỚI DÂN SỐ
Chương 1: Người và loài vật trong vấn đề tăng nòi giống
Chương 16: Các quan điểm của nhà lập pháp trong vấn đề sinh sôi nòi giống
Chương 24: Những biến thiên ở châu Âu liên quan đến dân số
Chương 25: Tiếp chủ đề trên
Chương 26: Hệ quả
Chương 27: Luật ở nước Pháp khuyến khích tăng gia dân số
Chương 28: Có thể cứu vãn tình trạng giảm sút dân số như thế nào
Chương 29: Các viện cứu tế (Des Hôpitaux)
QUYỂN XXIV: PHÁP LUẬT TRONG TƯƠNG QUAN VỚI TÔN
GIÁO Ở CÁC NƯỚC
Chương 1: Các tôn giáo nói chung
Chương 2: Nghịch lý của Bayle
Chương 3: Chính thể ôn hoà thích hợp với đạo Thiên Chúa. Chính thể chuyên chế
thích hợp với đạo Hồi
Chương 4: Kết quả của tính chất đạo Thiên Chúa và tính chất đạo Hồi
Chương 5: Thiên Chúa giáo (Catholique) thích hợp ở một nước quân chủ, Cơ Đốc
tân giáo (Protestant) thích hợp ở một nước cộng hoà
Chương 10: Môn phái khắc kỷ
Chương 15: Các luật dân sự đôi khi uốn nắn lỗi lầm tôn giáo
Chương 16: Các luật của tôn giáo uốn nắn điều bất tiện trong thể chế chính trị
QUYỂN XXV: PHÁP LUẬT TRONG QUAN HỆ VỚI VIỆC
THIẾT LẬP TÔN GIÁO Ở MỖI NƯỚC VÀ CHÍNH SÁCH ĐỐI NGOẠI
CỦA TÔN GIÁO
Chương 1: Tình cảm tôn giáo
Chương 3: Các đền chùa
Chương 8: Toà thánh Giáo chủ
Chương 9: Sự khoan dung về tôn giáo
Chương 10: Tiếp chủ đề trên
Chương 12: Luật hình phạt
Chương 13: Lời khuyên can rất cung kính trình lên tôn giáo pháp đình Tây Ban
Nha và Bồ Đào Nha
QUYỂN XXVI: PHÁP LUẬT TRONG QUAN HỆ TẤT YẾU VỚI
TRẬT TỰ CÁC SỰ VẬT LÀM CƠ SỞ XÂY DỰNG NÊN PHÁP LUẬT
Chương 1: Ý chính của quyển này
Chương 2: Luật của trời và luật của người
Chương 5: Trường hợp xử theo luật nhân sự, có tham khảo các nguyên tắc của luật
tự nhiên
Chương 13: Trong việc hôn nhân, trường hợp nào nên theo luật tôn giáo, trường
hợp nào nên theo luật dân sự
QUYỂN XXVII: NGUỒN GỐC VÀ CÁC CUỘC CÁCH MẠNG
TRONG LUẬT ROME VỀ QUYỀN THỪA KẾ
Chương duy nhất: Luật Rome về quyền thừa kế
QUYỂN XXVIII: VỀ NGUỒN GỐC VÀ NHỮNG CUỘC CÁCH
MẠNG TRONG CÁC LUẬT CỦA NGƯỜI PHÁP
Chương 17: Cách suy nghĩ của ông cha chúng ta
Chương 20: Nguồn gốc của vấn đề danh diện
Chương 42: Sự phục hưng luật Rome và hậu quả sự đổi thay trong các toà án
Chương 43: Tiếp chủ đề trên
Chương 45: Về phong tục nước Pháp
QUYỂN XXIX: CÁCH SOẠN THẢO LUẬT
Chương 1: Tinh thần của người lập pháp
Chương 2: Tiếp chủ đề trên
Chương 3: Những đạo luật có vẻ trái với quan điểm người lập pháp cũng đôi khi
thích hợp
Chương 4: Những đạo luật mâu thuẫn với quan điểm người lập pháp
Chương 5: Tiếp chủ đề trên
Chương 16: Những điều cần chú ý trong việc soạn thảo luật
Chương 19: Về các nhà lập pháp
QUYỂN XXX: LÝ THUYẾT CỦA LUẬT PHONG KIẾN Ở PHÁP
TRONG MỐI TƯƠNG QUAN VỚI VIỆC THIẾT LẬP NỀN DÂN CHỦ
Chương 1: Về các luật phong kiến
Chương 2: Cội nguồn của luật phong kiến
Chương 5: Cuộc chinh phục người Francs
Chương 6: Người Goths, người Bourguignons và người Francs
Chương 7: Nhưng cách chia đất khác nhau
Chương 8: Tiếp chủ đề trên
Chương 9: Vận dụng đúng đắn việc chia đất trong luật Wisigoths và luật
Bourguignons
Chương 10: Về chế độ nô dịch
Chương 11: Tiếp chủ đề trên
Chương 21: Quyền tài phán trong địa vực giáo hội
QUYỂN XXXI: LÝ THUYẾT LUẬT PHÁP PHONG KIẾN CỦA
NGƯỜI FRANCS TRONG MỐI QUAN HỆ VỚI CÁC CUỘC CÁCH
MẠNG TRONG THỜI QUÂN CHỦ
Chương 17: Chuyện riêng tư trong việc bầu các vua dòng thứ hai
Chương 18: Vua Charlemagne
PHẦN PHỤ LỤC
Phụ lục I: Bảo vệ tác phẩm Tinh thần pháp luật
Phụ lục II: Tóm tắt Tinh thần pháp luật của Montesquieu
Phụ lục III: Những lời bình về tác phẩm Tinh thần pháp luật
Phụ lục IV: Những bức thư Ba Tư
Khái quát nội dung Những bức thư Ba Tư
Về nguồn gốc của Những bức thư Ba Tư
Thư số 48 : USBEC gửi RHE'DI ở VENISE
Thư số 52 : RICA gửi USBEC
Thư số 24 : RICA gửi IBBEN ở SMYRNE
Thư số 37 : RICA gửi IBBEN ở SMYRNE
Phụ lục V: Những nhận định về nguyên nhân cường thịnh và suy thoái của ROME
1. Khái quát về sách Nhận định
2. Bảng phân tích sách Nhận định
3. D'Alembert phân tích sách Nhận định
4. Hai chương trong sách Nhận định
Chương IX: Hai nguyên nhân suy vong của Rome
Chương XIII: AUGUSTE
Phụ lục VI: Hai tác phẩm văn học của Montesquieu
1. ARSACE và ISMÉNIE
2. LYSIMAQUE
Phụ lục VII: Chú giải tên riêng
LỜI NGƯỜI DỊCH
Năm 1982, tôi dịch xong cuốn Bàn về Khế ước xã hội (Du Contrat social)
của J. J. Rousseau. Mười năm sau (1992), bản dịch được Nhà xuất bản Thành
phố Hồ Chí Minh ấn hành. Nhiều bạn đọc phản ánh với tôi niềm phấn khởi
lần đầu tiên được đọc bản dịch đầy đủ Contrat social mà trước kia chỉ có
Nguyễn An Ninh lược dịch một chương. Tuy vậy, cũng có bạn gợi ý, đáng lẽ
Thanh Đạm nên dịch Esprit des lois (Tinh thần pháp luật) của Montesquieu,
vì đó là một bộ đôi xây dựng lý thuyết về xã hội công dân và Nhà nước pháp
quyền, dẫn tới cuộc Đại cách mạng Pháp 1789, mà Montesquieu lại là người
đi trước. (“Esprit des lois” ra đời năm 1748, 14 năm sau (1762) mới có
“Contrat social”).
Gợi ý này giúp tôi thấy rõ điều bất cập của mình. Thật ra trước đây tôi
chưa từng đọc “Esprit des lois”.
May sao anh Dương Trung Quốc, hồi miền Nam mới giải phóng, mua
được cuốn Vạn pháp tinh lý – bản dịch Esprit des lois, do Trịnh Xuân Ngạn
dịch thuật, xuất bản tại Sài Gòn năm 1962. Bản dịch này dựa theo sách Esprit
des lois – Extrait có nhiều phần “tiểu dẫn”. Biết tôi đang quan tâm tìm hiểu
vấn đề Khai sáng nên anh Quốc đã tặng tôi cuốn sách này.
Đọc Vạn pháp tinh lý, tôi vui sướng thâu nhận những ý kiến lỗi lạc của
Montesquieu. Nhưng một điều băn khoăn nảy ra, vì sao Nhà xuất bản
Classique Larousse tục bản chỉ có mấy chục chương của “Esprit des lois”? Vậy
thì diện mạo toàn bộ tác phẩm quan trọng này như thế nào? Theo lời tiểu dẫn
trong bản dịch của Trịnh Xuân Ngạn thì “Esprit des lois” gồm 31 quyển, mà ở
đây Nhà xuất bản chỉ in lại 18 quyển, mỗi quyển cũng chỉ trích lấy mấy
chương.
Tuy vẫn chỉ là trích dịch nhưng tôi đã chọn lọc những chương, những đoạn
thực sự cần thiết cho bạn đọc Việt Nam ngày nay. Những chương, đoạn không
dịch thuộc về những vấn đề mà tôi thấy là không cần thiết lắm hoặc không
phù hợp.
Tiêu đề sách “De l'Esprit des lois” tôi đã dịch là “Tinh thần Pháp luật”, nay
đổi lại cho đúng nguyên tác, là “Bàn về Tinh thần pháp luật” như
Montesquieu đã viết. Tôi cũng dịch thêm một số phần có tính chất tiểu dẫn và
phụ lục, được in trong hai cuốn sách “Montesquieu – Pages choisies – Esprit
des lois – Extrait” và “Montesquieu – Pages choisies – Lettres persanes et
Considérations”, nhằm giúp bạn đọc hiểu thêm về tác phẩm “Tinh thần pháp
luật” cũng như quá trình chuẩn bị của Montesquieu trước khi viết tác phẩm
1
và những lời bình luận sau khi tác phẩm ra đời.
Riêng phần tiểu dẫn, về bố cục, soạn thảo, xuất bản, về phương pháp của
Montesquieu và về ảnh hưởng của tác phẩm “Tinh thần pháp luật” thì tôi xin
giữ nguyên những trang dịch của Trịnh Xuân Ngạn. Vì bản dịch này dựa theo
bản tiếng Pháp in năm 1958 (mà tôi không sưu tầm được), so với bản tiếng
Pháp in năm 1934 (mà tôi có trong tay) thì nó cung cấp cho ta nhiều tư liệu và
nhận định phong phú hơn. Tôi chỉ thay thuật ngữ “Vạn pháp tinh lý” bằng
2
“Tinh thần pháp luật” . Trong lần tái bản năm nay (2004) tôi phải dịch bổ
sung Chương 3 và Chương 4 Quyển II (trích dịch và bổ sung) vào phần Phụ lục
một bài nghiên cứu của tôi: “Tóm tắt Tinh thần pháp luật của Montesquieu”
để phục vụ bạn đọc tốt hơn.
Vì tò mò khoa học, thích thú tìm hiểu các nhà Khai sáng Pháp, và muốn
góp phần nhỏ bé vào việc giao lưu văn hoá Việt – Pháp trong giai đoạn đất
nước đã vươn lên đổi mới, nên tôi đã dịch sách này với tất cả cố gắng và nhiệt
tâm. Nhưng chắc rằng khó tránh khỏi thiếu sót. Xin sẵn sàng tiếp thu sự chỉ
bảo của bạn đọc.
Hà Nội, mùa thu 2004
HOÀNG THANH ĐẠM
TIỂU SỬ MONTESQUIEU
3
Và những sự kiện trọng đại trong thời đại của ông
Charles de Secondat – nam tước de La Brède – Montesquieu ra đời
ngày 18 tháng 1 năm 1689, đúng trước một thế kỷ cuộc đại cách mạng tư sản
Pháp nổ ra tại lâu đài La Brède gần Bordeaux ở tây nam nước Pháp, trong
một gia đình dòng dõi quý tộc.
Cùng năm:
– Nhà văn Racine trình diễn lần đầu vở kịch Esther.
– Ở Nga, Pierre Đại đế (lên ngôi từ năm 1682) bắt đầu thực hiện
chương trình cách tân, học tập văn minh phương Tây, cải tạo tình trạng
lạc hậu, cổ hủ của nước Nga.
4
* Năm 1696: người mẹ qua đời .
* Năm 1700: theo học với các giáo sĩ thuộc Giáo đoàn “Oratoire” ở Juilly.
Ông học chữ Latinh giỏi hơn chữ Hy Lạp.
* Năm 1705-1708: học luật ở thành phố Bordeaux.
* Năm 1709: lên Paris tiếp tục học tập.
Cùng năm:
– Vua Louis XIV giải tán tu viện Post Royal des champs.
– Vua Charles VII (Thụy Điển) thua Nga trong trận Poltava.
* Năm 1713: người cha qua đời.
* Năm 1714: được cử làm nghị sĩ tại Nghị viện Bordeaux.
Cùng năm:
– Fénelon viết “Thư gửi Viện Hàn lâm Pháp”.
– Houdart de la Motte địch “llliade” và giải bài về Homère.
* Năm 1715: cưới vợ.
5
* Năm 1716: thay thế ông chú , giữ chức vụ chánh án5 Bordeaux; được cử
làm viện sĩ Viện Hàn lâm Bordeaux (thành lập từ 1712); đọc luận văn về
“Chính sách tôn giáo của người Rome” và luận văn “Ký ức về các lần quốc
trái”.
Cùng năm:
– Cuộc tranh luận thứ hai giữa phái Cổ điển và phái Tân tiến kết
thúc; rạp hát “Hài kịch Italia” được mở cửa trở lại.
– Nhà tài chính Law thiết lập ngân hàng đầu tiên.
– Hoà ước Pháp – Anh được ký kết tại La Haye.
6
* Năm 1718 : thiết lập giải thưởng về khoa học giải phẫu; đọc các báo cáo
khoa học “Về tiếng vang”, “Công dụng của các hạch ở thận”, “Tính trong
suốt của vật thể”, “Lịch sử trái đất cổ xưa và hiện đại”.
Cùng năm:
– F. M. Arouet lấy tên là Voltaire cho diễn vở kịch đầu tiên “Oedipe”
của ông.
– Ngân hàng Law được công nhận là ngân hàng quốc gia.
7
* Năm 1721: xuất bản “Những bức thư Ba Tư” (Lettres Persanes) , không
ghi tên tác giả. Sách được hoan nghênh, tái bản bốn lần trong năm đó, có kẻ
in lậu nữa. Ông trở thành nhân vật nổi tiếng từ đấy và thường lui tới phòng
khách của phu nhân De Lambert, gia nhập câu lạc bộ “Entresol” – một thứ
hàn lâm viện tự do, để cùng nhau nghiên cứu các vấn đề khoa học về đạo đức
và chính trị. Câu tạc bộ này có sự tham gia của linh mục (Saint Pierre
d'Argention).
Cùng năm:
– Chính phủ Pháp mở cuộc điều tra về ngân hàng Law (hiện tượng
thua lỗ).
– Hiệp ước đồng minh Pháp – Anh – Tây Ban Nha được ký kết.
* Năm 1722: trình bày bài “Đối thoại giữa Sylla và d'Eucrate”.
* Năm 1723: xuất bản tác phẩm “Bàn về chính trị” (De la politique).
* Năm 1724: xuất bản tác phẩm “Suy nghĩ về chính thể quân chủ phổ
thông” (Réflexions sur la monarchie universelle).
* Năm 1725: xuất bản tiểu thuyết “Đền thờ Gnide” (La temple de Gnide)
– tiểu thuyết trữ tình.
Cùng năm:
– Marivaux xuất bản “Hòn đảo và những người nô lệ” (L'ile des
esclaves).
– Voltaire trình diễn vở bi kịch “Hérode và Marie”.
– Bang giao Pháp – Tây Ban Nha trở nên căng thẳng.
– Vua Pierre Đại đế ở Nga băng hà.
* Năm 1726: thôi giữ chức vụ Chánh án Bordeaux mà trước đây ông đã
làm thế chân ông chú mình.
* Năm 1727: xuất bản tiểu thuyết trữ tình ngắn “Du lịch ở Paphos” (Le
voyage à Paphos); được bầu làm Viện sĩ Viện Hàn lâm nước Pháp ngày 2212-1727.
* Năm 1728: du lịch qua các nước Áo, Hung, Ý, Thụy Sĩ, Hà Lan.
Cùng năm:
– Voltaire viết “Nàng Hăngriađơ” (La Henriade).
– J. J. Rousseau sống ở Turin.
– Marivaux viết “Điều bất ngờ thứ hai trong tình yêu” (La seconde
surprise de l'amour).
– Georges II lên ngôi ở Anh.
– Phát hiện ra eo biển Béring.
* Năm 1729: sang Anh sống hai năm, ở nhà Lord Chesterfield; được nhận
làm thành viên Hiệp hội Hoàng gia Anh tại Luân Đôn.
Cùng năm:
– Voltaire từ Anh trở về Paris.
– J. J. Rousseau làm việc tại nhà mệnh phụ De Varen.
– Hoà ước Sicile được ký kết giữa Pháp – Anh – Hà Lan – Tây Ban
Nha.
* Năm 1731: trở về Pháp, đọc nhiều báo cáo tại Viện Hàn lâm Bordeaux
(các văn bản này đều đã thất lạc). Sau đó ông lui về ở lâu đài Brède.
Cùng năm:
– Voltaire viết “Lịch sử vua Charles VII”.
– Linh mục Prévost viết tiểu thuyết “Manon Lescaut”.
– Dainel De Foe qua đời.
* Năm 1734: xuất bản sách “Nhận định về nguyên nhân thịnh đạt và suy
thoái của Rome” (Considérations sur les causes de la gradeur des Romains et
de leur décadence); kết giao với linh mục Castel, người trở thành cộng tác
viên đắc lực của ông.
Cùng năm:
– Voltaire ra sách “Thư tín triết học” (Lettres philosophiques).
– Bach (Jean Sébastien), nhạc sĩ thiên tài người Đức soạn bản giao
hưởng nổi tiếng “Oratoire de Noel”.
– Chiến tranh kế vị ở Ba Lan.
– Quân Pháp thắng trận ở Parme và Guastalla (Italia).
* Năm 1741-1747: tập trung toàn lực nghiên cứu, soạn thảo tập sách lớn
“Tinh thần pháp luật”. Phần lớn thời gian sống ở lâu đài Brède, ông làm việc
quá sức đến nỗi gần như bị loà mắt.
* Năm 1748: xuất bản sách “Tinh thần pháp luật” ở Genève, in thành 2
tập, có một loại in thành 3 tập, khoảng 1000 trang.
Cùng năm:
– Voltaire viết truyện “Zadig”.
– Diderot kết bạn chí thân với J. J. Rousseau.
– Richardson (ở Anh) viết tiểu thuyết “Clarisse Harlowe”.
* Năm 1749: bị công kích: Tạp chí Nouvelles Ecclésiastiques (Tin Giáo
hội) viết bài phê phán Tinh thần pháp luật, coi tác giả là thuộc phái thần giáo
(déiste).
Cùng năm:
– Diderot cho ra “Thư viết về những người mù” (Lettres sur les
aveugles).
– Buffon viết “Lịch sử tự nhiên” (Histoire naturelle), bị trường
Sorbonne bác bỏ thuyết của ông về trái đất.
* Năm 1750: trả lời những người Jansénistes bằng tác phẩm luận chiến
“Bảo vệ Tinh thần pháp luật” (Défense de l'Esprit des lois).
Cùng năm:
– J. J. Rousseau viết “Khảo luận về các khoa học và nghệ thuật”
(Discours sur les sciences et les arts).
– Voltaire sang thăm nước Phổ.
– Dupleix, toàn quyền Pháp ở Ấn Độ giành thắng lợi trong việc tranh
chấp với Anh. Thiết lập quyền bảo hộ của Pháp ở vùng Carnatic.
* Năm 1751: viết truyện cổ tích “Lysimaque” đăng tạp chí “Le Mercure”.
Cùng năm:
– Voltaire viết “Thế kỷ của Louis XIV” (Le siècle de Louis XIV).
– Diderot xuất bản quyển “Bách khoa toàn thư”.
– Nổ ra cuộc bút chiến quanh bài “Khảo luận về khoa học và nghệ
thuật” của J. J. Rousseau.
* Năm 1752: sách “Tinh thần pháp luật” bị cơ quan kiểm duyệt của Toà
thánh Rome phê bình một cách ôn hoà. Trường Sorbonne cũng giám định
tác phẩm này nhưng không tuyên bố gì chính thức. Nhưng Chính phủ Pháp
ban hành lệnh cấm lưu hành sách “Tinh thần pháp luật” (lệnh ra ngày 29-111751).
Cùng năm:
– Viết bài: “Hứng thú với Bách khoa toàn thư” (Gout pour
L'Encyclopédie).
* Năm 1754: viết truyện cổ tích huyền thoại “Arsace và Isménie”.
Cùng năm:
– Condillac “Nghị luận về cảm xúc” (Traité des sensations).
– J. J. Rousseau khởi công xây dựng công trường Vua Louis XV.
– Toàn quyền Dupleix rời bỏ Ấn Độ.
* Năm 1755: qua đời ngày 10 tháng 2, để lại nhiêu nguyên cảo trong đó
có tập “Những tư tưởng của tôi” (Mes pensées), thọ 56 tuổi.
Cùng năm:
– J. J. Rousseau viết “Khảo luận về sự bất bình đẳng” (Discours sur
l'inégalité).
– Quân đội Anh và Mỹ chiếm đóng xứ Arcadie.
– Liên lạc ngoại giao giữa Anh và Pháp bị cắt đứt.
TIỂU DẪN
Về quá trình Montesquieu chuẩn bị soạn thảo Tinh
8
thần pháp luật
I. Những việc đã xảy ra vào năm 1748
(Khi “De l'Esprit des lois” ra đời)
Về chính trị
Những hồi cuối cùng của trận chiến tranh kế vị tại nước Áo, khởi từ năm
1740 trong đó nước Pháp liên minh với nước Phổ đánh nhau với nước Áo –
nước Áo liên minh với nước Anh. Quân Pháp vây thành Maestricht, hoà ước
Aix-La-Chapelle (vào tháng 10) bất lợi cho nước Pháp vì bị buộc phải hoàn
trả những đất đai đã chiếm cứ được. Tại Ấn Độ, Dupleix tiếp tục chính sách
thôn tính còn La Bourdonnais bị triệu hồi về Pháp và bị giam tại ngục La
Bastille cùng bị cáo tội mưu phản vì những hành động của y hồi chiếm thành
phố Madras, ở Anh Cát Lợi, ảnh hưởng của William Pit càng ngày càng gia
tăng, mặc dầu lúc đó William Pit chỉ là một chi phó viên của thủy quân.
Về văn chương
Voltaire – ủy viên Viện Hàn lâm Pháp, sứ thần tại nước Pháp từ năm
1746, lúc thì ở Paris, lúc thì ở lâu đài Cirey, lúc lại ở tại triều đình Lunéville.
Voltaire cho trình diễn bi kịch “Sémiramis”. Diderot đang soạn thảo bộ
“Bách khoa từ điển” thì gặp gỡ J. J. Rousseau và kết giao với nhà văn này.
Quyển đầu của cuốn “Bác vật học” (Histoire naturelle) của Buffon được ấn
hành. Lesage và Vauvenargues qua đời (1747). Marivaux không viết thêm
được vở tuồng nào kể từ năm 1740. Văn chương Anh Cát Lợi được hoan
nghênh: La Place dịch cuốn “Các kịch bản Anh Cát Lợi” (1745-1748), trong
đó có những kịch bản của Shakespeare.
Về mỹ thuật
Về hội họa, Boucher được bà De Pompadour nâng đỡ, Boucher còn là
họa sĩ được hoan nghênh. Kể từ năm 1740, người ta đã tán thưởng chủ nghĩa
tả chân của Chardin. Các nhà hội họa chân dung Quentin de la Tour và
Nattier vẽ chân dung tất cả các vĩ nhân của thời đại… Về điêu khắc,
Bouchardon, nhà thiết kế kiến trúc “bể nước bốn mùa ở phố” Grenelle, tạc
tượng vua Louis XV; J. B. Lemoyne tạc tượng bán thân của Voltaire. Kiến
trúc sư Héré hoàn thành công trường Stanislas ở Nancy. Một xưởng chế tạo
đồ sứ được thiết lập tại lâu đài Vincenne.
II. Montesquieu soạn thảo và xuất bản
sách tinh thẩn pháp luật
Trong bài tựa tác phẩm của Montesquieu có nói rằng ông đã mất hai
mươi năm làm việc để soạn cuốn sách này. Thực ra, ngay trong cuốn “Lettres
persanes” (Những bức thư Ba Tư), người ta đã thấy bằng chứng là
9
Montesquieu lưu ý rất sớm tới những vấn đề trọng đại , liên quan đến bản
chất luật pháp, việc tạo thành luật lệ, sự tiến triển của các thứ luật cùng mối
tương quan giữa pháp luật và phong tục, chế độ cùng tôn giáo. Trong cuốn
khái luận ngắn ngủi “Khảo về chính trị* (De la politique), có lẽ được viết
năm 1723, ta cũng thấy những mối bận tâm này rất là tự nhiên nơi một luật
gia rất thiết tha với nghề nghiệp của mình, mặc dầu không tỏ vẻ tha thiết.
Nhưng mà hình như là vào các năm 1728-1729, Montesquieu mới nghĩ một
cách rõ rệt tới việc định phân tích trong toàn thể một tác phẩm, những lý do
đã khiến cho các luật pháp bất đồng trong các nước. Như vậy, Montesquieu
đã có ý định viết sách “Tinh thần pháp luật”, vào những năm mà ông du lịch
tại lục địa Âu châu và sang Anh Cát Lợi. Sau đó, từ năm 1729 đến năm 1748,
tác phẩm này đã được sửa soạn như thế nào? Các học giả thử tìm kiếm
những giai đoạn của công trình lâu dài ấy, nhưng vì không có tài liệu và bằng
cớ, họ chỉ đi tới những giả thuyết, chứ không đi tới những kết quả xác thực.
Điều mà gắn như chắc chắn là việc MontGsquisu chỉ bắt đầu soạn thảo cuốn
“Tinh thần pháp luật” sau khi đã viết xong cuốn “Khảo về nguyên nhân sự
cường thịnh và sự suy vong của người La Mã” (1734).
Chính quyển đầu có lẽ được soạn thảo từ năm 1734 đến năm 1738, ba
quyển kế tiếp, từ năm 1738 đến nãm 1740.
Theo một bức thư đề ngày 20-12-1741 của Montesquieu gửi cho bạn ông
ở Bordeaux là ông Chánh án Borbot thì công việc soạn thảo tác phẩm tiến
hành đều đều và bộ sách sẽ gồm 24 quyển. Nhưng sau đó ít lâu, ngày 2-21742 Montesquieu lại nói tới những mối ưu tư của ông về tác phẩm ấy, càng
viết nhiều cuốn sách càng phát triển. Montesquieu ở tại lâu đài La Brède
trong tất cả những năm từ 1743 đến 1745 để soạn thảo lần cuối cùng tác
phẩm của ông; cuối năm 1746, cuốn sách lên tới 30 quyển. Rốt cuộc đến
tháng 10 năm 1748, khi cuốn “Tinh thần pháp luật” được Nhà xuất bản
Barillot cho ấn hành tại Genève, thì tác phẩm này gồm 31 quyển, họp thành
hai tập nhỏ, tất cả ước 1000 trang. Đó là kết quả của một công trình lâu dài,
khiến cho sức khoẻ của tác giả đã vì thế mà suy nhược rất nhiều.
Sách “Tinh thần pháp luật” nhanh chóng được hoan nghênh. Vào lần
xuất bản đầu tiên, cuốn sách này đã được giấu giếm đưa qua biên giới, nhưng
không gặp sự khó khăn nào; tiếp theo đó còn nhiêu lần tái bản nữa, có lần
được in ở Pháp, mặc dầu không được phép cho in, nhưng các nhà chức trách
đã làm ngơ để cho in.
Nếu ta bằng vào lời của chính Montesquieu thì đầu năm 1750, sách
“Tinh thần pháp luật” đã được xuất bản tới 22 lần, kể cả một bản dịch ra
tiếng Anh và một bản dịch ra tiếng Italia.
Trong giới triết gia, người ta hoan nghênh nhiệt liệt tác phẩm cùa
Montesquieu. Chỉ có Helvétius, mặc dầu cũng đồng thanh khen ngợi cuốn
sách ấy theo phép lịch sự, nhưng ông lại cho rằng, tốt hơn là tìm kiếm nền
tảng cho một trật tự mới, chứ không nên giải thích những định chế đã lỗi
thời. Chỉ có các giới thuộc Giáo hội là phần nhiều chỉ trích sách của
Montesquieu: “Trévoux nhật báo” – cơ quan của dòng Gia tô, hồi tháng 4
năm1749, chỉ trích một cách ôn hoà vài chương của cuốn “Tinh thần pháp
10
luật”; còn tạp chí “Tin tức Giáo hội” có khuynh hướng Janséniste thì đả
kích tác phẩm này một cách kịch liệt hơn. Người ta tố cáo Montesquieu là kẻ
vô đạo, là kẻ bênh vực tôn giáo tự nhiên và thần giáo.
Người ta bài bác mạnh nhất là những chương trong cuốn sách có vẻ
muốn chứng minh rằng tôn giáo là một hiện tượng xã hội, tuy thuộc phong
tục, khí hậu, tình trạng chính trị. Để trả lời bọn người dèm pha,
Montesquieu cho xuất bản vào tháng 2 năm 1750 bài “Để bênh vực cuốn
Tinh thần pháp luật”, trong đó chứng minh rằng tác phẩm của ông chỉ đê
cập tới các tôn giáo giả tạo và những lời kết luận của ông không liên quan tới
Cơ Đốc giáo. Câu trả lời của Montesquieu không đủ sức thuyết phục nổi
những người phản đối ông. Và cũng không khiến cho “Kiểm duyệt Thánh
11
hội” được hài lòng. Vì vậy, Thánh hội này đã quyết định lên án tác phẩm
của Montesquieu thông qua sắc lệnh ngày 29-1-1751. Đại học viện Sorbonne
cũng xem xét cuốn “Tinh thần pháp luật”, yêu cầu tác giả giải thích lập
trường của mình, và (từ năm 1752) đã dự thảo một bản kiểm duyệt tác
phẩm, nhưng bản này không bao giờ được công bố. Trong những năm cuối
đời, những mối phiền nhiễu ấy đã khiến cho Montesquieu lo nghĩ nhiều,
chắc chắn là ông đã sửa chữa lại nguyên cảo của mình. Điều đó ta thấy rõ
trong lần tác phẩm được tái bản năm 1757, sau khi ông qua đời vì các sự sửa
chữa ấy, tác phẩm đã khiến cho giáo hội được hài lòng. Phải chăng do đó mà
kết luận rằng, Montesquieu là một triết gia khôn ngoan, hay ông là một tín
đồ Cơ Đốc giáo thành thực, đã khiếp sợ những lời chú giải thiên lệch của
người ta đối với tác phẩm của ông? Đó là hai lối giải thích đã được đề nghị để
cắt nghĩa những sự sửa chữa trong tác phẩm của Montesquieu.
III. Cách bố cục sách tinh thần pháp luật
Sách “Tinh thần pháp luật” gồm có 31 quyển, trước kia Montesquieu
nhập các quyển ấy lại và chia ra thành sáu phần, về sau ông không phân chia
tác phẩm của ông như thế nữa, dù sao, lối phân chia đó cũng còn quan hệ.
Trong phần thứ nhất (từ quyển I đến quyển VIII), sau khi đã xác định sơ
lược rằng luật pháp l...
TINH THẦN PHÁP LUẬT
Nguyên tác: De l'Esprit des Lois
Tác giả: Montesquieu
Người dịch: Hoàng Thanh Đạm
Nhà xuất bản: NXB Lý luận Chính trị
Năm xuất bản: Hà Nội, 2006
Làm ebook: Nguyễn Tuấn Linh
Ngày hoàn thành: 18/5/2016
Ebook miễn phí tại : www.Sachvui.Com
MỤC LỤC
LỜI NGƯỜI DỊCH
TIỂU SỬ MONTESQUIEU
TIỂU DẪN
I. Những việc đã xảy ra vào năm 1748
II. Montesquieu soạn thảo và xuất bản sách tinh thẩn pháp luật
III. Cách bố cục sách tinh thần pháp luật
IV. Những nguồn gốc của sách tinh thần pháp luật
V. Đối tượng và phương pháp của sách tinh thần pháp luật
VI. Ảnh hưởng của sách tinh thần pháp luật
LỜI CẦU NGUYỆN CÁC NỮ THẦN ĐỒNG TRINH TRÊN NÚI
PIERIE
LỜI TỰA
LỜI NÓI ĐẦU
QUYỂN I: BÀN VỀ LUẬT PHÁP NÓI CHUNG
Chương 1: Luật pháp trong mối tương quan với các sự vật
Chương 2: Luật của thiên nhiên
Chương 3: Các luật thực tiễn
QUYỂN II: PHÁP LUẬT RÚT TRỰC TIẾP TỪ TRONG BẢN
CHẤT CỦA CHÍNH TRỊ
Chương 1: Bản chất của ba chính thể khác nhau
Chương 2: Chính phủ cộng hoà và các luật liên quan đến dân chủ
Chương 3: Các luật liên quan đến bản chất nhà nước quý tộc
Chương 4: Các luật liên quan đến bản chất nhà nước quân chủ
Chương 5: Các luật liên quan đến bản chất nhà nước chuyên chế
QUYỂN III: BÀN VỀ NHỮNG NGUYÊN TẮC CỦA BA LOẠI
CHÍNH THỂ
Chương 3: Nguyên tắc của chính thể dân chủ
Chương 7: Nguyên tắc của chính thể quân chủ
Chương 9: Nguyên tắc của chính thể chuyên chế
Chương 11: Suy nghĩ về những điều nói trên
QUYỂN IV: LUẬT VỀ GIÁO DỤC PHẢI TƯƠNG ỨNG VỚI
NGUYÊN TẮC CỦA CHẾ ĐỘ
Chương 1: Về luật giáo dục
Chương 2: Giáo dục trong chính thể quân chủ
Chương 3: Giáo dục trong chính thể chuyên chế
Chương 4: Sự khác nhau giữa tác dụng giáo dục của người xưa với chúng ta ngày
nay
Chương 5: Giáo dục trong chính thể cộng hoà
QUYỂN V: CÁC LUẬT DO NHÀ LẬP PHÁP ĐƯA RA PHẢI
TƯƠNG ỨNG VỚI NGUYÊN TẮC CỦA CHÍNH THỂ
Chương 1: Ý tưởng của quyển V
Chương 2: Đạo đức là gì trong nhà nước chính trị
Chương 3: Thế nào là lòng yêu mến nền cộng hoà trong chính thể dân chủ
Chương 4: Người ta cảm nhận lòng yêu bình đẳng và nếp sống thanh đạm như thế
nào
Chương 5: Trong chính thể dân chủ, luật pháp thiết lập sự bình đẳng như thế nào
Chương 6: Trong chính thể dân chủ, luật pháp duy trì tính thanh đạm như thế nào
Chương 11: Cái hay của chính thể quân chủ
Chương 12: Tiếp chủ đề trên
Chương 13: Ý niệm về chính thể chuyên chế
Chương 14: Trong chính thể chuyên chế, các luật liên quan với nhau như thế nào
Chương 17: Những quà cáp
QUYỂN VI: HỆ QUẢ CỦA NGUYÊN TẮC TRONG MỐI LIÊN
QUAN ĐẾN VIỆC ĐƠN GIẢN HÓA CÁC LUẬT DÂN SỰ, HÌNH SỰ,
HÌNH THỨC XÉT XỬ VÀ PHƯƠNG THỨC TRỪNG PHẠT
Chương 3: Trong chính thể nào và trong trường hợp nào người ta phán xử theo
đúng văn bản luật pháp
Chương 4: Phương pháp xác lập sự phán xét
Chương 10: Các luật cổ xưa ở Pháp
Chương 13: Sự bất lực của luật pháp Nhật Bản
Chương 14: Tinh thần của Viện Nguyên lão ở Rome
Chương 16: Tỷ lệ công bằng giữa hình phạt và tội phạm
Chương 17: Tra tấn hay hỏi cung người phạm tội
Chương 18: Phạt tiền và phạt thân thể
Chương 19: Về luật miếng trả miếng
Chương 20: Phạt cha vì tội của con
QUYỂN VII: HỆ QUẢ CỦA CÁC NGUYÊN TẮC KHÁC NHAU
TRONG BA CHÍNH THỂ LIÊN QUAN TỚI LUẬT HẠN CHẾ XA HOA
VÀ ĐIỀU KIỆN PHỤ NỮ
Chương 1: Về sự xa hoa
Chương 7: Hệ quả tai hại của tệ xa hoa ở Trung Hoa
Chương 17: Phụ nữ cầm quyền cai trị
QUYỂN VIII: SỰ SA ĐOA TRONG NGUYÊN TẮC CỦA BA
LOẠI CHÍNH THỂ
Chương 1: Ý chung của quyển này
Chương 2: Sự sa đọa trong nguyên tắc của chính thể dân chủ
Chương 3: Tinh thần bình đẳng cực đoan
Chương 5: Sự sa đọa trong nguyên tắc của chính thể quý tộc
Chương 6: Sự sa đọa trong nguyên tắc của chính thể quân chủ
Chương 7: Tiếp chủ đề trên
Chương 10: Sự sa đọa trong nguyên tắc của chính thể chuyên chế
QUYỂN IX: PHÁP LUẬT TRONG QUAN HỆ VỚI LỰC LƯỢNG
PHÒNG THỦ
Chương 1: Các nước cộng hoà có được an ninh bằng cách nào
Chương 6: Về lực lượng phòng thủ của các quốc gia nói chung
QUYỂN X: CÁC LUẬT TRONG QUAN HỆ VỚI LỰC LƯỢNG
TẤN CÔNG
Chương 1: Bàn về lực lượng tấn công
Chương 2: Bàn về chiến tranh
Chương 3: Bàn về quyền chinh phục
Chương 4: Một vài điều lợi của dân tộc bị chinh phục
QUYỂN XI: CÁC LUẬT TẠO RA TỰ DO CHÍNH TRỊ TRONG
MỐI QUAN HỆ VỚI HIẾN PHÁP
Chương 1: Ý chung
Chương 2: Các định nghĩa dùng cho từ tự do
Chương 3: Thế nào là tự do
Chương 6: Hiến pháp nước Anh
Chương 9: Cách suy nghĩ của Aristote
Chương 11: Các vua trong thời đại anh hùng của Hy Lạp xưa
Chương 12: Sự cai trị của các vua Rome và ba thứ quyền lực được phân phối như
thế nào
Chương 13: Suy nghĩ chung về nhà nước Rome sau khi xoá bỏ vua
QUYỂN XII: CÁC LUẬT TẠO RA TỰ DO CHÍNH TRỊ TRONG
MỐI QUAN HỆ VỚI CÔNG DÂN
Chương 1: Ý chính của quyển này
Chương 2: Tự do của người công dân
Chương 3: Tiếp chủ đề trên
Chương 7: Tội chống vua (Lèse-majesté)
Chương 11: Về chuyện ý nghĩ
Chương 12: Về chuyện lời nói
Chương 13: Về chuyện văn chương
Chương 20: Các luật có lợi cho tự do của công dân nước cộng hoà
QUYỂN XIII: TỰ DO TRONG QUAN HỆ GIỮA MỨC ĐÓNG
GÓP VỚI SỰ DỒI DÀO CỦA THU NHẬP CÔNG CỘNG
Chương 1: Thu nhập quốc gia
Chương 12: Quan hệ giữa mức đóng góp với tự do
Chương 13: Những người thu thuế
Chương 17: Sự tăng gia quân đội
QUYỂN XIV: PHÁP LUẬT TRONG QUAN HỆ VỚI KHÍ HẬU
TỰ NHIÊN
Chương 1: Ý chung của quyền này
Chương 2: Con người khác nhau tuỳ theo khí hậu như thế nào
Chương 4: Nguyên nhân của sự trì trệ tôn giáo, phong tục, phong cách, pháp luật
ở các nước phương Đông
Chương 12: Các luật chống lại những người tự sát
Chương 14: Các tác động khác nhau của khí hậu
QUYỂN XV: LUẬT NÔ LỆ DÂN SỰ CÓ QUAN HỆ NHƯ THẾ
NÀO VỚI TÍNH CHẤT CỦA KHÍ HẬU
Chương 1: Bàn về nô lệ dân sự
Chương 5: Nô lệ hoá dân da đen
Chương 6: Nguồn gốc thật sự của quyền nô lệ
Chương 7: Nguồn gốc khác của quyền nô lệ
Chương 11: Pháp luật phải làm gì đối với quan hệ nô lệ
QUYỂN XVI: LUẬT VỀ NÔ LỆ TRONG GIA ĐÌNH QUAN HỆ
THẾ NÀO VỚI TÍNH CHẤT KHÍ HẬU
Chương 1: Việc phục dịch trong nhà
Chương 2: Ở các xứ phương nam có sự bất bình đẳng tự nhiên giữa nam và nữ
Chương 4: Tục đa thê và hoàn cảnh của nó
Chương 5: Lý do của luật Malabar
Chương 7: Bình đẳng trong trường hợp đa thê
Chương 15: Ly dị và ruồng bỏ
QUYỂN XVII: CÁC LUẬT PHỤC VỤ CHÍNH TRỊ TRONG
QUAN HỆ VỚI KHÍ HẬU
Chương 1: Về việc phục vụ chính trị
Chương 2: Sự khác nhau giữa các dân tộc về tính dũng cảm
Chương 3: Về khí hậu châu Á
Chương 8: Về thủ đô của vương quốc
QUYỂN XVIII: CÁC LUẬT TRONG QUAN HỆ VỚI TÍNH CHẤT
ĐẤT ĐAI
Chương 1: Tính chất đất đai ảnh hưởng đến luật như thế nào
Chương 5: Dân ở đảo
QUYỂN XIX: PHÁP LUẬT TRONG QUAN HỆ VỚI NHỮNG
NGUYÊN TẮC TẠO RA TÍNH CÁCH CHUNG, TỨC LÀ PHONG TỤC
TẬP QUÁN CỦA DÂN TỘC
Chương 4: Tính cách chung là gì
Chương 5: Chớ thay đổi tính cách chung của một dân tộc
Chương 9: Tính khoe khoang và kiêu căng của các dân tộc
Chương 13: Tập quán của người Trung Hoa
Chương 17: Đặc điểm riêng của chính thể Trung Hoa
Chương 18: Hệ quả của chương trên
Chương 19: Tôn giáo, pháp luật, phong tục tập quán hoà nhập như thế nào ở
Trung Hoa
Chương 20: Giải thích một nghịch lý về người Trung Hoa
QUYỂN XX: XÉT VỀ BẢN CHẤT VÀ ĐẶC ĐIỂM CÁC LUẬT
TRONG QUAN HỆ VỚI THƯƠNG MẠI
Chương 1: Bàn về thương mại
Chương 2: Tinh thần thương mại
Chương 5: Các dân tộc đã từng làm kinh tế thương mại
Chương 7: Tinh thần thương mại của nước Anh
Chương 13: Cái gì phá hoại tự do thương mại
Chương 19: Vua chúa và công hầu không nên buôn bán
Chương 20: Tiếp chủ đề trên
QUYỂN XXI: PHÁP LUẬT TRONG MỐI QUAN HỆ VỚI
THƯƠNG MẠI KHI CÓ CÁC CUỘC BIẾN ĐỔI LỚN TRÊN THẾ GIỚI
Chương 4: Điều khác biệt chính yếu giữa thương mại xưa và nay
Chương 5: Những điều dị biệt nữa
Chương 21: Phát hiện hai thế giới mới và tình trạng châu Âu trước sự kiện này
QUYỂN XXII: PHÁP LUẬT TRONG QUAN HỆ VỚI VIỆC SỬ
DỤNG TIỀN TỆ
Chương 1: Lý do của việc dùng tiền tệ
Chương 2: Bản chất của tiền tệ
Chương 21: Cho vay qua hợp đồng và cho vay nặng lãi ở Rome
Chương 22: Tiếp chủ đề trên
QUYỂN XXIII: PHÁP LUẬT TRONG QUAN HỆ VỚI DÂN SỐ
Chương 1: Người và loài vật trong vấn đề tăng nòi giống
Chương 16: Các quan điểm của nhà lập pháp trong vấn đề sinh sôi nòi giống
Chương 24: Những biến thiên ở châu Âu liên quan đến dân số
Chương 25: Tiếp chủ đề trên
Chương 26: Hệ quả
Chương 27: Luật ở nước Pháp khuyến khích tăng gia dân số
Chương 28: Có thể cứu vãn tình trạng giảm sút dân số như thế nào
Chương 29: Các viện cứu tế (Des Hôpitaux)
QUYỂN XXIV: PHÁP LUẬT TRONG TƯƠNG QUAN VỚI TÔN
GIÁO Ở CÁC NƯỚC
Chương 1: Các tôn giáo nói chung
Chương 2: Nghịch lý của Bayle
Chương 3: Chính thể ôn hoà thích hợp với đạo Thiên Chúa. Chính thể chuyên chế
thích hợp với đạo Hồi
Chương 4: Kết quả của tính chất đạo Thiên Chúa và tính chất đạo Hồi
Chương 5: Thiên Chúa giáo (Catholique) thích hợp ở một nước quân chủ, Cơ Đốc
tân giáo (Protestant) thích hợp ở một nước cộng hoà
Chương 10: Môn phái khắc kỷ
Chương 15: Các luật dân sự đôi khi uốn nắn lỗi lầm tôn giáo
Chương 16: Các luật của tôn giáo uốn nắn điều bất tiện trong thể chế chính trị
QUYỂN XXV: PHÁP LUẬT TRONG QUAN HỆ VỚI VIỆC
THIẾT LẬP TÔN GIÁO Ở MỖI NƯỚC VÀ CHÍNH SÁCH ĐỐI NGOẠI
CỦA TÔN GIÁO
Chương 1: Tình cảm tôn giáo
Chương 3: Các đền chùa
Chương 8: Toà thánh Giáo chủ
Chương 9: Sự khoan dung về tôn giáo
Chương 10: Tiếp chủ đề trên
Chương 12: Luật hình phạt
Chương 13: Lời khuyên can rất cung kính trình lên tôn giáo pháp đình Tây Ban
Nha và Bồ Đào Nha
QUYỂN XXVI: PHÁP LUẬT TRONG QUAN HỆ TẤT YẾU VỚI
TRẬT TỰ CÁC SỰ VẬT LÀM CƠ SỞ XÂY DỰNG NÊN PHÁP LUẬT
Chương 1: Ý chính của quyển này
Chương 2: Luật của trời và luật của người
Chương 5: Trường hợp xử theo luật nhân sự, có tham khảo các nguyên tắc của luật
tự nhiên
Chương 13: Trong việc hôn nhân, trường hợp nào nên theo luật tôn giáo, trường
hợp nào nên theo luật dân sự
QUYỂN XXVII: NGUỒN GỐC VÀ CÁC CUỘC CÁCH MẠNG
TRONG LUẬT ROME VỀ QUYỀN THỪA KẾ
Chương duy nhất: Luật Rome về quyền thừa kế
QUYỂN XXVIII: VỀ NGUỒN GỐC VÀ NHỮNG CUỘC CÁCH
MẠNG TRONG CÁC LUẬT CỦA NGƯỜI PHÁP
Chương 17: Cách suy nghĩ của ông cha chúng ta
Chương 20: Nguồn gốc của vấn đề danh diện
Chương 42: Sự phục hưng luật Rome và hậu quả sự đổi thay trong các toà án
Chương 43: Tiếp chủ đề trên
Chương 45: Về phong tục nước Pháp
QUYỂN XXIX: CÁCH SOẠN THẢO LUẬT
Chương 1: Tinh thần của người lập pháp
Chương 2: Tiếp chủ đề trên
Chương 3: Những đạo luật có vẻ trái với quan điểm người lập pháp cũng đôi khi
thích hợp
Chương 4: Những đạo luật mâu thuẫn với quan điểm người lập pháp
Chương 5: Tiếp chủ đề trên
Chương 16: Những điều cần chú ý trong việc soạn thảo luật
Chương 19: Về các nhà lập pháp
QUYỂN XXX: LÝ THUYẾT CỦA LUẬT PHONG KIẾN Ở PHÁP
TRONG MỐI TƯƠNG QUAN VỚI VIỆC THIẾT LẬP NỀN DÂN CHỦ
Chương 1: Về các luật phong kiến
Chương 2: Cội nguồn của luật phong kiến
Chương 5: Cuộc chinh phục người Francs
Chương 6: Người Goths, người Bourguignons và người Francs
Chương 7: Nhưng cách chia đất khác nhau
Chương 8: Tiếp chủ đề trên
Chương 9: Vận dụng đúng đắn việc chia đất trong luật Wisigoths và luật
Bourguignons
Chương 10: Về chế độ nô dịch
Chương 11: Tiếp chủ đề trên
Chương 21: Quyền tài phán trong địa vực giáo hội
QUYỂN XXXI: LÝ THUYẾT LUẬT PHÁP PHONG KIẾN CỦA
NGƯỜI FRANCS TRONG MỐI QUAN HỆ VỚI CÁC CUỘC CÁCH
MẠNG TRONG THỜI QUÂN CHỦ
Chương 17: Chuyện riêng tư trong việc bầu các vua dòng thứ hai
Chương 18: Vua Charlemagne
PHẦN PHỤ LỤC
Phụ lục I: Bảo vệ tác phẩm Tinh thần pháp luật
Phụ lục II: Tóm tắt Tinh thần pháp luật của Montesquieu
Phụ lục III: Những lời bình về tác phẩm Tinh thần pháp luật
Phụ lục IV: Những bức thư Ba Tư
Khái quát nội dung Những bức thư Ba Tư
Về nguồn gốc của Những bức thư Ba Tư
Thư số 48 : USBEC gửi RHE'DI ở VENISE
Thư số 52 : RICA gửi USBEC
Thư số 24 : RICA gửi IBBEN ở SMYRNE
Thư số 37 : RICA gửi IBBEN ở SMYRNE
Phụ lục V: Những nhận định về nguyên nhân cường thịnh và suy thoái của ROME
1. Khái quát về sách Nhận định
2. Bảng phân tích sách Nhận định
3. D'Alembert phân tích sách Nhận định
4. Hai chương trong sách Nhận định
Chương IX: Hai nguyên nhân suy vong của Rome
Chương XIII: AUGUSTE
Phụ lục VI: Hai tác phẩm văn học của Montesquieu
1. ARSACE và ISMÉNIE
2. LYSIMAQUE
Phụ lục VII: Chú giải tên riêng
LỜI NGƯỜI DỊCH
Năm 1982, tôi dịch xong cuốn Bàn về Khế ước xã hội (Du Contrat social)
của J. J. Rousseau. Mười năm sau (1992), bản dịch được Nhà xuất bản Thành
phố Hồ Chí Minh ấn hành. Nhiều bạn đọc phản ánh với tôi niềm phấn khởi
lần đầu tiên được đọc bản dịch đầy đủ Contrat social mà trước kia chỉ có
Nguyễn An Ninh lược dịch một chương. Tuy vậy, cũng có bạn gợi ý, đáng lẽ
Thanh Đạm nên dịch Esprit des lois (Tinh thần pháp luật) của Montesquieu,
vì đó là một bộ đôi xây dựng lý thuyết về xã hội công dân và Nhà nước pháp
quyền, dẫn tới cuộc Đại cách mạng Pháp 1789, mà Montesquieu lại là người
đi trước. (“Esprit des lois” ra đời năm 1748, 14 năm sau (1762) mới có
“Contrat social”).
Gợi ý này giúp tôi thấy rõ điều bất cập của mình. Thật ra trước đây tôi
chưa từng đọc “Esprit des lois”.
May sao anh Dương Trung Quốc, hồi miền Nam mới giải phóng, mua
được cuốn Vạn pháp tinh lý – bản dịch Esprit des lois, do Trịnh Xuân Ngạn
dịch thuật, xuất bản tại Sài Gòn năm 1962. Bản dịch này dựa theo sách Esprit
des lois – Extrait có nhiều phần “tiểu dẫn”. Biết tôi đang quan tâm tìm hiểu
vấn đề Khai sáng nên anh Quốc đã tặng tôi cuốn sách này.
Đọc Vạn pháp tinh lý, tôi vui sướng thâu nhận những ý kiến lỗi lạc của
Montesquieu. Nhưng một điều băn khoăn nảy ra, vì sao Nhà xuất bản
Classique Larousse tục bản chỉ có mấy chục chương của “Esprit des lois”? Vậy
thì diện mạo toàn bộ tác phẩm quan trọng này như thế nào? Theo lời tiểu dẫn
trong bản dịch của Trịnh Xuân Ngạn thì “Esprit des lois” gồm 31 quyển, mà ở
đây Nhà xuất bản chỉ in lại 18 quyển, mỗi quyển cũng chỉ trích lấy mấy
chương.
Tuy vẫn chỉ là trích dịch nhưng tôi đã chọn lọc những chương, những đoạn
thực sự cần thiết cho bạn đọc Việt Nam ngày nay. Những chương, đoạn không
dịch thuộc về những vấn đề mà tôi thấy là không cần thiết lắm hoặc không
phù hợp.
Tiêu đề sách “De l'Esprit des lois” tôi đã dịch là “Tinh thần Pháp luật”, nay
đổi lại cho đúng nguyên tác, là “Bàn về Tinh thần pháp luật” như
Montesquieu đã viết. Tôi cũng dịch thêm một số phần có tính chất tiểu dẫn và
phụ lục, được in trong hai cuốn sách “Montesquieu – Pages choisies – Esprit
des lois – Extrait” và “Montesquieu – Pages choisies – Lettres persanes et
Considérations”, nhằm giúp bạn đọc hiểu thêm về tác phẩm “Tinh thần pháp
luật” cũng như quá trình chuẩn bị của Montesquieu trước khi viết tác phẩm
1
và những lời bình luận sau khi tác phẩm ra đời.
Riêng phần tiểu dẫn, về bố cục, soạn thảo, xuất bản, về phương pháp của
Montesquieu và về ảnh hưởng của tác phẩm “Tinh thần pháp luật” thì tôi xin
giữ nguyên những trang dịch của Trịnh Xuân Ngạn. Vì bản dịch này dựa theo
bản tiếng Pháp in năm 1958 (mà tôi không sưu tầm được), so với bản tiếng
Pháp in năm 1934 (mà tôi có trong tay) thì nó cung cấp cho ta nhiều tư liệu và
nhận định phong phú hơn. Tôi chỉ thay thuật ngữ “Vạn pháp tinh lý” bằng
2
“Tinh thần pháp luật” . Trong lần tái bản năm nay (2004) tôi phải dịch bổ
sung Chương 3 và Chương 4 Quyển II (trích dịch và bổ sung) vào phần Phụ lục
một bài nghiên cứu của tôi: “Tóm tắt Tinh thần pháp luật của Montesquieu”
để phục vụ bạn đọc tốt hơn.
Vì tò mò khoa học, thích thú tìm hiểu các nhà Khai sáng Pháp, và muốn
góp phần nhỏ bé vào việc giao lưu văn hoá Việt – Pháp trong giai đoạn đất
nước đã vươn lên đổi mới, nên tôi đã dịch sách này với tất cả cố gắng và nhiệt
tâm. Nhưng chắc rằng khó tránh khỏi thiếu sót. Xin sẵn sàng tiếp thu sự chỉ
bảo của bạn đọc.
Hà Nội, mùa thu 2004
HOÀNG THANH ĐẠM
TIỂU SỬ MONTESQUIEU
3
Và những sự kiện trọng đại trong thời đại của ông
Charles de Secondat – nam tước de La Brède – Montesquieu ra đời
ngày 18 tháng 1 năm 1689, đúng trước một thế kỷ cuộc đại cách mạng tư sản
Pháp nổ ra tại lâu đài La Brède gần Bordeaux ở tây nam nước Pháp, trong
một gia đình dòng dõi quý tộc.
Cùng năm:
– Nhà văn Racine trình diễn lần đầu vở kịch Esther.
– Ở Nga, Pierre Đại đế (lên ngôi từ năm 1682) bắt đầu thực hiện
chương trình cách tân, học tập văn minh phương Tây, cải tạo tình trạng
lạc hậu, cổ hủ của nước Nga.
4
* Năm 1696: người mẹ qua đời .
* Năm 1700: theo học với các giáo sĩ thuộc Giáo đoàn “Oratoire” ở Juilly.
Ông học chữ Latinh giỏi hơn chữ Hy Lạp.
* Năm 1705-1708: học luật ở thành phố Bordeaux.
* Năm 1709: lên Paris tiếp tục học tập.
Cùng năm:
– Vua Louis XIV giải tán tu viện Post Royal des champs.
– Vua Charles VII (Thụy Điển) thua Nga trong trận Poltava.
* Năm 1713: người cha qua đời.
* Năm 1714: được cử làm nghị sĩ tại Nghị viện Bordeaux.
Cùng năm:
– Fénelon viết “Thư gửi Viện Hàn lâm Pháp”.
– Houdart de la Motte địch “llliade” và giải bài về Homère.
* Năm 1715: cưới vợ.
5
* Năm 1716: thay thế ông chú , giữ chức vụ chánh án5 Bordeaux; được cử
làm viện sĩ Viện Hàn lâm Bordeaux (thành lập từ 1712); đọc luận văn về
“Chính sách tôn giáo của người Rome” và luận văn “Ký ức về các lần quốc
trái”.
Cùng năm:
– Cuộc tranh luận thứ hai giữa phái Cổ điển và phái Tân tiến kết
thúc; rạp hát “Hài kịch Italia” được mở cửa trở lại.
– Nhà tài chính Law thiết lập ngân hàng đầu tiên.
– Hoà ước Pháp – Anh được ký kết tại La Haye.
6
* Năm 1718 : thiết lập giải thưởng về khoa học giải phẫu; đọc các báo cáo
khoa học “Về tiếng vang”, “Công dụng của các hạch ở thận”, “Tính trong
suốt của vật thể”, “Lịch sử trái đất cổ xưa và hiện đại”.
Cùng năm:
– F. M. Arouet lấy tên là Voltaire cho diễn vở kịch đầu tiên “Oedipe”
của ông.
– Ngân hàng Law được công nhận là ngân hàng quốc gia.
7
* Năm 1721: xuất bản “Những bức thư Ba Tư” (Lettres Persanes) , không
ghi tên tác giả. Sách được hoan nghênh, tái bản bốn lần trong năm đó, có kẻ
in lậu nữa. Ông trở thành nhân vật nổi tiếng từ đấy và thường lui tới phòng
khách của phu nhân De Lambert, gia nhập câu lạc bộ “Entresol” – một thứ
hàn lâm viện tự do, để cùng nhau nghiên cứu các vấn đề khoa học về đạo đức
và chính trị. Câu tạc bộ này có sự tham gia của linh mục (Saint Pierre
d'Argention).
Cùng năm:
– Chính phủ Pháp mở cuộc điều tra về ngân hàng Law (hiện tượng
thua lỗ).
– Hiệp ước đồng minh Pháp – Anh – Tây Ban Nha được ký kết.
* Năm 1722: trình bày bài “Đối thoại giữa Sylla và d'Eucrate”.
* Năm 1723: xuất bản tác phẩm “Bàn về chính trị” (De la politique).
* Năm 1724: xuất bản tác phẩm “Suy nghĩ về chính thể quân chủ phổ
thông” (Réflexions sur la monarchie universelle).
* Năm 1725: xuất bản tiểu thuyết “Đền thờ Gnide” (La temple de Gnide)
– tiểu thuyết trữ tình.
Cùng năm:
– Marivaux xuất bản “Hòn đảo và những người nô lệ” (L'ile des
esclaves).
– Voltaire trình diễn vở bi kịch “Hérode và Marie”.
– Bang giao Pháp – Tây Ban Nha trở nên căng thẳng.
– Vua Pierre Đại đế ở Nga băng hà.
* Năm 1726: thôi giữ chức vụ Chánh án Bordeaux mà trước đây ông đã
làm thế chân ông chú mình.
* Năm 1727: xuất bản tiểu thuyết trữ tình ngắn “Du lịch ở Paphos” (Le
voyage à Paphos); được bầu làm Viện sĩ Viện Hàn lâm nước Pháp ngày 2212-1727.
* Năm 1728: du lịch qua các nước Áo, Hung, Ý, Thụy Sĩ, Hà Lan.
Cùng năm:
– Voltaire viết “Nàng Hăngriađơ” (La Henriade).
– J. J. Rousseau sống ở Turin.
– Marivaux viết “Điều bất ngờ thứ hai trong tình yêu” (La seconde
surprise de l'amour).
– Georges II lên ngôi ở Anh.
– Phát hiện ra eo biển Béring.
* Năm 1729: sang Anh sống hai năm, ở nhà Lord Chesterfield; được nhận
làm thành viên Hiệp hội Hoàng gia Anh tại Luân Đôn.
Cùng năm:
– Voltaire từ Anh trở về Paris.
– J. J. Rousseau làm việc tại nhà mệnh phụ De Varen.
– Hoà ước Sicile được ký kết giữa Pháp – Anh – Hà Lan – Tây Ban
Nha.
* Năm 1731: trở về Pháp, đọc nhiều báo cáo tại Viện Hàn lâm Bordeaux
(các văn bản này đều đã thất lạc). Sau đó ông lui về ở lâu đài Brède.
Cùng năm:
– Voltaire viết “Lịch sử vua Charles VII”.
– Linh mục Prévost viết tiểu thuyết “Manon Lescaut”.
– Dainel De Foe qua đời.
* Năm 1734: xuất bản sách “Nhận định về nguyên nhân thịnh đạt và suy
thoái của Rome” (Considérations sur les causes de la gradeur des Romains et
de leur décadence); kết giao với linh mục Castel, người trở thành cộng tác
viên đắc lực của ông.
Cùng năm:
– Voltaire ra sách “Thư tín triết học” (Lettres philosophiques).
– Bach (Jean Sébastien), nhạc sĩ thiên tài người Đức soạn bản giao
hưởng nổi tiếng “Oratoire de Noel”.
– Chiến tranh kế vị ở Ba Lan.
– Quân Pháp thắng trận ở Parme và Guastalla (Italia).
* Năm 1741-1747: tập trung toàn lực nghiên cứu, soạn thảo tập sách lớn
“Tinh thần pháp luật”. Phần lớn thời gian sống ở lâu đài Brède, ông làm việc
quá sức đến nỗi gần như bị loà mắt.
* Năm 1748: xuất bản sách “Tinh thần pháp luật” ở Genève, in thành 2
tập, có một loại in thành 3 tập, khoảng 1000 trang.
Cùng năm:
– Voltaire viết truyện “Zadig”.
– Diderot kết bạn chí thân với J. J. Rousseau.
– Richardson (ở Anh) viết tiểu thuyết “Clarisse Harlowe”.
* Năm 1749: bị công kích: Tạp chí Nouvelles Ecclésiastiques (Tin Giáo
hội) viết bài phê phán Tinh thần pháp luật, coi tác giả là thuộc phái thần giáo
(déiste).
Cùng năm:
– Diderot cho ra “Thư viết về những người mù” (Lettres sur les
aveugles).
– Buffon viết “Lịch sử tự nhiên” (Histoire naturelle), bị trường
Sorbonne bác bỏ thuyết của ông về trái đất.
* Năm 1750: trả lời những người Jansénistes bằng tác phẩm luận chiến
“Bảo vệ Tinh thần pháp luật” (Défense de l'Esprit des lois).
Cùng năm:
– J. J. Rousseau viết “Khảo luận về các khoa học và nghệ thuật”
(Discours sur les sciences et les arts).
– Voltaire sang thăm nước Phổ.
– Dupleix, toàn quyền Pháp ở Ấn Độ giành thắng lợi trong việc tranh
chấp với Anh. Thiết lập quyền bảo hộ của Pháp ở vùng Carnatic.
* Năm 1751: viết truyện cổ tích “Lysimaque” đăng tạp chí “Le Mercure”.
Cùng năm:
– Voltaire viết “Thế kỷ của Louis XIV” (Le siècle de Louis XIV).
– Diderot xuất bản quyển “Bách khoa toàn thư”.
– Nổ ra cuộc bút chiến quanh bài “Khảo luận về khoa học và nghệ
thuật” của J. J. Rousseau.
* Năm 1752: sách “Tinh thần pháp luật” bị cơ quan kiểm duyệt của Toà
thánh Rome phê bình một cách ôn hoà. Trường Sorbonne cũng giám định
tác phẩm này nhưng không tuyên bố gì chính thức. Nhưng Chính phủ Pháp
ban hành lệnh cấm lưu hành sách “Tinh thần pháp luật” (lệnh ra ngày 29-111751).
Cùng năm:
– Viết bài: “Hứng thú với Bách khoa toàn thư” (Gout pour
L'Encyclopédie).
* Năm 1754: viết truyện cổ tích huyền thoại “Arsace và Isménie”.
Cùng năm:
– Condillac “Nghị luận về cảm xúc” (Traité des sensations).
– J. J. Rousseau khởi công xây dựng công trường Vua Louis XV.
– Toàn quyền Dupleix rời bỏ Ấn Độ.
* Năm 1755: qua đời ngày 10 tháng 2, để lại nhiêu nguyên cảo trong đó
có tập “Những tư tưởng của tôi” (Mes pensées), thọ 56 tuổi.
Cùng năm:
– J. J. Rousseau viết “Khảo luận về sự bất bình đẳng” (Discours sur
l'inégalité).
– Quân đội Anh và Mỹ chiếm đóng xứ Arcadie.
– Liên lạc ngoại giao giữa Anh và Pháp bị cắt đứt.
TIỂU DẪN
Về quá trình Montesquieu chuẩn bị soạn thảo Tinh
8
thần pháp luật
I. Những việc đã xảy ra vào năm 1748
(Khi “De l'Esprit des lois” ra đời)
Về chính trị
Những hồi cuối cùng của trận chiến tranh kế vị tại nước Áo, khởi từ năm
1740 trong đó nước Pháp liên minh với nước Phổ đánh nhau với nước Áo –
nước Áo liên minh với nước Anh. Quân Pháp vây thành Maestricht, hoà ước
Aix-La-Chapelle (vào tháng 10) bất lợi cho nước Pháp vì bị buộc phải hoàn
trả những đất đai đã chiếm cứ được. Tại Ấn Độ, Dupleix tiếp tục chính sách
thôn tính còn La Bourdonnais bị triệu hồi về Pháp và bị giam tại ngục La
Bastille cùng bị cáo tội mưu phản vì những hành động của y hồi chiếm thành
phố Madras, ở Anh Cát Lợi, ảnh hưởng của William Pit càng ngày càng gia
tăng, mặc dầu lúc đó William Pit chỉ là một chi phó viên của thủy quân.
Về văn chương
Voltaire – ủy viên Viện Hàn lâm Pháp, sứ thần tại nước Pháp từ năm
1746, lúc thì ở Paris, lúc thì ở lâu đài Cirey, lúc lại ở tại triều đình Lunéville.
Voltaire cho trình diễn bi kịch “Sémiramis”. Diderot đang soạn thảo bộ
“Bách khoa từ điển” thì gặp gỡ J. J. Rousseau và kết giao với nhà văn này.
Quyển đầu của cuốn “Bác vật học” (Histoire naturelle) của Buffon được ấn
hành. Lesage và Vauvenargues qua đời (1747). Marivaux không viết thêm
được vở tuồng nào kể từ năm 1740. Văn chương Anh Cát Lợi được hoan
nghênh: La Place dịch cuốn “Các kịch bản Anh Cát Lợi” (1745-1748), trong
đó có những kịch bản của Shakespeare.
Về mỹ thuật
Về hội họa, Boucher được bà De Pompadour nâng đỡ, Boucher còn là
họa sĩ được hoan nghênh. Kể từ năm 1740, người ta đã tán thưởng chủ nghĩa
tả chân của Chardin. Các nhà hội họa chân dung Quentin de la Tour và
Nattier vẽ chân dung tất cả các vĩ nhân của thời đại… Về điêu khắc,
Bouchardon, nhà thiết kế kiến trúc “bể nước bốn mùa ở phố” Grenelle, tạc
tượng vua Louis XV; J. B. Lemoyne tạc tượng bán thân của Voltaire. Kiến
trúc sư Héré hoàn thành công trường Stanislas ở Nancy. Một xưởng chế tạo
đồ sứ được thiết lập tại lâu đài Vincenne.
II. Montesquieu soạn thảo và xuất bản
sách tinh thẩn pháp luật
Trong bài tựa tác phẩm của Montesquieu có nói rằng ông đã mất hai
mươi năm làm việc để soạn cuốn sách này. Thực ra, ngay trong cuốn “Lettres
persanes” (Những bức thư Ba Tư), người ta đã thấy bằng chứng là
9
Montesquieu lưu ý rất sớm tới những vấn đề trọng đại , liên quan đến bản
chất luật pháp, việc tạo thành luật lệ, sự tiến triển của các thứ luật cùng mối
tương quan giữa pháp luật và phong tục, chế độ cùng tôn giáo. Trong cuốn
khái luận ngắn ngủi “Khảo về chính trị* (De la politique), có lẽ được viết
năm 1723, ta cũng thấy những mối bận tâm này rất là tự nhiên nơi một luật
gia rất thiết tha với nghề nghiệp của mình, mặc dầu không tỏ vẻ tha thiết.
Nhưng mà hình như là vào các năm 1728-1729, Montesquieu mới nghĩ một
cách rõ rệt tới việc định phân tích trong toàn thể một tác phẩm, những lý do
đã khiến cho các luật pháp bất đồng trong các nước. Như vậy, Montesquieu
đã có ý định viết sách “Tinh thần pháp luật”, vào những năm mà ông du lịch
tại lục địa Âu châu và sang Anh Cát Lợi. Sau đó, từ năm 1729 đến năm 1748,
tác phẩm này đã được sửa soạn như thế nào? Các học giả thử tìm kiếm
những giai đoạn của công trình lâu dài ấy, nhưng vì không có tài liệu và bằng
cớ, họ chỉ đi tới những giả thuyết, chứ không đi tới những kết quả xác thực.
Điều mà gắn như chắc chắn là việc MontGsquisu chỉ bắt đầu soạn thảo cuốn
“Tinh thần pháp luật” sau khi đã viết xong cuốn “Khảo về nguyên nhân sự
cường thịnh và sự suy vong của người La Mã” (1734).
Chính quyển đầu có lẽ được soạn thảo từ năm 1734 đến năm 1738, ba
quyển kế tiếp, từ năm 1738 đến nãm 1740.
Theo một bức thư đề ngày 20-12-1741 của Montesquieu gửi cho bạn ông
ở Bordeaux là ông Chánh án Borbot thì công việc soạn thảo tác phẩm tiến
hành đều đều và bộ sách sẽ gồm 24 quyển. Nhưng sau đó ít lâu, ngày 2-21742 Montesquieu lại nói tới những mối ưu tư của ông về tác phẩm ấy, càng
viết nhiều cuốn sách càng phát triển. Montesquieu ở tại lâu đài La Brède
trong tất cả những năm từ 1743 đến 1745 để soạn thảo lần cuối cùng tác
phẩm của ông; cuối năm 1746, cuốn sách lên tới 30 quyển. Rốt cuộc đến
tháng 10 năm 1748, khi cuốn “Tinh thần pháp luật” được Nhà xuất bản
Barillot cho ấn hành tại Genève, thì tác phẩm này gồm 31 quyển, họp thành
hai tập nhỏ, tất cả ước 1000 trang. Đó là kết quả của một công trình lâu dài,
khiến cho sức khoẻ của tác giả đã vì thế mà suy nhược rất nhiều.
Sách “Tinh thần pháp luật” nhanh chóng được hoan nghênh. Vào lần
xuất bản đầu tiên, cuốn sách này đã được giấu giếm đưa qua biên giới, nhưng
không gặp sự khó khăn nào; tiếp theo đó còn nhiêu lần tái bản nữa, có lần
được in ở Pháp, mặc dầu không được phép cho in, nhưng các nhà chức trách
đã làm ngơ để cho in.
Nếu ta bằng vào lời của chính Montesquieu thì đầu năm 1750, sách
“Tinh thần pháp luật” đã được xuất bản tới 22 lần, kể cả một bản dịch ra
tiếng Anh và một bản dịch ra tiếng Italia.
Trong giới triết gia, người ta hoan nghênh nhiệt liệt tác phẩm cùa
Montesquieu. Chỉ có Helvétius, mặc dầu cũng đồng thanh khen ngợi cuốn
sách ấy theo phép lịch sự, nhưng ông lại cho rằng, tốt hơn là tìm kiếm nền
tảng cho một trật tự mới, chứ không nên giải thích những định chế đã lỗi
thời. Chỉ có các giới thuộc Giáo hội là phần nhiều chỉ trích sách của
Montesquieu: “Trévoux nhật báo” – cơ quan của dòng Gia tô, hồi tháng 4
năm1749, chỉ trích một cách ôn hoà vài chương của cuốn “Tinh thần pháp
10
luật”; còn tạp chí “Tin tức Giáo hội” có khuynh hướng Janséniste thì đả
kích tác phẩm này một cách kịch liệt hơn. Người ta tố cáo Montesquieu là kẻ
vô đạo, là kẻ bênh vực tôn giáo tự nhiên và thần giáo.
Người ta bài bác mạnh nhất là những chương trong cuốn sách có vẻ
muốn chứng minh rằng tôn giáo là một hiện tượng xã hội, tuy thuộc phong
tục, khí hậu, tình trạng chính trị. Để trả lời bọn người dèm pha,
Montesquieu cho xuất bản vào tháng 2 năm 1750 bài “Để bênh vực cuốn
Tinh thần pháp luật”, trong đó chứng minh rằng tác phẩm của ông chỉ đê
cập tới các tôn giáo giả tạo và những lời kết luận của ông không liên quan tới
Cơ Đốc giáo. Câu trả lời của Montesquieu không đủ sức thuyết phục nổi
những người phản đối ông. Và cũng không khiến cho “Kiểm duyệt Thánh
11
hội” được hài lòng. Vì vậy, Thánh hội này đã quyết định lên án tác phẩm
của Montesquieu thông qua sắc lệnh ngày 29-1-1751. Đại học viện Sorbonne
cũng xem xét cuốn “Tinh thần pháp luật”, yêu cầu tác giả giải thích lập
trường của mình, và (từ năm 1752) đã dự thảo một bản kiểm duyệt tác
phẩm, nhưng bản này không bao giờ được công bố. Trong những năm cuối
đời, những mối phiền nhiễu ấy đã khiến cho Montesquieu lo nghĩ nhiều,
chắc chắn là ông đã sửa chữa lại nguyên cảo của mình. Điều đó ta thấy rõ
trong lần tác phẩm được tái bản năm 1757, sau khi ông qua đời vì các sự sửa
chữa ấy, tác phẩm đã khiến cho giáo hội được hài lòng. Phải chăng do đó mà
kết luận rằng, Montesquieu là một triết gia khôn ngoan, hay ông là một tín
đồ Cơ Đốc giáo thành thực, đã khiếp sợ những lời chú giải thiên lệch của
người ta đối với tác phẩm của ông? Đó là hai lối giải thích đã được đề nghị để
cắt nghĩa những sự sửa chữa trong tác phẩm của Montesquieu.
III. Cách bố cục sách tinh thần pháp luật
Sách “Tinh thần pháp luật” gồm có 31 quyển, trước kia Montesquieu
nhập các quyển ấy lại và chia ra thành sáu phần, về sau ông không phân chia
tác phẩm của ông như thế nữa, dù sao, lối phân chia đó cũng còn quan hệ.
Trong phần thứ nhất (từ quyển I đến quyển VIII), sau khi đã xác định sơ
lược rằng luật pháp l...
 





